trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
30.11.2004
Trần Trí Dõi
Một vài ý kiến về vấn đề xây dựng chính sách giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam
 

1. Dẫn nhập

Ðối với một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, vùng dân tộc thiểu số là vùng lãnh thổ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển đất nước. Trong số những nhân tố tác động đến sự phát triển của vùng lãnh thổ đặc thù này, giáo dục ngôn ngữ là một trong những nhân tố giữ vị trí quan trọng hàng đầu. Ngôn ngữ, về mặt bản chất của nó, là phương tiện giao tiếp và là công cụ tư duy của một cộng đồng. Do đó, để có thể phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư ở đây phải được thụ hưởng một chính sách giáo dục ngôn ngữ hợp lý.

Chính sách giáo dục ngôn ngữ của một quốc gia sẽ là những định hướng và kế hoạch cơ bản nhằm cung cấp cho cư dân phương tiện giao tiếp và công cụ tư duy phù hợp với lợi ích phát triển bền vững quốc gia. Vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam là vùng có cảnh huống ngôn ngữ đan xen. Vì thế, xây dựng chính sách giáo dục ngôn ngữ cho vùng này chính là xây dựng chính sách giáo dục ngôn ngữ cho một địa bàn song ngữ hay đa ngữ. Trong môi trường ngôn ngữ như vậy, để có được một cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách giáo dục ngôn ngữ hợp lý hay phù hợp với lợi ích phát triển bền vững quốc gia vấn đề quan trọng hàng đầu, rõ ràng, là phải xác định minh bạch mối quan hệ đa chiều về chức năng xã hội giữa ngôn ngữ quốc gia (ở Việt Nam là tiếng phổ thông), tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số cũng như tiếng phổ thông vùng (tức là ngôn ngữ của một dân tộc thiểu số được một vài dân dộc khác nhau trong một vùng lãnh thổ xác định cùng sử dụng để giao tiếp trong xã hội).

Theo ý kiến riêng của chúng tôi, vào thời điểm hiện nay, người ta dường như lãng quên hoặc chưa coi trọng việc xác định rõ mối quan hệ đa chiều nói trên trong hoạt động hoạch định chính sách giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam. Một số hoạt động liên quan đến vấn đề ấy như việc xây dựng chữ viết cho một vài dân tộc, việc tổ chức dạy song ngữ v.v. theo kiểu mạnh ai nấy làm, mỗi nơi làm theo kiểu của mình đã xác nhận tình trạng đó. Trong một hoàn cảnh như vậy, bài viết này sẽ tập trung làm rõ mối quan hệ giữa những yếu tố đã được chỉ ra nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam.

2. Nội dung của vấn đề

Trong thời gian vùa qua những nghiên cứu của chúng tôi tại địa bàn dân tộc thiểu số về nhu cầu giáo dục ngôn ngữ đã cho thấy rằng ở cộng đồng dân cư dân tộc thiểu số có sự khác nhau quan trọng về chức năng xã hội giữa tiếng phổ thông, tiếng mẹ đẻ của các dân tộc và tiếng phổ thông vùng. Chúng ta sẽ thấy trong nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của mình, những dân tộc được nghiên cứu đã bày tỏ rõ định hướng lựa chọn ngôn ngữ trong đời sống xã hội của họ. Sự khác nhau này, tuỳ mức độ cụ thể ở từng vùng hay ở từng dân tộc, sẽ có những ảnh hưởng không thể bỏ qua khi xây dựng chính sách giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam.

Cũng xin nói thêm rằng do điều kiện cụ thể quy định, những khảo sát của chúng tôi về nhu cầu giáo dục ngôn ngữ làm cơ sở cho việc phân tích ở đây chỉ được tiến hành ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam. Do vậy, nhận biết sự khác nhau quan trọng về chức năng xã hội giữa những ngôn ngữ mà họ sử dụng chưa phải là sự phản ánh tình hình chung của cả nước. Nhưng có lẽ, từ những số liệu có tính địa phương như vậy cũng đã phần nào cho phép chúng ta nhận biết tình trạng chung trong đời sống xã hội các dân tộc thiểu số của Việt Nam.

  1. Trước hết, chúng tôi xin nói về tiếng phổ thông. Ở nước ta, khác với một số quốc gia đa dân tộc khác, tiếng Việt không hay chưa được cấp vị trí là ngôn ngữ quốc gia mà được định vị là tiếng phổ thông. Khi đánh giá nhu cầu thụ hưởng giáo dục ngôn ngữ này ở cộng đồng các dân tộc thiểu số thuộc ba tỉnh Nghệ An, Sơn La và Tuyên Quang [T.T.Dõi 2004;162-169], ta thấy 99,10% người dân tộc được hỏi xác nhận có nhu cầu thụ hưởng giáo dục tiếng Việt. Số người được phỏng vấn là 6308, có đủ các lứa tuổi, thuộc tất cả các thành phần xã hội khác nhau và gồm những dân tộc thiểu số chính trong vùng như Tày, Thái, Mường, Mông, Dao, Hoa, Khơ Mú v.v. Tính chất đa dạng của những người được phỏng vấn cho thấy tỷ lệ gần như tuyệt đối của nhu cầu thụ hưởng giáo dục là rất có ý nghĩa trong hoạch định chính sách.

    Phân tích mục đích thụ hưởng giáo dục tiếng Việt của những đối tượng nói trên, chúng tôi thấy ngoài việc ưu tiên cho mục đích giao tiếp hàng ngày (67,51%), mục đích phát triển nhận thức hay mục đích “hiểu biết” là ưu tiên tiếp theo của họ. Con số tổng hợp 58,02% người được hỏi bày tỏ họ học tiếng Việt để “tiếp tục học cao hơn” đã xác nhận sự thực ấy. Những dân tộc như Thái, Tày, Hoa vốn có ngôn ngữ và văn hoá dân tộc khá phát triển là những dân tộc có tỷ lệ cao hơn tỷ lệ chung khi bày tỏ nguyện vọng này.

    Như vậy, dựa trên tỷ lệ về nhu cầu và tính mục đích trong thụ hưởng giáo dục tiếng Việt của vùng dân tộc thiểu số đã khảo sát, chúng tôi thấy rằng lợi ích phát triển đối với việc tiếp nhận tiếng phổ thông của người dân tộc thiểu số là khá rõ ràng. Theo nhận thức của chúng tôi, tính thực tiễn này có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách giáo dục ngôn ngữ cho vùng dân tộc thiểu số.

  2. Ngôn ngữ thứ hai cần phải nhận biết nhu cầu cũng như tính mục đích trong môi trường đa ngữ của các dân tộc thiểu số sẽ là tiếng mẹ đẻ của người dân tộc. Cũng ở địa bàn nói trên [T. T. Dõi, 2004;189-220], chúng tôi thu được kết quả như sau: có 92, 69% số người được phỏng vấn bày tỏ nhu cầu thụ hưởng giáo dục tiếng mẹ đẻ. Số người được hỏi ý kiến ở đây là 6365 người và thuộc đủ các lứa tuổi và thành phần xã hội. Có thể thấy, nhu cầu này khá cao nhưng điều đáng chú ý là nó vẫn chưa cao bằng nhu cầu thụ hưởng tiếng phổ thông.

    Khi tìm hiểu mục đích thụ hưởng giáo dục tiếng mẹ đẻ của người dân tộc, những nghiên cứu của chúng tôi đánh giá ở ba khía cạnh là tiếp nhận đẻ phục vụ nhu cầu phát triển, tiếp nhận để phục vụ nhu cầu giao tiếp hàng ngày và tiếp nhận để phục vụ nhu cầu giữ gìn bản sắc văn hóa. Kết quả phỏng vấn cho thấy trong ba mục đích ấy, 84,52% người dân tộc bày tỏ học tiếng mẹ đẻ trước hết là để giữ gìn bản sắc văn hóa, 71,10% bày tỏ là để giao tiếp hàng ngày và chỉ có 54,00% cho rằng học cho nhu cầu phát triển. Như vậy có thể nhìn nhận ưu tiên của đồng bào dân tộc thiểu số nơi chúng tôi khảo sát là việc tiếp nhận giáo dục tiếng mẹ đẻ cho việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Ðiều này cho thấy có lẽ mục đích ấy là dường như phù hợp với bản chất văn hoá cũng như bản chất xã hội của ngôn ngữ.

    So sánh nguyện vọng bày tỏ nhu cầu và mục đích tiếp nhận giáo dục tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ của đồng bào dân tộc thiểu số ở địa bàn nói trên chúng ta nhận thấy một điều rất quan trọng. Ðó là trong môi trường đa ngữ nói trên dường như có sự khác biệt về vai trò xã hội giữa tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ khi người dân tộc tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ. Theo đó, nếu như mục đích sử dụng để giao tiếp hàng ngày là tương đương nhau thì có sự khác biệt giữa nhu cầu giữ gìn bản sắc văn hóa và nhu cầu nhu cầu phát triển. Ở đây mục đích tiếp nhận giáo dục tiếng mẹ đẻ nghiêng hẳn về chức năng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, còn việc thụ hưởng giáo dục tiếng phổ thông ưu tiên hơn cho vai trò là ngôn ngữ cho sự phát triển. Sự khác biệt có tính chất phân bố bổ sung này là xuất phát từ sự tự đánh giá của bản thân người dân tộc thiểu số nên nó phản ánh tính khách quan và tính thống nhất trong mục đích sử dụng ngôn ngữ ở môi trường song ngữ hay đa ngữ của vùng dân tộc thiểu số.

  3. Riêng về trường hợp tiếng phổ thông vùng, tuy chúng tôi không khảo sát cụ thể ở địa bàn ba tỉnh nói trên nhưng một vài khảo sát khác cho thấy vai trò xã hội của nó bị thu hẹp. Trong đời sống của mình người dân tộc thiểu số thường dùng nó trong giao tiếp giữa một vài dân tộc thuộc một địa bàn cụ thể. Trong mối quan hệ với tiếng phổ thông, nó chỉ là “ngôn ngữ phổ thông” có tính chất “vùng” ở chức năng thu hẹp là giao tiếp ngoài xã hội và mang tính chất thời điểm. Cho nên dần dần, chức năng này sẽ bị thay thế khi những dân tộc đó cùng nắm bắt tốt tiếng phổ thông. Nói một cách khác, trong một chừng mực nào đấy, tiếng phổ thông vùng chỉ có giá trị nhất thời và hạn chế, không giống như tiếng mẹ đẻ của các dân tộc, lại càng không thể là ngôn ngữ phổ thông ở địa bàn các dân tộc thiểu số.

3. Những vấn đề liên quan đến chính sách giáo dục ngôn ngữ

Trong việc hoạch định chính sách giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số, những nhân tố thực tiễn liên quan đến nhu cầu tiếp nhận giáo dục như vừa phân tích ở mục 2, theo chúng tôi, có những ảnh hưởng đa dạng đến cả định hướng chính sách lẫn kế hoạch thực hiện. Tính đa dạng ấy thể hiện ở mức độ ảnh hưởng khác nhau của mỗi một nhân tố trong định hướng và lập kế hoạch, thể hiện ở cách áp dụng khác nhau trong quy trình thực hiện định hướng giáo dục. Từ những nhận biết thực tiễn qua kết quả khảo sát, chúng tôi xin nêu ra một vài ý kiến sau đây.

  1. Thứ nhất, trong định hướng giáo dục ngôn ngữ chúng ta không thể tách rời giữa giáo dục tiếng Việt với giáo dục tiếng mẹ đẻ của đồng bào dân tộc ở địa bàn dân tộc thiểu số. Vì nếu tách rời giữa chúng, mục tiêu giáo dục để phát triển bền vững đất nước sẽ không bao giờ trở thành hiện thực. Chúng ta đã thấy rõ điều đó qua kết quả khảo sát nhu cầu tiếp nhận đồng thời cả tiếng phổ thông lẫn tiếng mẹ đẻ của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó họ thể hiện mục đích tiếp nhận theo thế phân bố bổ túc giữa tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ. Nói khác đi, họ tiếp nhận giáo dục tiếng phổ thông nghiêng về định hướng phát triển, còn việc tiếp nhận giáo dục tiếng mẹ đẻ nghiêng về là công cụ trong giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Chúng ta dễ dàng thừa nhận rằng cả hai điều đó sẽ không thể thiếu trong một xã hội phát triển bền vững.

    Thực ra, trong định hướng xây dựng chính sách giáo dục ngôn ngữ của mình, Nhà nước Việt Nam luôn luôn nhấn mạnh lợi ích của tính đồng thời này. Nhưng vấn đề không đầu xuôi đuôi lọt là ở chỗ người ta khi thực hiện kế hoạch giáo dục đã không đảm bảo tính hiện thực của lợi ích đó. Những khảo sát của chúng tôi [T. T. Dõi, 2004] cho thấy rằng định hướng đúng dắn nói trên chưa được thực sự tôn trọng ở nhiều địa bàn khi người ta hoặc chỉ nhấn mạnh vai trò độc tôn của tiếng phổ thông hoặc nhấn mạnh thái quá chức năng xã hội tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số.

  2. Nhưng điều đáng quan tâm hơn cả là việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách giáo dục ngôn ngữ. Bởi vì, hình như khi xây dựng và thực hiện kế hoạch này, người ta chưa thực sự quan tâm đến nhu cầu cũng như mục đích của cư dân khi họ tiếp nhận sự giáo dục.

    Chúng tôi xin nêu một ví dụ mà theo suy nghĩ của riêng mình dường như định hướng chính sách cũng như công việc đang làm sẽ không phù hợp với bản chất của công việc. Ðó là vấn đề cả cơ quan quản lý giáo dục và một vài nhà nghiên cứu dân tộc đang tìm kiếm và muốn phổ biến một kiểu chữ Thái “chung” theo truyền thống Sanskrit thay thế cho những kiểu chữ Thái truyền thống khác nhau hiện có vốn gắn liền chặt chẽ với văn hoá truyền thống của nhiều vùng Thái cụ thể ở Việt Nam. Bởi vì căn cứ vào nhu cầu và mục đích thụ hưởng giáo dục tiếng mẹ đẻ do chính người Thái phát biểu, việc làm như vậy là trái với mục đích tiếp nhận giáo dục của họ. Cho nên, nếu người ta cứ đặt ra một loại chữ Thái “chung” và dạy nó cho người dân Thái thì loại chữ ấy vừa không thay thế được chức năng là công cụ cho sự phát triển vừa làm tiêu tan mối dây liên hệ với văn hóa truyền thống do những kiểu văn tự đã có trước đây đảm nhiệm để giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Tiếc rằng, một điều đã khá hiển nhiên như thế lại không được người ta tôn trọng khi núp dưới cái gọi là “cần có một sự thống nhất”.

    Một ví dụ thứ hai liên quan đến thực tiễn xây dựng chính sách giáo dục ngôn ngữ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là cách thức một số nơi tổ chức cho người dân và học sinh theo học tiếng mẹ đẻ của dân tộc mình. Thay vì phải trao cho người dân và các em quyền lựa chọn “muốn học” hay “chưa muốn học”, dường như người ta yêu cầu đã là người dân tộc hay học sinh dân tộc thì phải học tiếng mẹ đẻ “như nhau”; thay vì mỗi một cá nhân cụ thể cần phải lựa chọn “mức độ tiếp nhận” tiếng mẹ đẻ khác nhau phù hợp với nhu cầu “giữ gìn bản sắc văn hoá” ở mỗi một người, người ta thường yêu cầu đã là người dân tộc hay học sinh dân tộc thì phải học tiếng mẹ đẻ “như nhau”. Nếu làm như vậy, về thực chất người ta đã bỏ qua tính khác biệt về nhu cầu và mục đích tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ cho người dân tộc nhằm hướng tới đảm bảo sự phát triển bền vững của họ.

    Những khảo sát về nhu cầu và mục đích tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số của chúng tôi cho thấy thực tiễn ở Việt Nam đặt ra rất nhiều những nội dung đáng được quan tâm trong xây dựng chính sách giáo dục ngôn ngữ ở một quốc gia đa dân tộc. Một vài vấn đề mà chúng tôi nêu ra ở trên cũng chỉ là những vấn đề đơn lẻ, hơn nữa, cách đánh giá và nhìn nhận cũng là cách đánh giá và nhìn nhận của cá nhân. Trong khi đó, nội dung của vấn đề chính sách giáo dục ngôn ngữ lại khá đa dạng nên nếu có nhiều sự thảo luận hay nhìn nhận khác nhau là điều cần thiết và tốt đẹp.

Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2004

Tác giả: Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Trí Dõi, Chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ học, Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Ðại học Quốc gia Hà Nội, email: doihanh@hotmail.com


Tài liệu tham khảo chính

  1. Bianco J. L. (1987), Chính sách quốc gia về ngôn ngữ, Australian Government Publishing Service, Canberra (bản dịch của Viện Ngôn ngữ học Hà Nội).
  2. Trần Trí Dõi (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Ðại học quốc gia Hà Nội.

    • (1999), Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi một số tỉnh của Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
    • (2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
    • (2003), Chính sách ngôn ngữ văn hoá dân tộc ở Việt Nam, Nxb Ðại học quốc gia Hà Nội.
    • (2004), Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía Bắc Việt Nam – Những kiến nghị và giải pháp, Nxb Ðại học Quốc gia Hà Nội.

  3. Hudson R.A (1993), Sociolinguistics, Cambridge University Press.
  4. Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội – Những vấn đề cơ bản, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  5. Viện ngôn ngữ học (1993), Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Nguồn: Tham luận tại Hội thảo quốc tế “Xây dựng chính sách khoa học và giáo dục ở Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới” do Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Ðại học Quốc gia Hà Nội và Quỹ Rosa-Luxemburg (Rosa-Luxemburg-Stiftung), CHLB Đức, đồng tổ chức ngày 13. – 14.11.2004 tại Nha Trang, Khánh Hoà, Việt Nam. Bài viết tóm tắt kết quả nghiên cứu của tác giả từ công trình “Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phiá Bắc Việt Nam – Những kiến nghị và giải pháp”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2004, 286 trang. Xin tham khảo thêm Hoàng Thị Châu, Tình hình và chính sách xây dựng và phổ cập chữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, talawas, 30.7.2003.

 
© talawas 2026