Trương Hồng Quang
Khái niệm phi lí tính được sử dụng ở đây có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất (có thể gọi là nghĩa gốc) được dùng với nội dung như trong bài „Một cuộc chiến chống lại phi lí tính?“
của Nguyễn Kiến Giang (NKG). Khái niệm này ở đó được tác giả triển khai
như một phạm trù để mô tả / giải thích hiện tượng khủng bố. Nghĩa thứ
hai (có thể coi là nghĩa bóng) liên quan đến đặc điểm của quá trình
nhận thức về hiện tượng khủng bố, về tính phi lí của chính hành vi nhận thức. Nghĩa này được gián tiếp đề cập trong bài viết „Tản mạn về biến cố 11 tháng Chín“
của Nguyễn Mộng Giác (NMG). Trong khuôn khổ của bài tham luận này, xin
được giới hạn vào việc bàn về cách đặt vấn đề của tác giả NMG.
Tính chất phi lí của bản thân quá trình nhận thức được NMG trình bày theo một thứ tự như sau: 1) Mọi điều đáng nói đã nói hết, „chúng ta có trực tiếp bàn luận thêm về chuyện này chỉ là lặp lại những gì thiên hạ đã nói. Đó là chưa kể lặp lại không đúng…“ 2) Không những không còn gì để nói (tức phát biểu một chính kiến riêng, đưa ra một phán đoán giá trị độc lập, chủ động tham dự discourse), mà chỉ xét riêng việc biết thôi (tức chỉ xét đến khâu tiếp nhận thông tin một cách bị động, phần reception thuần tuý), thì „chúng ta cũng chỉ biết được những gì chúng ta thích biết“ 3) Không còn gì để nói, ngay cả biết cũng chỉ hướng theo sự thích cảm tính và manh mún, vậy thì „kho kiến thức thông tin và lý luận tìm thấy trên internet không làm được công việc đáng lý nó phải làm…“, có nghĩa là người ta càng „vững tin hơn vào các định kiến có sẵn“.
Chỉ ra một cách không khoan nhượng như vậy ba lần phi lí của tấn kịch nhận thức, liệu về phần mình tác giả sẽ trung thành với nguyên tắc triệt để duy nhất rút ra từ đó là thái độ bất khả tri hay không? Hay liệu „đa số những nhận định của ông đều có vẻ chắc nịch, và đều liên quan tới ‚đại sự’…“, như ý kiến của một độc giả Talawas (đăng ngày 01.04.)?
Bản thân tôi khi đọc bài viết của NMG đã phát hiện cho mình nhiều điều
thật lí thú. Xin nêu một ví dụ, là „phát hiện“ về lối nhìn của người
trong cuộc, với tư cách insider của tác giả, mặc dù chính ông đã lưu ý đến vị trí „có phần nào đứng ngoài cuộc“
của mình. Cái nhìn của „người trong cuộc“ này không chỉ thể hiện ở sự
khám phá một chi tiết mang chất phóng sự như lối biểu lộ lòng yêu nước
ở Mỹ bằng „cách giăng cờ lên bất cứ đâu, nhiều nhất là trên xe hơi“ (thực ra chi tiết này đã gần như là khám phá qua con mắt gián cách của một nhà dân tộc học!). Quan trọng hơn là cách giải thích của tác giả về những nội tình đang diễn ra tại Mỹ, điển hình chẳng hạn ở đoạn văn này: „Trong
cảnh tang gia bối rối, người trong nhà thường dễ bỏ qua những chuyện
bất hoà nhỏ nhặt (có thể từ từ giải quyết với nhau về sau) để lo đối
phó với cái tang trước mắt… Tuyên bố nay đánh nước này, mai đánh nước
nọ, tuy có hơi hung hăng cao bồi Texas đấy, nhưng phải nói thế chúng nó
mới sợ“. Ta hãy thử so sánh với một đoạn văn khác, cũng với nội dung nhận xét về xã hội Mỹ, từ bài viết đã nêu của NKG: „Hoa
Kỳ, nơi chế độ buôn bán nô lệ phồn thịnh nhất trước đây và nay trở
thành nước giàu có nhất thế giới, trở thành mục tiêu căm thù của hàng
triệu người khốn cùng. Phương Tây nói chung và Hoa Kỳ nói riêng […]
tiếp tục đường lối đào sâu hố ngăn cách ấy khi từ chối những trách
nhiệm của mình đối với sự nghèo khổ và lạc hậu ở nhiều nước Á, Phi và
Mỹ Latin.“
Hãy tạm bỏ qua sự tương phản về quan niệm chính trị – lịch sử (nếu có)
của hai tác giả, ta có thể thấy rõ khoảng cách giữa một bên là vị trí
quan sát & phương thức diễn ngôn của một người trong cuộc và bên
kia là lối nhìn viễn kiến từ bên ngoài với một ngôn ngữ thiên về duy
lí. Hình ảnh „tang gia bối rối“ chẳng hạn không chỉ là một biện pháp tu từ, một cách nói hình tượng. Nhắc tới việc „tang gia“ với hàm ý cảm thông về tình cảnh „bối rối“ của „người trong nhà“, có thể nói tác giả đã đánh động một „mẫu gốc“ (archetype) trong hình dung về tai biến của văn hoá Việt. Bản thân cụm từ „tang gia bối rối“ đã là một kết cấu thành ngữ, tức là „một cụm từ cố định có giá trị tương đương như một từ“[1]: việc nêu ra hiện tượng „tang gia“ ở đây không thể tách rời khỏi cách đánh giá về nó, tín hiệu ngữ nghĩa „tang gia“ được phát ra đồng thời với việc bày tỏ thái độ „bối rối“
của chủ thể phát ngôn. Gần như vô thức, người ta có thể „hiểu“ ngay
những quá trình chính trị phức tạp thông qua một cơ chế ứng xử tâm lí
hiển nhiên của đời sống gia đình thường nhật. Và không phải „hiểu“ một
cách thuần lí, mà „hiểu“ gắn liền với thái độ đồng cảm.
Xin nói rõ thêm: Chữ „người ta“ mà tôi dùng ở đây không hàm nghĩa người
đọc, hay rộng hơn là chủ thể nhận thức với một nội dung phổ quát. Đó
chính là nhân vật khuyết danh trong tấn kịch ba lần phi lí của nhận thức đã phân tích ở trên (mà tác giả NMG gọi là „chúng ta“).
Nó không phải ai xa lạ, mà chính là chủ thể nhận thức Việt với những
căn nguyên lịch sử, văn hoá, tinh thần của một xã hội truyền thống, tuy
đã bước một chân vào thời hiện đại, song cùng lắm cũng chỉ mới có thể
chớm tiếp cận những hình thái diễn ngôn ngoại biên, tức không thuộc các
„cấp thẩm quyền“ ở khu vực trung tâm. Chủ thể nhận thức „tiền
hiện đại“ ấy trước thách thức của những quyền lực diễn ngôn có quy mô
toàn cầu, mang đặc trưng „hiện đại“ và thậm chí „hậu hiện đại“ (để hiểu
tinh thần „hậu hiện đại“ có thể tham khảo bài viết „Tinh thần khủng bố“
của Jean Baudrillard đăng trên Talawas), liệu còn „lối thoát danh dự“
nào khác ngoài việc áp dụng cơ chế giải thích truyền thống mang tính
nhân cách hoá, gia đình hoá, trực giác hoá những quá trình xã hội –
lịch sử trừu tượng? Cơ chế giải thích này, xét từ góc độ chức năng,
hoàn toàn không theo đuổi những mục tiêu tư biện [2] (đấy đã là một
hiện tượng phi truyền thống), mà nhằm sắp xếp, nhào nặn lại trật tự của
hiện thực, giản lược hoá „tính tổng thể đầy hăm doạ của thế giới“
[3] thành một số quy trình căn bản cho vừa tầm bao quát của chủ thể. Có
thể coi đây là một hành vi tự định hướng mang tính sống còn, vừa trên
cấp độ ý thức cá nhân, vừa trên bình diện của cả một nền văn hoá dân
tộc, chẳng hạn khi nền văn hoá ấy giao lưu với những luồng ảnh hưởng
ngoại lai. Nói theo thuật ngữ của Hà Văn Tấn [4], đấy là một sự „tiếp biến văn hoá“, cho dù là sự tiếp biến cưỡng bức trong sự giao lưu với văn hoá Trung Quốc trước đây, hay là một sự tiếp biến (ít nhiều) tự nguyện
trước những thách thức diễn ngôn của một Jean Baudrillard, Susan Sontag
hay Kenzaburo Oe trong thế giới „hậu 11 tháng Chín“ hiện tại.
Để làm rõ hơn ý tưởng rằng một chi tiết như việc sử dụng thành ngữ „tang gia bối rối“
không chỉ là một biện pháp tu từ ngẫu nhiên, mà là một phần trong
„chiến lược diễn ngôn“ của tác giả, chúng ta hãy thử xem xét kỹ hơn hai
câu tiếp theo trong trích đoạn ở trên với tư cách một cấu trúc „hành vi
ngôn từ“[5]: „… Tiền nong không được dư dả như trước, nhưng cần chi bao nhiêu cho súng đạn để diệt cho tuyệt nọc khủng bố, xin cứ mặc sức tiêu! Tuyên bố nay đánh nước này, mai đánh nước nọ, tuy có hơi hung hăng cao bồi Texas đấy, nhưng phải nói thế chúng nó mới sợ“ (phần nhấn mạnh của tác giả bài tham luận). Với việc chấp nhận mô thức „tang gia bối rối“
và xuất phát từ đó là việc „hiểu“ một hiện tượng của đời sống chính trị
(hậu) hiện đại như sự biến động tỉ lệ tín nhiệm của tổng thống Mỹ đương
nhiệm (xem câu trước đoạn trích) như một phản ứng tâm lí thông thường
trong phạm vi gia đình [„người trong nhà thường dễ bỏ qua những chuyện bất hoà nhỏ nhặt…“],
người đọc/chủ thể nhận thức vô hình trung sẽ được gắn bó bởi một cảm
giác liên kết cộng đồng, một tình cảm „In-Group“ hướng nội. Thông qua
phương pháp „độc thoại tự sự“[6] (xem các phần được nhấn mạnh: „xin cứ mặc sức tiêu!“ – „nhưng phải nói thế chúng nó mới sợ“), tức thông qua việc „ngôn ngữ nhân vật“ (được gọi một cách hài hước là „cao bồi Texas“)
vang lên trong chính „ngôn ngữ của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất“
(Ich-Erzählung), thậm chí còn áp đảo cả ngôn ngữ đó, người đọc/người
nghe không chỉ còn „hiểu“/“tiếp nhận“ nữa, mà cũng sẽ bắt đầu „nói“, tức „suy nghĩ“
bằng chính ngôn từ của nhân vật, tức cũng là ngôn từ của „người kể
chuyện ở ngôi thứ nhất“, và qua đó một cách rất hồn nhiên nhập vai
người trong cuộc.
Không phải vô tình, và cũng không phải do thiếu nhất quán với thái độ bất khả tri, mà dọc theo bài viết tác giả đã lặp lại nhiều lần nhận xét „không có gì khó hiểu“ hay „tìm hiểu vì sao […] thật dễ. Chuyện thường tình!“.
Ở cuối bài viết, như thể để tạo cao trào cho ý tưởng về kết cục vô
nghĩa của tấn kịch nhận thức, tác giả đã hé mở thêm một bức màn phi lí thứ tư nữa: Ngay chính „những lời bàn luận sâu sắc và thâm thuý của những học giả ‚có thẩm quyền’“ đã đề cập trước đó, tức hết thảy những gì mà chúng ta chẳng những không thể nói ra mà chỉ biết thôi cũng bập bỗm theo một sự thích phiến diện nào đó, nói tóm lại tất cả những „chân lí cuối cùng và khách quan“ xa vời vợi ấy, rốt cuộc cả chúng nữa biết đâu cũng chẳng phải là „các cao kiến“ gì, mà „chỉ là lời những anh mù sờ voi“.
Như vậy có cơ sở để phỏng đoán rằng tác giả đã sử dụng cơ chế „nhân
cách hoá, gia đình hoá, trực giác hoá“ của tư duy dân gian cùng tinh
thần lạc quan „không có gì khó hiểu“ cố hữu của nó với một ý thức chủ động và cả một phần dụng ý biếm nhại.
Tuy nhiên, một khi đã nhập vai insider và bị chi phối
bởi những ràng buộc hướng tâm vào „nhóm của mình“, dĩ nhiên một cơ chế
khác cũng sẽ bắt đầu được vận hành: cơ chế li tâm, cơ chế có chức năng
loại bỏ tất cả những gì không thuộc về „nhóm„, biến chúng thành một kết
cấu „Out-Group“, ngoại lai. Bằng chứng cho sự song hành của hai cơ chế
ràng buộc – hướng tâm và loại trừ – li tâm này là một chi tiết nghịch
lí trong bài viết (có thể nằm ngoài tầm kiểm soát của „người kể chuyện ở ngôi thứ nhất“) như sau: Mặc dù dường như là đích của một thái độ phê phán (chẳng hạn bị gán những phẩm chất mang tính châm biếm như „hung hăng cao bồi Texas“),
song xã hội Mỹ lại chính là biểu tượng của những giá trị „In-Group“,
những giá trị „của chúng ta“. Và mặc dù được nhắc đến với một thái độ
cảm thông („Tôi đọc được lòng căm thù ấy trong đôi mắt những người
Palestin ở Do Thái, trong những khuôn mặt râu ria khó hiểu của dân các
bộ lạc Afghanistan gần biên giới Pakistan“), song thái cực bên kia của „sự đụng độ giữa các nền văn minh“ (chữ của Huntington) lại hiện lên như là tượng trưng của những gì xa lạ nhất.
Tôi cho rằng hình ảnh về „những khuôn mặt râu ria khó hiểu của dân các bộ lạc Afghanistan gần biên giới Pakistan“ là phát hiện quan trọng nhất của bài viết. Và có thể đó cũng là một trong những chi tiết đắt
nhất trong văn chương Việt về thế giới Hồi giáo. Nó là sự thú nhận hồn
nhiên và thành thật nhất về sự xa lạ hoàn toàn của chúng ta đối với thế
giới này. Và biết đâu nó cũng là kết quả của chính cùng một cơ chế văn
hoá – nhận thức đã dẫn đến luận điểm trung tâm „Phi lí tính“ = „Cuồng tín Hồi giáo“ trong bài viết „Một cuộc chiến chống lại phi lí tính?“ của tác giả NKG?