trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
26.6.2003
Trần Doãn Nho
Một khuôn mặt độc đáo của văn chương Ấn Ðộ: Arundhati Roy
 

Hãy ngắm bức hình. Ðó là một thiếu phụ xấp xỉ tuổi 40. Không “sắc nước hương trời” lắm, nhưng phải công nhận rằng nàng đẹp, một nét đẹp khả ái, bí ẩn và rất cuốn hút. Chả thế mà nàng được tạp chí “People” (Hoa Kỳ) chọn làm một trong 50 người đẹp nhất hành tinh của năm 1998. Lại hiền nữa. Hiền? Không đâu. Nàng là người đã và đang gây ra nhiều sóng gió, sóng gió văn chương cũng như sóng gió chính trị. Nàng là ai?



Là Suzanna Arundhati Roy. Tác phẩm đầu tiên của bà là “The God of Small Things”, truyện dài và tác phẩm mới nhất hiện đang bày bán ở Hoa Kỳ tháng 5 rồi là “War Talks”, do nhà xuất bản “South and Press” (Boston) xuất bản, tập hợp những bài tiểu luận chính trị, đề cập đến nhiều vấn đề thời sự nóng hổi hiện nay. Bây giờ ngoài 40 tuổi, hiện sống ở Delhi, Arundhati Roy trải qua một thời tuổi trẻ đầy kịch tính. Bà sinh năm 1961 tại Bengal, Ấn Ðộ và lớn lên tại tiểu bang Kerala. Chưa đến tuổi trưởng thành, đã vất vả. Sống tự lập lúc mới 16 tuổi. Roy bỏ nhà đến Delhi, ở một mình trong một ngôi lều nhỏ lợp tôn nơi khu dựng lều bất hợp pháp, kiếm sống bằng cách bán ve chai. Sau đó, theo học ngành kiến trúc, lấy một sinh viên cùng ngành. Cả hai bỏ ngành kiến trúc, về thành phố Goa, bán bánh kẹo tại bờ biển cho khách du lịch. Lấy nhau được bốn năm, họ ly dị, không con cái gì. Lại một mình, lần này Roy bán trái cây. Nhờ may mắn, kiếm được một việc làm tại “National Institute for Urban Affairs”, hàng ngày, bà đi làm bằng một chiếc xe đạp thuê cũ kỹ. Sau đó, chuyển qua làm phim ở Massey Saab với giám đốc Pradeep Krishen, vì tò mò. Ðược một học bổng đi học ở Ý về việc phục chế đền đài. Thời gian này, bà tập tễnh viết lách. Về lại Ấn Ðộ, kiếm được một chân viết kịch bản phim truyền hình cho đài truyền hình, nhưng không mấy thành công. Có điều, chính cái không thành công này đã dẫn bà vào chuyện viết văn. Và “The God of Small Things” (Thượng Ðế của những điều vụn vặt) ra đời.

“Có nhiều điều trong lòng cần phải được nói ra. Viết về chúng cũng là cách đối phó (…) Nhưng tôi không viết cho người ta đọc. Tôi chỉ viết cho tôi”, bà cho biết, về sau này. “Cảm hứng cho tác phẩm chẳng phải là một ý tưởng hay một nhân vật mà là “hình ảnh của một chiếc xe Plymouth màu xanh da trời bị kẹt ở giao lộ đường tàu với hai đứa bé sinh đôi ngồi ở trong và bên ngoài là một đoàn diễn hành của những người Cộng Sản”. Nhưng còn cái tựa đề, sao lại là “God của những điều vụn vặt”? Roy cho biết “God của những điều vụn vặt” là một nghịch đảo của God. God là điều lớn, không kiểm soát được. God của những điều vụn vặt chính là cách mà trẻ con nhìn sự vật”. Trẻ con không có khái niệm về những cái lớn. Chúng chỉ tìm thấy thượng đế trong những điều nhỏ nhặt diễn ra hàng ngày ở quanh chúng.

“The God of Small Things” được dựng ở một thành phố nhỏ thuộc tiểu bang Kerala, Ấn Ðộ. “Nhiều khung cảnh trong “The God of Small Things” dựa trên kinh nghiệm của tôi về Kerala. Ðó là nơi duy nhất trên thế giới mà các tôn giáo gặp nhau: Ấn giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Mác-Xít…vừa sống chung vừa triệt hạ nhau. (…) Ðối với tôi, tôi không nghĩ có nơi nào trên thế giới tốt hơn để viết một tác phẩm về những kiếp người”, bà nói. Truyện viết về một gia đình, nhìn từ cái nhìn của một cô bé lên 7 tuổi tên là Rahel, nhưng bắt đầu từ một chuỗi hồi tưởng về quá khứ hai mươi ba năm trước của một Rahel người lớn, đi xa và trở về chỉ để tìm thấy một gia đình ly tán, một người anh bất túc và một ngôi nhà đổ nát. Cô và người anh song sinh tên là Estha, sống với mẹ là bà Ammu. Ammu lấy chồng rồi ly dị. Cả gia đình sống chung trong nhà bà ngoại với cậu, dì. Gia đình làm chủ một nhà máy thường hay có tranh chấp với những người cộng sản là đảng đang nắm chính quyền tại địa phương. (Ghi chú: Ấn độ là một nước dân chủ đại nghị, các chính quyền từ trung ương tới địa phương như tiểu bang, thành phố đều được bầu cử theo phương cách dân chủ. Tiểu bang Kerala là nơi đảng Cộng Sản rất mạnh, thường được bầu nắm giữ các chính quyền địa phương). Câu chuyện trở đi trở lại trước và sau khi Sophie Mol – cậu em họ lai Ấn-Anh của Rahel và Estha – cùng bà mẹ là Margaret Kochamma, từ Anh về thăm nhà. Ðời sống của chúng đột nhiên đắm chìm trong những biến cố mới mẻ, lạ lùng, đau đớn kể từ khi cậu em họ đến. Trước đôi mắt ngây thơ mở lớn nhìn cuộc đời của Rahel và Estha, mọi chuyện có thể thay đổi chỉ trong một ngày. Sophie Mol chết đuối, nguyên nhân không rõ ràng. Mẹ của chúng, Ammu và Velutha yêu nhau. Ðó là một mối tình lén lút, đam mê và bệnh hoạn. Vì Velutha, người thợ mộc trong gia đình, là một người thuộc giai cấp cùng đinh, tức là người có nguồn gốc hạ tiện. Ở Ấn, những người như Velutha được gọi là “untouchable” tức là những kẻ không được đụng đến. Ấy thế mà anh được cả hai đứa bé và người mẹ Ammu yêu mến. Không những thế, Velutha còn được xem là “The God of Small Things” vì là người quán xuyến tất cả mọi việc trong nhà và tốt với tất cả mọi người trong lúc những ngươì khác thì ích kỷ, hẹp hòi, cố chấp. Roy xây dựng nhân vật Velutha có cá tính và nhân cách hoàn hảo (như God) đến nỗi nhà báo Ruth Vanita (tạp chí Macushi Journal, số 103/1998), trong một bài điểm sách dài, cho rằng đó là điểm yếu nhất trong tác phẩm hay ho này. Rồi Velutha chết, một cái chết tàn nhẫn, bí ẩn khi bị bắt đến đồn cảnh sát. Thế là hết “the-god-of -small-things”! “God” chết, bà mẹ Ammu cũng chết luôn. Mối tình xuyên giai cấp (cross-cast love story/từ của tạp chí “Asiaweek”), chấm dứt một cách thê thiết!

Giống như những hầu hết những truyện đầu tay, “The God of Small Things” mang nhiều tính tự truyện. Nhân vật Rahel không khác mấy với cuộc đời của Roy. Truyện là một tổng hợp giữa tình yêu, sự điên loạn, nỗi đau khổ và niềm hy vọng. Bằng một lối viết duyên dáng, Roy thể nhập vào tuổi thơ, nhìn cái nhìn của tuổi thơ, phán đoán cái phán đoán của tuổi thơ, yêu và ghét theo cách riêng của tuổi thơ, xây dựng một câu chuyện có tác động mạnh mẽ và gợi cảm, tìm thấy những gốc rễ lịch sử và đam mê đã thúc đẩy mỗi một thành viên trong gia đình hình thành số mệnh theo cách riêng của mỗi người. Qua nhãn quan ngây thơ và trong sáng, hai đứa trẻ Rahel và Estha vẽ lại cuộc sống của chúng trong bóng dáng sự đổ nát của những người yêu mến trong gia đình từ mẹ, bà ngoại đến cậu, dì rồi Velutha. Sức mạnh của tác phẩm nằm ở chỗ nó phác họa sâu sắc và sống động hình ảnh của cuộc xung đột bi thảm trong một gia đình và từ đó, đẩy xa hơn đến mối xung đột rộng lớn về giai cấp, luật pháp, xã hội, văn hóa và lịch sử của Ấn Ðộ. Một Ấn Ðộä chênh vênh giữa hiện đại và truyền thống. Ðặc biệt lịch sử là một áp lực: nó là một gánh nặng đè mãi trong cuộc sống của mỗi một người. Tất cả những cái có vẻ lớn lao đó, thực ra, xuất phát từ những chi tiết vô cùng nhỏ bé, vụn vặt trong cuộc sống hàng ngày mà Roy mang vào trong truyện.

Như Salman Rushdie, “The God of Small Things” viết thẳng bằng tiếng Anh. Roy cho biết: “Ở Ấn, có nhiều người nói tiếng Anh hơn ngay cả ở tại nước Anh. Và nó là ngôn ngữ duy nhất mà chúng tôi có trên toàn đất nước. Cũng thật là kỳ quái: Anh văn là thứ ngôn ngữ, đối với một người như tôi, được chọn lựa sẵn trước khi tôi đủ lớn để biết chọn lựa. Ðó là thứ ngôn ngữ duy nhất mà bạn phải sử dụng nếu bạn muốn có một việc làm tốt hoặc nếu bạn muốn lên học đại học. Tất cả những tờ báo lớn đều bằng Anh Văn. Mỗi một người chúng tôi phải biết nói ít nhất là hai hoặc ba thứ tiếng – như tôi là ba. Và khi chúng tôi nói chuyện với nhau – một nhóm bạn chẳng hạn – cuộc nói chuyện hoàn toàn có vẻ vô chính phủ (nguyên văn: anarchy) bởi vì chúng tôi nói lung tung, ngôn ngữ này chen ngôn ngữ kia, chẳng thứ nào là chính cả.” Có lẽ vì viết bằng tiếng Anh và vì Roy cho biết bà rất thích Rushdie, nên một số nhà phê bình cho rằng văn phong của bà ảnh hưởng của Salman Rushdie. Ðúng. Tuy nhiên, không giống như Rushdie, “The God of Small Things” dễ tiếp cận hơn. Theo Saglain Imam, “Văn của bà là một loại văn trữ tình. Nó không phải là thứ tiếng Anh bình thường như những nhà văn Anh viết. Họ thường bị nhốt trong văn phạm và các quy ước ngữ học của họ. Hầu hết những nhà văn Ấn bị nhốt trong cái họ bị nhốt (hai lần nhốt), còn Roy thì viết tiếng Anh theo cách tưởng tượng riêng của bà”. Roy là một nhà văn dám phá vỡ quy luật, chuyển dịch nhịp điệu và tạo ra một thứ ngôn ngữ mới, chưa hề có trước đó. Có nhà phê bình nhận xét văn của bà có nhạc tính. Trong một cuộc phỏng vấn, khi được Reena Jana (Tạp chí “Salon”, San Francisco, Hoa Kỳ, số ngày 30.7.1997) hỏi về nhạc tính trong văn, bà trả lời “Tôi không nghe nhạc khi viết. Mà là nghĩ về các mẫu thiết kế. Tôi vốn học ngành kiến trúc. Viết cũng như kiến trúc. Khi xây dựng những cao ốc, có những mẫu thiết kế được lập đi lập lại. Những mẫu này giúp chúng ta cảm thấy dễ chịu trong một không gian vật lý nào đó. Tôi khám phá ra rằng viết cũng thế. Với tôi, cái cách mà các con chữ, các dấu ngắt câu, các đoạn rơi trên giấy rất là quan trọng – một loại đồ họa của ngôn ngữ. Ðó là lý do tại sao những chữ và những tư tưởng của Estha và Rahel lại có vẻ tức cười, nghịch ngợm trên trang giấy. Tôi sáng tạo theo mẫu thiết kế của chúng. Các con chữ có khi tách, chẻ ra lại có khi dính lại. Chẳng hạn “later” thành “Lay.Ter”; An owl thành A Nowl; Sour metal smell thành “sourmetal smell”…Tôi thích lập lại, dùng lại các con chữ vì cái đó giúp tôi cảm thấy an toàn. Những chữ và câu lập lại gây cho ta cảm giác được ru, được đong đưa, y như được nghe câu hát ru em. Chúng giúp ta thoát khỏi cơn “sốc” của cốt truyện – là cái chết, những cuộc đời bị phá hỏng, khoảng cách rùng rợn của khung cảnh, là những điên rồ, mơ hồ, xúc động…”

Tác phẩm hoàn tất vào tháng 5/1996. Tình cờ bà gặp Mishra, đại diện cho nhà xuất bản Harper Collins ở Ấn. Ðưa bản thảo cho ông đọc, ông ta rất thích và chuyển ngay về Anh. Ông ta bảo “Ðây là tác phẩm vĩ đại nhất kể từ “Midnight’s Children” (của Saman Rushdie)”. Ngay lập tức, Harper Collins cử người sang ký ngay với bà một hợp đồng. Không ai có thể tưởng tượng cái giá mà Harper Collins trả cho tác phẩm đầu tay của một tác giả hầu như vô danh cho đến thời điểm đó: 238.000 đô-la. Sau đó, 8 nhà xuất bản khác giành giựt nhau để ký hợp đồng với bà về xuất bản tác phẩm bằng bìa cứng. Cuối cùng, bà chọn Random House. Ba tháng sau, 9/1996, tin về tác phẩm lần đầu tiên được tung ra trong ngành truyền thông Ấn Ðộ và lập tức tạo nên một cơn bão văn chương (literary storm). Tháng 10/1996, gần 400 ngàn ấn bản bán sạch trên toàn cầu và liên tiếp đứng đầu danh sách bestseller tại nhiều nơi trên thế giới. Trên tờ New York Times, nhà văn John Updike so sánh ảnh hưởng của sự xuất hiện tác phẩm với thành tích thần kỳ của tay chơi golf trẻ Tiger Woods, Hoa Kỳ, thực hiện tại cuộc thi đấu “Grand Masters”, Atlanta, bang Georgia. Ông còn cho rằng tác phẩm là âm vọng của William Faulkner, Vladimir Nabokov (Hoa Kỳ) và James Joyce (Anh). Ở Anh, tác phẩm nằm ở đầu danh sách bestseller của tờ “The Sunday Times” trong 4 tuần liên tiếp. Sách bìa cứng bán trên toàn thế giới đạt đến con số 100 ngàn. Ở Ấn, sách liên tục tái bản mà vẫn không theo kịp được nhu cầu tiêu thụ, mặc dầu giá một cuốn là 400 đồng rúp-pi Ấn, tương đương với lương trung bình ba ngày của một công nhân. Số lượng bán ra chỉ có thể so sánh với Rushdie và Vikram Seth.

Lập tức, tác phẩm gây ra tranh cãi tại cả Anh lẫn Ấn. Ở Anh, các nhà phê bình văn học tranh cãi dữ dội về tác phẩm, nhất là khi tác phẩm nạp tranh giải Booker 1997. Các nhà phê bình, nhà văn chia làm hai phe bút chiến với nhau bằng những bài viết sôi nổi. Nhưng nói chung, báo chí ủng hộ Roy hết mình. Và ngoài sự mong đợi, tác phẩm đoạt giải Booker năm 1997. Ðiều đáng nói là hai nhân vật nổi tiếng trong văn giới Anh cũng dính líu vào cuộc tranh cãi. Một là bà Gillian Beer, ủng hộ Roy vì bà là chủ tịch ban giám khảo giải Booker 1997, người đóng góp vào quyết định trao giải cho Roy. Người kia là bà Carmen Callil, chủ tịch ban giám khảo giải Booker năm 1996. Trong buổi lễ trao giải, Gillian Beer phát biểu: “Với một khả năng sáng tạo ngôn ngữ tài tình, Roy đã soi rọi vào lịch sử miền Nam Ấn Ðộ qua một cái nhìn của một cặp song sinh 7 tuổi. Câu chuyện mà bà kể vừa chung vừa địa phương: về tình yêu và cái chết, về sự dối trá và về luật pháp. Nhân vật của bà phá tan màn bí ẩn và kể lại câu chuyện một cách rõ ràng. Hết thảy chúng ta đều bị lôi cuốn bởi câu chuyện cảm động này”. Trên đài truyền hình, trong một cuộc thảo luận văn học phát ra cùng một lúc với lễ trao giải, Carmen Callil không ngần ngại tuyên bố rằng “The God of Small Things” là một “tác phẩm tồi tệ” (execrable book) và nhấn mạnh rằng tác phẩm đừng có hòng vào được vòng chung kết chứ đừng nói đến chuyện đoạt giải, nếu bà là chủ tịch ban giám khảo giải 1997.

Trong lúc đó, ở Ấn, không khí lại càng ồn ào hơn nữa. Nhất là tại nơi sinh trưởng của tác giả. Một viên chức cao cấp tiểu bang Kerala là Nayanar (thuộc đảng Cộng Sản) lên án tác phẩm là một âm mưu của Tây phương chống lại phong trào Cộng Sản. Ông ta cho rằng tác phẩm được phương Tây ca ngợi vì tác phẩm có chứa “nọc độc chống Cộng”, ý ám chỉ mấy nhân vật Cộng Sản mà Roy dựng nên trong tác phẩm có tính cách bôi bác. Lời lên án đó lập tức bị nhiều nhà văn, nhà thơ, trí thức và sử gia cực lực bài bác. Quyết chống nhà văn cho tới cùng, vào tháng 6/97, Sabu Thomas, luật sư của đảng Cộng Sản tiểu bang, nộp đơn kiện tác phẩm ra toà. Lý do: “The God of Small Things” có tính cách tục tĩu và mang xu hướng đầu độc đầu óc của độc giả, làm bại hoại luân lý. Ông ta nêu ra đoạn gây nhiều ấn tượng nhất nằm ở chương cuối: cảnh làm tình giữa bà Ammu, một nữ doanh nhân, và một “untouchable”, một kẻ thuộc giai cấp cùng đinh (tức là Velutha). Những quan hệ như thế là một điều cấm kỵ trong một xã hội nơi bị xem là tội lỗi khi có quan hệ với những phần tử thuộc giai cấp cùng đinh. Ông yêu cầu, nếu muốn xuất bản, tác giả phải rút lui chương cuối cùng. Thật là kỳ lạ, theo nhận định của các nhà phân tích, điều này xảy ra ở một nơi đã từng sản xuất ra một trong những cuốn sách dạy cách làm tình nổi tiếng nhất thế giới là “Kama Sutra” và là nơi mà bất cứ một tiệm bán đồ lưu niệm nào cũng bày bán “Kama Sutra” với hình minh họa đủ kiểu dành cho khách du lịch và những cặp tình nhân cất dấu dưới gối. Các màn sex, tuy không lộ liễu lắm, không chỉ nằm ở chương cuối mà nằm rải rác ở nhiều chương khác nhau trong suốt tác phẩm. Có cả một đoạn khá ấn tượng, trong đó, Roy diễn tả cảnh một chú bé bị bắt buộc phải thủ dâm với một người lạ mặt trong rạp chiếu bóng. Vả lại, trong lúc nhiều nhà phê bình văn chương xem những cảnh làm tình là một trong những điểm yếu của tác phẩm thì Thomas lại biến nó thành một đề tài lớn. Rõ ràng lý do nêu ra chỉ là cái cớ.

Thế là, sau một chuyến du hành đầy thắng lợi từ Âu châu qua Mỹ châu, bà phải trở về tiểu bang nhà để ra tòa. Trả lời trong cuộc phỏng vấn với Reena Jana (đề cập ở trên), Roy cho biết: “Khi lần đầu tiên nghe buộc tội, tôi vô cùng tức giận. Người ta cố ý kiện tôi trong khi tôi đang đi vòng quanh thế giới để giới thiệu sách. Vào tháng 6, chẳng ai nói cho tôi biết về vụ kiện có lẽ vì họ không muốn tôi buồn phiền. (…). Ðối với tôi bây giờ điều quan trọng là tranh cãi ngay trên quê hương CỦA TÔI. Ðể trình bày trường hợp CỦA TÔI (Roy nhấn mạnh) về văn chương, về tự do tư tưởng. Ðiều đó còn quan trọng hơn là đi ra mắt sách. Ðó là một cuộc chiến đấu thực sự (…) Tôi không sợ, tôi có thể đối phó và tự mình chứng minh công lý cho mình”. Mãi cho đến gần đây, vụ kiện vẫn còn dằng dai, chưa hoàn toàn kết thúc. Trong lúc đó thì nhà văn Arundhati Roy đã trở thành một khuôn mặt vang danh hoàn vũ.

Với danh tiếng có được từ lãnh vực văn chương, bà dấn thân vào một lãnh vực khác với một sự hăng say đặc biệt, đôi khi chẳng mấy dính dáng gì đến văn chương: tranh đấu cho hòa bình. Robert Marquand, trên “The Christian Science Monitor”, đánh giá “Roy xuất hiện trên sân khấu văn chương Ấn như một ngôi sao chổi xẹt ngang qua bầu trời không ai biết trước. Roy là một khuôn mặt văn chương hấp dẫn, một loại lương tâm công cộng (populist conscience). Bà có một đam mê về sự công chính và những vấn đề bức xúc trong cuộc sống hàng ngày. Bà luôn luôn thách đố với những tiêu chuẩn , những quy định có sẵn, bà là người thích đặt vấn đề (questioner)”. Roy đã từng xác quyết: “Ngay từ khi còn nhỏ, tôi đã xác định phải thương thuyết với thế giới theo cách riêng của tôi” (negociate with the world on my own).

Ở lãnh vực này, bà trở thành tiếng nói của lương tâm quần chúng – một Pablo Neruda của Ấn Ðộ. Tháng 5/1998, khi Ấn Ðộ tiến hành thử nghiệm bom nguyên tử (để răn đe Pakistan)- dù bị dư luận quốc tế chống đối nhưng dân ủng hộ -, bà chống đối dữ dội. Tháng 7/98, cùng với các nhà hoạt động khác nổi tiếng trên thế giới như Kofi Annan, Graca Machel (Nam Phi), John Hume (Bắc Ái Nhĩ Lan), Ang San Sui Kui (Miến Ðiện)…, bà cho đăng một bài viết kết án cuộc chạy đua nguyên tử là “điên rồ, nguy hiểm”. Bà cũng chống đối việc xây dựng một con đập trên giòng sông Narmada (Ấn Ðộ) xóa sổ 245 làng mạc. Ðồng thời, bà đứng chung danh sách với nhiều nhà hoạt động quốc tế khác đòi hỏi hòa bình và công chính cho toàn thế giới, chống chính sách toàn cầu hóa do các nước Tây Phương chủ trương. Sau biến cố 11/9, bà mạnh mẽ chống lại chính sách chống khủng bố của chính quyền tổng thống Bush và cuộc chiến tranh gọi là “chiến tranh phòng ngừa”. Các bài viết của bà, với văn phong rất riêng, khi thì đanh thép, khi thì mỉa mai, khi thì đầy xúc cảm, được đăng tải hầu hết những tờ báo lớn trên thế giới, từ “The Guardian” (Anh), “Le monde” (Pháp), “El Pais” (Tây Ban Nha), “Der Spiegel” (Ðức)…cũng như được chuyền (qua email) và thảo luận sôi nổi trên mạng lưới toàn cầu. Có thể kể ra đây:The End of Imagination, The Greater Common Good (hai bài này được in lại trong tác phẩm nhan đề là “The Cost of Living” đề cập đến vụ thử nghiệm bom nguyên tử và xây đập thủy điện của chính phủ Ấn Ðộ), The Algebra of Infinite Justice, Insult and Injury in Afghanistan, Stop Bombing Afghanistan, War is Peace (mấy bài này in lại trong “Power Politics” đặt vấn đề về các chính sách của Hoa Kỳ sau biến cố 11/9 ở New York). Bài mới nhất viết vào tháng 4/2003 là “Mesopotamia. Babylon. The Tigris and Euphrates” đề cập đến cuộc chiến tranh ở Iraq. Tất cả các bài viết đều có giọng văn xác tín cao độ về những gì mà bà đang tranh đấu. “Là một nhà văn, người ta dành suốt đời du hành vào trong lòng của ngôn ngữ, là một cố gắng để thu hẹp, nếu không là loại bỏ, khoảng cách giữa ngôn ngữ và tư tưởng. Ngôn ngữ là da thịt của tư tưởng tôi, tôi nhớ đã nói như vậy khi có người hỏi tôi rằng ngôn ngữ đối với tôi có nghĩa gì”.

Sự xác tín và lòng nhiệt thành dường như đã đẩy Roy đi quá xa trong nhiều lập luận, tiến đến chỗ cực đoan, gây những tranh cãi khá gay gắt trong giới trí thức, nhà văn, sử gia, chính trị gia, nhà báo ở Ấn Ðộ cũng như ở nhiều nước trên thế giới. Ở Ấn Ðộ, sự kiện bà quyết liệt chống vụ xây đập thủy điện cũng như chống thử bom nguyên tử gây nên nhiều xáo trộn chính trị, khiến bà đánh mất đi cảm tình trong nhiều người, cảm tình mà bà có được sau khi “The God of Small Things” ra đời. Vụ đập thủy điện, tuy làm thiệt hại đến quyền lợi một số dân cư nhưng lại có lợi cho nền kinh tế quốc gia nói chung. Hoặc vụ thử nghiệm nguyên tử được đa số dân chúng ủng hộ vì liên hệ đến danh dự quốc gia và vấn đề quốc phòng. Những phát biểu thẳng thắn và quyết liệt đó khiến bà phải ra tòa nhiều lần và có lần bà đã bị Tòa Án Tố Cao kết án một (1) ngày tù giam vào mùa xuân 2002 vì thái độ coi thường tòa án.

Quan điểm về Hoa Kỳ lại còn cực đoan hơn. Bà không úp mở cho rằng vụ khủng bố 11/9 chống Hoa Kỳ là “ác giả ác báo”. Roy viết “Khủng bố là một xí nghiệp toàn cầu cũng như Coke hay Pepsi hay Nike. Những kẻ khủng bố chuyển “xưởng sản xuất” của họ từ xứ này sang xứ khác để tìm một hợp đồng tốt, giống như các công ty đa quốc” (…) “Những kẻ khủng bố là các bóng ma của những cuộc chiến tranh cũ mà Hoa Kỳ tiến hành”. Bà lên án cuộc chiến tranh mà chính quyền Hoa Kỳ tiến hành ở Afghanistan, và mới đây ở Iraq. “Bất kể bộ máy tuyên truyền nói với chúng ta những gì, những tay độc tài hạ tiện kiểu này (chỉ Saddam Hussein) không phải là đe dọa lớn nhất cho thế giới. Mối hiểm nguy thật sự và cấp tốc, đe dọa lớn nhất của tất cả chính là sức mạnh phát động đã hướng dẫn bộ máy chính trị và kinh tế của chính phủ Hoa Kỳ. Rõ ràng là chiến tranh chống khủng bố không thực sự là về khủng bố, và chiến tranh về Iraq không phải là về dầu hỏa. Mà là về xung lực phá hủy của một siêu cường để trở thành siêu đẳng, chiếm lĩnh quyền lãnh đạo toàn cầu”.

Quan điểm của bà được ủng hộ cũng nhiều mà chống đối cũng lắm. Ðọc thử vài trích đoạn của Ian Buruma (trong Outlook India.com, 5/2002): “Trong truyện dài của bà, Roy tỏ ra thích thú lối dùng hình tượng sum suê, chữ nghĩa phô trương, lòe loẹt. Ðã thế, bà lại đem cái phong cách quá riêng tư của bà áp dụng trong các bài tiểu luận khiến chúng đâm ra tối nghĩa. Bài viết lốm đốm đây đó những lời nói rỗng tuếch y như mấy bài thơ hài cú suồng sã, chẳng hạn những câu như sau “Thế giới của tôi đã chết. Và tôi viết điếu văn để thương tiếc quá khứ của nó” (nói về Ấn Ðộ thử bom nguyên tử) hoặc “Kẻ khủng bố đối với xứ sở này rất thường là kẻ chiến đấu cho tự do của một nước khác” (về vụ khủng bố 11/9). Ở một đoạn khác: “Theo cái nhìn của Roy thì “bất cứ một nước thuộc Thế Giới Thứ Ba nào với một nền kinh tế yếu kém và nền tảng xã hội phức tạp nên biết từ bây giờ rằng khi mời một siêu cường như Hoa Kỳ vào …thì cũng giống như lấy một viên đá ném xuyên qua cửa kiếng xe”. Hóa ra bà không biết rằng chính những nhà nước “khách hàng cũ” của Hoa Kỳ ở Ðông và Ðông Nam Á như Nam Hàn, Ðài Loan, Thái Lan, Nhật Bản đã phát triển về cả chính trị lẫn kinh tế. Miền Nam Việt Nam, nếu vẫn còn nằm dưới ảnh hưởng của Hoa Kỳ, chắc chắn sẽ không thua gì các nước trên”.

Một trích đoạn khác, ngược lại: “Vừa là một nghệ sĩ vừa là một công dân của thế giới, Arundhati Roy viết về các xã hội dân sự chịu ảnh hưởng xấu xa bởi những nhà nước và tổ hợp thế lực nhất thế giới. Chúng tôi vinh dự ca ngợi cuộc đời và tác phẩm của bà trong cuộc đấu tranh cho tự do, công lý và sự đa dạng về văn hóa”

Ðó là phát biểu của chủ tịch cơ sở Patrick Lannan Jr. trong một bản thông cáo từ Santa Fee (tiểu bang New Mexico, Hoa Kỳ) khi quyết định trao cho nhà văn Arundhati Roy giải thưởng Tự Do Văn Hóa 2002 (Prize for Cultural Freedom) vào cuối tháng 9/2002 vừa qua. Ðây là lần trao giải thưởng thứ tư của Quỹ Lannan (Lannan Foundation), trị giá tới 350 ngàn đô la. Giải này được thành lập để thừa nhận những người mà các tác phẩm can đảm và xuất sắc của họ ca ngợi quyền con người được tự do tưởng tượng và tự do phát biểu.

Ðúng là thịphi! Riêng tôi, tôi khoái một Arundhati Roy, nhà văn. Mong bà trở lại với văn chương, viết tiếp cuốn thứ hai, thứ ba, thứ tư, vân vân. Small things hay big things gì cũng được, miễn là hư cấu. Viết truyện và đọc truyện có lẽ thú hơn là thay đổi thế giới. Vì có thay đổi thì …cũng thế thôi.

(6/2003)

© 2003 talawas

 
© talawas 2026