trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
29.11.2003
Trần Ngọc Vương
Một nội lực văn hoá cần cho sự phát triển
 

Ta vẫn thường tự hào về bề dày 4000 năm lịch sử. Dường như giữa các cộng đồng quốc gia dân tộc đang tồn tại trên mặt đất ngày nay thì số lượng các quốc gia dân tộc có bề dày lịch sử như vậy quả cũng không nhiều – Vâng, thời lượng vài ba thiên niên kỷ đủ cho phép nói đến một sức sống trường tồn, một thứ bản lĩnh, vô số kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm, cũng cần nói và được quyền nói tới một phương thức, một cách tồn tại nào đó riêng biệt. So với những quốc gia, những dân tộc hoặc đến rồi đi khỏi mặt đất này như một ảo ảnh lịch sử hay một khoảnh khắc loé sáng ngắn ngủi, mà những thực thể như vậy thường xuất hiện quá nhiều – thì chúng ta đang cầm giữ một đại hạnh.

Tự hào về bề dày lịch sử là một niềm tự hào chính đáng. Tuy rằng ở điểm này, con số trên dưới bốn ngàn năm của một cộng đồng văn hoá – lịch sử của một tộc người còn cần phải được biện minh, lập luận, giải trình, chính xác hoá. Nhưng cũng chưa sao. Vài ngàn năm cũng đủ cho một trường kỳ lịch sử. Bởi nếu ngoái ra bốn biển năm châu, vào thời điểm hiện nay mà suy toán, các cộng đồng quốc gia dân tộc có bốn chữ số tính tuổi trước số thập phân cũng đâu đã quá nhiều?

Nhưng cái mà ta phải tự nhắc mình trong quỹ đạo này lại là một điều khác, một cái gì tương tự như một vấn nạn lịch sử. Tục ngữ đã từng tổng kết: “Ða thọ tắc đa nhục“. Mà con người ta, cá nhân hay cộng đồng, thì đến lúc nào đó, nếu “đã không biết sống là vui” thì “tấm thân nào biết thiệt thòi là thương“. Lại cũng rất thường xảy ra là tính đơn vị sinh học của mỗi một thân phận cá nhân dễ dàng tạo ra mâu thuẫn, lắm tình huống là đối lập quyết liệt, với vận mệnh của cộng đồng gắn bó trực tiếp với cá nhân đó. Ta đang nỗ lực phấn đấu để thu hẹp phạm vi tác động của mâu thuẫn này, tiến dần tới chỗ thanh toán nó. Nhưng thời mở cửa, thời kinh tế thị trường này thì việc giải quyết mâu thuẫn ấy trở nên khó khăn gấp bội.

I.



Nếu nhìn bao quát toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại, sẽ không khó khăn gì nhận ra rằng trong toàn bộ tiến trình ấy, không có một quốc gia dân tộc, một đế chế hay một khu vực văn hoá – văn minh nào chỉ liên tục phát triển mà không có những bước thăng trầm, suy thoái, đình đốn. Thậm chí có cả những nền văn minh lớn bị diệt vong. Thực tế đó đã dẫn đến sự khái quát của Hegel rằng mỗi nguyên lý tinh thần khi triển khai vào lịch sử lựa chọn một dân tộc đại diện cho nó, và sau này Engels có hiệu chỉnh lại cách diễn đạt rằng mỗi thời đại có một nguyên lý tinh thần và có một dân tộc đại diện. Bắt đầu từ thời Phục hưng, chủ nghĩa tư bản đã dần dần chiến thắng ở hàng loạt các quốc gia Âu – Mỹ và từ cuối thế kỷ XVIII đã bắt đầu một hiện tượng đặc biệt: Sự nô dịch dân tộc dưới tên gọi chủ nghĩa thực dân.

Ở khu vực châu Á lần lượt các quốc gia lớn nhỏ theo nhau rơi vào trạng thái suy vong và chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành công cuộc thực dân hoá hầu khắp lãnh thổ của châu lục lớn mạnh vào bậc nhất này trong lịch sử. Từ giữa thế kỷ XIX “gió Tây” đã cuồng nộ thổi trên xứ sở của các nền văn hoá, văn minh tối cổ và từng đạt tới những đỉnh cao rực rỡ như Ấn Ðộ, Trung Hoa, Trung Cận Ðông…

Nhưng rồi nói như Lão Tử: “Mưa lớn không hết buổi sáng, gió to không hết cả ngày“, phải tới và đã tới thời điểm cáo chung của chủ nghĩa thực dân và sự sụp đổ của hệ thống thuộc điạ. Hàng loạt các quốc gia châu Á thức tỉnh, gấp rút vượt lên để trở thành các quốc gia có nền công nghiệp phát triển. Sau Nhật Bản, ở khu vực châu Á đã xuất hiện hàng loạt các nước công nghiệp mới (NIC), với những thành tựu kinh tế được gọi tên là huyền thoại, chuyện thần kỳ…

Hoàn toàn chưa xa cái thời chủ nghĩa thực dân hả hê tuyên bố sự chiến thắng về quân sự, chính trị, kinh tế. Và điều tôi muốn đặc biệt lưu ý là ở thời kỳ đó (cách đây chừng trên dưới một thế kỷ), trong hầu hết các nước bị xâm lược ở khu vực này, một nhận định hầu như phổ biến và thống trị trong cả giới trí thức thượng lưu, cả trong dân chúng: trong thế cạnh tranh sinh tồn, ưu thắng liệt bại ấy, phương Tây đã chứng minh tính hơn hẳn về mọi phương diện so với phương Ðông bảo thủ, lạc hậu.

Thế rồi giải thích những kỳ tích của Nhật Bản và các “đại long” – “tiểu long” châu Á, các nhà Ðông phương học đã xướng lên luận điểm về việc các nước đó sử dụng lại một cách có phê phán nhưng đặc biệt có hiệu quả những thành tựu, những kinh nghiệm, và cả những lý luận đã từng tồn tại hàng vài nghìn năm trong lịch sử của họ. Riêng ở các nước trong phạm vi chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hoá Hán, truyền thống Nho giáo lại được đánh giá lại như một đòn bẩy có tác động nhiều chiều của quá trình hiện đại hoá. Luận điểm này được hưởng ứng sốt sắng đến bất ngờ ở nhiều nước, kể cả cấp Nhà nước, chính phủ lẫn các giới xã hội, các tổ chức đoàn thể.

Ta chứng kiến một nghịch lý mang tầm thế kỷ: vô số lời cáo buộc gay gắt đối với Nho giáo vẫn còn đó, tươi rói, hùng hồn, thống thiết và tràn trề nhiệt huyết.

Mà chẳng riêng đối với Nho giáo. Cả học thuyết Lão Trang và lý thuyết Pháp trị, cả Thần đạo và tinh thần võ sĩ đạo, cả Thiền và Yoga, Kungfu và dưỡng sinh, khí công… cũng lần hồi thu hút sự quan tâm sâu sắc của nhiều bộ phận dân cư trong thế giới từng là thế giới kỹ trị. Những nhận định lạc quan, những mảng màu tươi sáng đã được vẽ lên phía tương lai của một khu vực châu Á -Thái Bình Dương ở ngưỡng cửa thế kỷ XXI. Thế nhưng vẫn cần tỉnh táo trước nghịch lý vừa đề cập đó, để không bị lú lẫn, huyễn hoặc hay mất phương hướng, bi quan.

Câu hỏi lớn về giá trị của các truyền thống lịch sử: truyền thống khu vực hay truyền thống dân tộc, truyền thống quốc gia hay truyền thống địa phương, truyền thống trên bình diện nhận thức hay bình diện tổ chức, quản lý, điều hành… đều cần được tỉnh táo đánh giá có trách nhiệm. Tính tất yếu lạnh lùng vẫn tồn tại đó: dân vẫn còn nghèo, nước vẫn chưa mạnh, bị hạ nhục và rửa được hận chưa đủ đảm bảo cho tương lai vẹn toàn.

II



Cho đến nay, việc xác định bản sắc văn hoá dân tộc về mặt lý thuyết chung cũng như vận dụng vào văn hoá Việt Nam, nói cho thật nghiêm túc vẫn còn có nhiều khó khăn chưa giải quyết được. Nhiều thức giả băn khoăn và thành thực tự vấn về việc nêu lên những bản sắc độc đáo, đặc biệt nào đó cho người Việt Nam. Nói người Việt yêu nước thiết tha, có tinh thần dân tộc cao rõ là không ai phủ nhận. Nhưng nghĩ lại, ai dám lớn tiếng nói về một cư dân khác, một cộng đồng khác là yêu nước kém thiết tha, tinh thần dân tộc mờ nhạt? Có một ước lệ văn hoá học trên những phương diện này: chưa ai làm thao tác so sánh! Cũng vậy, nếu nói người Việt Nam cần cù, dũng cảm, thông minh, giàu tinh thần sáng tạo… theo lối từ hiện tượng có thực mà quy vào bản chất, thì chắc chính những người khẳng định về dân tộc Việt Nam theo cách đó cũng chẳng dám nói khác về bất kỳ một dân tộc nào.

Cũng có những toan tính tìm kiếm bản sắc dân tộc theo cách khác. Chẳng hạn, có thể xác định một cơ tầng văn hoá Ðông Nam Á cổ đại trên một địa vực rộng lớn hơn nhiều bao gồm cả lưu vực sông Dương Tử trở xuống phía Nam. Rồi bằng những thao tác biến hoá trên chữ nghĩa, biến vùng Nam Trung Quốc thành Bách Việt, thành Âu Lạc, từ đó thành Việt Nam. Một cách nghiêm khắc thì lối ngoại suy kiểu đó chỉ xứng đáng một sự nhạo báng không hơn không kém. Linh mục Lương Kim Ðịnh đã tuyên bố thẳng thừng lý do của một sự gian lận lôgich như vậy:


Như thế không phải là chúng ta đang gieo gió hay sao?Liệu có tránh khỏi gặp bão chăng?… Muốn tích cực và đạt hiệu quả chân thực (sic !) thì thế nào nước ta cũng phải có một nền văn hoá công dân để làm nhân tố thống nhất. Mọi người Việt Nam bất cứ theo tôn giáo nào cũng phải đứng vào mặt trận văn hoá công dân ấy. Có vậy mới trông giàn hoà các tôn giáo cũng như nối kết các người trí thức thị dân với đại chúng thôn dân. Có thế, dân nước mới trông đoàn tụ được trong một mặt trận văn hoá đủ mạnh để chống chọi với những người Macxit đang tranh đấu trên chiến tuyến ý thức hệ. Thiếu một chủ đạo mà đòi chống một chủ thuyết như cộng sản thì đó là một điều diệu vợi (tôi nhấn mạnh T.N.V).

Như thế thì đối với chúng ta vấn đề văn hoá dân tộc không còn phải là vấn đề sống còn, đó chính là vận hệ của nước

(Kim Ðịnh – Cơ cấu Việt Nho, Nguồn Sáng xuất bản, SG.1973).

Có lẽ không cần bình luận gì thêm! Chỉ tiếc và lo rằng hơn 20 năm sau khi Kim Ðịnh công bố “sứ mệnh” ấy của ông ta, lại có người thừa kế hào hứng một con đường quàng xiên như vậy.

Nhiều nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam công bằng và nghiêm khắc không tìm kiếm những kết luận giật gân đã phải hướng suy nghĩ của mình tới ngả khác.

III.



Truyền thống, nhất là truyền thống văn hoá, không được tạo ra một lần cho tất cả. Cũng không phải những gì được tạo ra trong lịch sử đều trở thành truyền thống. Cái hiện tại qua chọn lọc đào thải, sẽ gửi một phần số phận của nó vào tương lai, làm nên truyền thống cũng phải được hiểu như một quá trình.

Cố GS Trần Ðình Hượu, trong một bài viết súc tích mà tôi biết là kết quả của một “khổ nạn đích lịch trình” đã lưu ý chúng ta về điều đó. Ông viết:


Văn hoá theo nghĩa rộng nhất thì có từ xã hội nguyên thuỷ. Nhưng phải trải qua một thời gian lâu dài để bản lĩnh sáng tạo của con người được nâng cao, khi con người thoát khỏi cuộc sống mông muội, ý thức được ngoại cảnh, tích luỹ được tri thức về nó, những kinh nghiệm chế ngự, tổ chức đấu tranh làm chủ nó, tạo ra sự khác biệt vê thiên hướng và trình độ giữa các cộng đồng người, nhất là sự phân hoá dẫn đến sự hình thành các dân tộc, đủ sức định hình một hướng phát triển khi có hệ tư tưởng, nền văn học nghệ thuật, những nhân vật văn hoá, tức là khi tạo được một cái vốn văn hoá riêng cho cộng đồng người đó thì mới có thể bắt đầu nói đến đặc sắc dân tộc của văn hoá… Cho đến thời cận đại, hiện đại, văn hoá phát triển có quy mô thế giới, văn hoá các dân tộc thâm nhập vào nhau. Cho nên tìm dáng vẻ dân tộc trong văn hoá hiện đại không những là khó, và đồng thời ở một số mặt nào đó, nhiều khi sắc thái dân tộc không phải là cái nên đặc biệt hoan nghênh

(Trần Ðình Hượu – Về vấn đề tìm đặc sắc văn hoá dân tộc, in trong Ðến hiện đại từ truyền thống – NXB Văn hoá & Thông tin, tái bản, H.1996, tr. 235 – 236).

Trong tình hình


giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật… Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, một ngành văn hoá nào đó trở thành đài danh dự, thu hút, quy tụ cả nền văn hoá

(Sđd, tr.240)

thì không có gì đáng ngạc nhiên khi nghe GS Phan Ngọc tâm sự


là người thức nhận, tôi đã hoài công phí bao năm tìm một cái gì thuần tuý Việt Nam, chỉ có một gốc mà tìm không được. Xin các bạn đừng bắt chước tôi

(Phan Ngọc – Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới. NXB Văn hoá & Thông tin, H.1994, tr. 108).

Rồi ông xác định


nước Việt Nam không phải là Ai Cập, Lưỡng Hà, Hy Lạp, Ấn Ðộ, Trung Hoa để cấp được những yếu tố tạo nên văn hoá thế giới. Nhưng nó ở ngã ba đường của các nền văn hoá, trong một trăm năm nay theo các văn hoá Pháp Mỹ, xã hội chủ nghĩa, hậu công nghiệp trong khi có sẵn một nội lực hùng mạnh chống sự đồng hoá, cho nên người Việt là bậc thầy về nghệ thuật bricolage

(Sđd, tr. 108 – 109).

Chúng tôi muốn dừng lại bàn sâu hơn ở điểm này.

IV.



Trong một lần trao đổi về đặc điểm của sự tiếp thu văn hoá từ bên ngoài vào nước ta với Giáo sư Hà Văn Tấn, tôi đã chia sẻ ở ông ý tưởng về việc người Việt không tiếp nhận bất cứ học thuyết nào nguyên trạng, mà thường là “cấu trúc lại“. Nhưng cũng chính thuật ngữ “cấu trúc lại” này lại khiến tôi băn khoăn. Nếu đối chiếu các học thuyết triết học, tư tưởng hay tôn giáo lớn nào đã từng được du nhập vào Việt Nam, đều có thể thấy không chỉ việc cấu trúc lại, mà cụ thể hơn, là đều bị đơn giản hoá, lắm lúc là đơn giản hoá đến mức lạ lùng. Lại có thể đồng tình với GS Phan Ngọc


Nhưng họ – người Nhật – đáng sợ vì biết từ bỏ con đường cũ, chuyển toàn bộ tài năng và nghị lực về con đường kinh tế … Cách bricolage của họ biểu hiện một sự thâm nhập vào kỹ thuật. Còn cách bricolage của ta vẫn dựa trên chất liệu dân dã, biện pháp thủ công

(Phan Ngọc, Sđd, tr. 110).

Ðến với cái mới nhanh và ứng phó linh hoạt trước mọi tình huống -dường như đặc điểm đó trong ứng xử của người Việt đã được hầu hết các nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam thừa nhận. Nhưng một khi không đổ máu do không có tâm lý kiền thành tôn giáo mà cũng không chịu đổ mực để bàn mọi chuyện cho ra lẽ, thì cách gạt bỏ mọi cấu trúc phức tạp, mọi sự xa lạ, khó hiểu, diệu vợi nữa lại đồng thời có nghĩa là gạt bỏ mọi thành tựu đỉnh cao, tự loại bỏ khỏi mình khả năng chinh phục được các đỉnh cao.

Mà không chiếm lĩnh được đỉnh cao, nghĩa là không tạo được bước đột phá cho công cuộc hiện đại hoá, không thể nở mày nở mặt trong thế giới hiện đại, một thế giới đã trở nên vô cùng phức tạp so với mọi thời đại trước kia trong quá khứ.

Trong mọi bình diện của văn hoá, cái cần nhất cho con người Việt Nam hiện đại, theo ý tôi, chính là năng lực chấp nhận mọi tình huống phức tạp của thực tiễn lẫn mọi sự gian nan của tư duy lý luận, khắc phục được bệnh đơn giản hoá vấn đề mà không đánh mất tính linh hoạt, nhạy bén và khả năng thấu thị, viễn kiến. Chung sống được, mà là cảm nhận được hạnh phúc, với cái dị kỷ, chính là một nhu cầu cấp bách để tiến lên, để trưởng thành.

4.1999

 
© talawas 2026