trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
4.2.2004
Bằng Sơn
Một năm xem phim truyện Việt Nam: 3 + 1
 

Dọn mình để đi xem phim Việt Nam bây giờ giống như sắp sửa quăng mình vào một cuộc phiêu lưu cầm chắc sẽ không thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Trước khi đi xem thì tần ngần mãi như bói hoa, ngồi dứt từng cánh đi – không đi – đi – không đi… Bói phải cánh “đi” rồi mà cứ thẫn thờ ngập ngừng mãi.

Tâm trạng ấy mà từ cuối năm trước cho đến cuối năm sau vẫn phải đi xem những phim mới làm ra, xem xong rất dễ bị đoàn làm phim chặn ngay ở cửa, thân ái bắt tay, hỏi một câu đại loại có tìm ra châu Mỹ hay không? Cuộc thám hiểm nào cũng phải tìm ra một cái gì đó, không tìm ra châu Mỹ để nhầm là Ấn Ðộ thì chí ít cũng phải lành làm gáo vỡ làm muôi, phải mang về một cái vỏ ốc con con trên một bãi biển mòn chân du khách.

Vừa mới buột ra câu trên, hóa ra nó vận ngay vào một bộ phim kha khá được xem nhiều nhất trong năm, nhiều nhất trong những phim từ thời mở cửa đến giờ. Ðúng là trong phim có nhiều cảnh bãi biển, vũ trường, nhà nghỉ, những nơi ăn chơi của trai gái giàu xổi hoặc đú đởn, những nơi hành nghề của biết bao số phận đáng thương và đáng cảnh tỉnh. Nhắc đến đây hẳn nhiều người đã nhận ra phim Gái nhảy (đạo diễn Lê Hoàng). Công bằng thì đó là phim xem được. Không lớn lao bí ẩn gì nhưng cũng không quá sơ giản vụng về. Không mấy lỗi lặt vặt về lôgích hình ảnh, lỗi vỡ lòng phim Việt Nam hay mắc. Một đường dây dẫn chuyện khá sáng rõ, cốt truyện đôi khi cảm động một cách tự nhiên. Kết phim người xem được cô cave cho một bài học thiết thực về sự bi đát của bệnh ết, trong một không khí thực mang ý nghĩa xã hội và có phần bi kịch hóa về mặt nghệ thuật. Xem xong hẳn, lại thêm một băn khoăn, phim này mà dán nhãn phim Thái Lan chắc cũng được, giống như sau cuộc thám hiểm Côlômbô dán nhãn cho người da đỏ châu Mỹ là người Ấn Ðộ thôi mà.

Không nhầm thì lại gặp nhiều người quen. Nói mãi rồi, quen lắm cái giọng diễn viên lồng tiếng. Tròn vành rõ chữ, tròn và rõ đến ghê người, chả lẽ nhân vật đang cố sống cuộc đời mà giọng lồng thì khách sáo để nhất quyết làm “người xa lạ”? Kỹ thuật chưa đủ để quay phim và thu tiếng đồng bộ, một vài phim thu đồng bộ làm chưa tốt, để rồi không hiểu từ đâu giới điện ảnh lại huyên truyền bài bác việc thu đồng bộ. Lý do đưa ra có vẻ thuyết phục: diễn viên ta giọng rất kém, đấy cứ xem Lê Tuấn Anh trong loạt phim truyền hình với cái giọng “nửa nọ nửa kia”, Quang Hải lắp bắp trong Người Mỹ trầm lặng. Thực ra, ngay cả hai giọng ấy nếu được đạo diễn lưu tâm chỉnh sửa cho phát âm có nghệ thuật thì vẫn còn hơn mấy cái giọng “người quen”. Xin nhìn sang Hollywood, rất nhiều diễn viên giọng “tệ hại”, nhưng giọng ấy lại làm cho nhân vật của họ đẹp hơn, xét theo tiêu chuẩn cá tính. Ngôi sao kỳ cựu Meril Streep giọng rất quê trong phim Giờ khắc và thêm âm sắc nhà quê gốc Ý trong Những cây cầu ở quận Madison. Giọng của Brad Pitt hay Sharon Stone cũng đầy thổ âm nhưng người xem vẫn thích nghe họ lồng tiếng cho nhiều phim hoạt hình – giọng “không tiêu chuẩn” nhiều khi lại làm nên nhân vật.

Còn giọng lồng tiếng trong Mê Thảo – thời vang bóng (đạo diễn Việt Linh) là con dao sắc nhất lăm le giết phim này. Mấy cái giọng “kịch tiêu chuẩn” ấy làm cho mặt diễn viên không cứng cũng thành cứng lên, đanh lại. Thử hình dung nếu giọng nói có độ cao thấp trầm bổng, có chỗ nhấn chỗ lướt, mười chữ chỉ rõ bốn chữ cốt yếu, còn thì xóa mờ đi sáu chữ đệm… được như thế thì gương mặt nhân vật sẽ sinh động hơn, gần gũi hơn, dễ tiếp nhận hơn. Nhiều người xem xong phim này nhăn mặt buông một tiếng: “Kịch”. Mà cái tội lớn nhất gây ra cảm giác kịch là giọng lồng tiếng, còn gì khác nữa? Sao có nghề như Việt Linh lại dễ dãi với phần lồng tiếng cho phim mình đến thế? Tiếc cho chị. Mê Thảo – thời vang bóng phảng phất đẹp. Vẻ phong lưu của ông cha một thời gợi lòng kiêu hãnh, người Việt thời chưa xa vẫn còn nét ấy, đâu phải chỉ in hằn dấu vết thuộc địa, nhược tiểu, những toan tính láu lỉnh, tầm thường. Chị cũng đã lách được qua uy danh của một tác phẩm văn học ít đặc sắc nhưng được thờ phụng để phóng tác thành cái có dấu ấn của riêng mình. Sự linh hoạt của Việt Linh làm tâm trạng khư khư “bảo hoàng nguyên tác” cảm thấy bị “xúc phạm”. Nếu biết quảng bá, Mê Thảo – thời vang bóng sẽ có đông người xem. Một cốt truyện huyền ảo không đơn giản, có nhiều khúc quanh dẫn vào chiều sâu, hình ảnh đẹp đẫm chất phong tục sẽ thu hút người xem ở đây và cả ở bên trời Tây.

Vượt thoát được cái sơ giản là điều cực khó với phim Việt Nam. Những phim thành công đều là loại phim theo dòng cảm xúc: cốt truyện đơn giản kiểu truyện ngắn, nhân vật đơn tuyến, đường dây kết nối mỏng manh, bao giờ cũng để lại cảm xúc bâng khuâng, mênh mang, bảng lảng. Có thể dẫn: Chim vành khuyên, Chị Tư Hậu, Mẹ vắng nhà, Bao giờ cho đến tháng Mười, Thương nhớ đồng quê… Thành tựu ấy đáng trân trọng. Nhưng vẫn thèm những phong cách khác. Mỗi bộ phim là một tiểu thuyết dày dặn, dồn dập sự kiện, nhân vật đa tuyến chằng chéo, đường dây không thẳng băng mà nhiều lối rẽ hợp lý. Những gì mà các tác giả đã gieo ở phần đầu Lưới trời (đạo diễn Phi Tiến Sơn) khiến người xem phấp phỏng chờ một tiểu thuyết như thế, nhưng khi gặt chỉ được một nắm thóc trên cả cánh đồng. Phim ít sạn, với phim ta đó đã là một tiêu chuẩn của thành công. Khuôn hình đẹp, phong cách của một đạo diễn biết nghề quay phim và cũng sành hội họa. Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong phim thật gợi cảm, đẹp một cách hiện đại, nếu ngồi xem với bạn bè nước ngoài, người ta có quyền kiêu hãnh về thành phố của mình. Những cảnh huê tình được dàn dựng công phu, có mỹ cảm, không gây ấn tượng ghê ghê quê quê vùng vụng như ở nhiều phim ta. Quan trọng là cảnh huê tình ấy không thể thiếu trong mối quan hệ xin – cho, tận dụng – lợi dụng mà phim đề cập. Nhưng cả một hệ thống tham nhũng được tổ chức chặt chẽ theo kiểu tập đoàn tội phạm maphia như thế, để đối lại chỉ dùng những mánh khóe con con là khó thuyết phục: ghi âm trong điện thoại di động, lưu số liệu bằng chứng trong một máy vi tính ở nhà, khi thủ tiêu bằng chứng chỉ cần di chân lên cái đĩa mềm giữa đường phố… Ðạo diễn không đóng nổi vai hiệp sĩ giải cứu người đẹp, một khi kịch bản đã sơ sài, không chặt chẽ. Các nhân vật mới chỉ dừng ở khái niệm, chưa được đẩy tới chiều sâu trong những mánh khóe, những thủ đoạn, những tội ác khiến chúng phải ra trước vành móng ngựa.

*

Một năm xem phim, có ba phim đáng bàn. Lẽ ra đã có thể dừng ở đây nếu như không có chuyện đạo diễn Vương Ðức (phim Của rơi) khủng khỉnh không chịu đứng chung giải của Hội Ðiện ảnh Việt Nam với phim Gái nhảy. Lòng kiêu hãnh của anh hóa ra là sự tự nộp mạng của phim Của rơi, lẽ ra nó đã được khoan hồng thì lại rơi vào tầm ngắm của giới phê bình và người xem.

Xem phim thấy người. Người thứ nhất: tác giả kịch bản Nguyễn Việt Hà. Kịch bản cũng như tiểu thuyết của anh, thậm chí giống cả tản văn anh viết. Người ta không sao xua được cảm giác đang vào phòng khách tân gia của một nhà giàu mới phất nouveaux riche. Bao giờ trên tường cũng phải có phiên bản những bức tranh Âu – Mỹ, ngày trước là Mùa thu vàngNgười đàn bà xa lạ, bây giờ là Dali hoặc Klim hoặc Chagall. Cho nó Tây. Bên cạnh là một bức thư pháp chữ Nhẫn chữ Tâm. Cho nó có vẻ minh triết phương Ðông. Làm sang bây giờ không thể thiếu mấy chữ tiếng Tàu. Dù chủ nhân của nó chẳng sành tiếng Tàu và nói tiếng Tây còn ngọng. “Tây” ở đây là một cô đi Ðức về, đạo diễn (người thứ hai) làm ta hắt hủi cái chất Tây này bằng cách cho cô ta ôm con lộc cộc khua guốc đi đủ mấy tầng cầu thang mới lên tới vấn đề. “Minh triết phương Ðông” ở đây là một ông già râu tóc trắng xóa, biên kịch muốn cho ra vẻ tiên phong đạo cốt nhưng quả tình đạo diễn đã làm ông ta nhang nhác mấy ông Phúc Lộc Thọ. Ðủ hai yếu tố thời trang ấy, câu chuyện cứ thế yên tâm kéo lê đi, mặc cho ai ngồi xem rã rời mòn mỏi. Ống kính quay phim cũng lây biên kịch và đạo diễn mà dễ dãi theo: khuôn hình nhìn ngay ngó thẳng, lười biếng, ít chịu xê dịch, đúng kiểu già truyền hình non phim truyện.

Rốt cục đúng mô típ của nhà biên kịch và không ngoài tầm dự đoán của người xem đang bơ phờ, ông Tam Ða lôi bàn cờ ra đốt. Khói mù. Hỏa mù tung ra. Gieo ra giữa mênh mông chẳng biết gặt thế nào thì ta trốn, như họa sĩ kém hình họa phải trốn ngay vào trừu tượng. Vậy là minh triết phương Ðông mù mờ khép lại, thật đôi lứa xứng đôi với sự “trích dẫn phương Tây” bằng một cô đi Ðức về (có vẻ đi lao động hơn là đi học).

Hỡi ơi, thương thay!

Thương cho người xem đã phiêu lưu. Lần nào trước khi thám hiểm cũng biết là mình sẽ ra về trắng tay, nhưng bản tính nhẹ dạ thương người: cứ thử thêm lần nữa, biết đâu.

 
© talawas 2026