trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
1.1.1990
Nguyễn Hữu Hồng Minh
Một góc nhìn vào thơ Việt Nam từ một thế hệ
 

Cuộc tranh luận về thơ trẻ trên tạp chí Tia Sáng những số gần đây qua các bài viết của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Hoà kể cả bức “Thư ngỏ gửi các nhà phê bình” của nhà văn trẻ Lưu Minh Sơn hâm nóng lên được không khí vốn tẻ nhạt trong tình hình văn học hiện nay. Tuy nhiên vẫn còn thiếu một đối trọng cần thiết là ý kiến của các nhà thơ trẻ, đối tượng chính của vấn đề trao đổi. Vì lẽ đó tôi mạn phép viết bài này.



Phải nói ngay rằng khái niệm “Thơ trẻ” mà nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và mở màn do anh Nguyễn Thanh Sơn (Tia Sáng số 5, bài Văn trẻ hôm nay) lập ngôn cho chúng tôi là một sự ưu ái. Bởi tôi, nhân danh chính mình, tôi đã “cắt lớp” Thơ Mới từ rất lâu, và bao giờ khẩu hiệu “chôn Thơ Mới” của nhà thơ Trần Dần cũng kêu gọi tôi. Tôi luôn bị ám ảnh tại sao lại không “chôn Thơ Mới” khi nó đã sống quá già và quá lâu… và bây giờ cũng đã lên lão… 70 tuổi (!?). Tôi luôn cảm thấy Thơ Mới là một cái xác và chất nặng lên vai mình một hình bóng ngất ngoải không sống không chết. Suốt 70 năm dù thơ Việt Nam có thể chia làm nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn một cách rõ ràng nhưng chung qui vẫn trong hệ thống vần điệu và giam cầm trong từ trường của thơ Mới phát ra. Nói thì các bác, các chú ghét nhưng không thể không nói, thực tế Tuyển tập thơ Việt nam 1975- 2000 gồm 3 tập đồ sộ, hơn 500 bài (NXB Hội nhà văn 2001) chỉ có bề ngang chứ không có chiều cao. Nếu đọc thơ và che tên tác giả đi thì… không thể nhận ra ai là ai. Tôi chợt nhớ 2 câu thơ của Trần Dần:



Tôi khóc những người bay không có chân trời

Lại khóc những chân trời không có người bay

(Không đề)

Cái khóc của một thi sĩ gần 50 năm bây giờ ông đã xuống mồ tưởng vẫn chưa khô lệ. Câu thơ đó lưu đày một thế hệ. Một trong những điểm nhọn sắc tột cùng của thi ca.

Trở lại ý tại sao tôi nghĩ nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và anh Nguyễn Thanh Sơn ưu ái? Bởi qua bàn cãi về thơ trẻ, các anh đã nhận ra chân dung, khát vọng của thế hệ chúng tôi. Dù chưa ngã ngũ hay diễn đàn này sẽ khép lại trong tình thế “bất phân thắng bại” thì như khẳng quyết của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo: “Vấn đề chung là không thể phủ nhận họ, bởi họ đã làm mình phải “đọc kỹ” thơ họ” (Tia Sáng 12.2001). Nhưng liệu có phải đến “Thơ Trẻ” hôm nay mới có những điểm mới không? Tôi cho rằng chúng tôi chỉ là một điểm nối quyết liệt của một đứt đoạn dài thăm thẳm qua bao năm tháng. Lịch sử có những thăng trầm khó nhọc của nó ở những khúc quanh, sự chuyển tiếp. Các thế hệ nhà thơ Trần Dần, Ðặng Ðình Hưng, Văn Cao, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Lê Ðạt (sau này ông cách tân thơ rất nhiều qua Bóng chữ và Ngó lời) sau đó một chút là các nhà thơ Thanh Thảo, Hoàng Hưng… đều có những đóng góp quan trọng trong đổi mới Thơ. Ðặc biệt hơn với trường hợp nhà thơ Nguyễn Ðình Thi và nhóm Xuân Thu Nhã Tập của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh. Khảo sát kỹ chúng ta có thể nhận thấy có những bài thơ thật hay, mới lạ, mang đậm tính sáng tạo, một sự hỗ tương hài hoà sang trọng giữa ý nghĩ, âm thanh và nhịp điệu (ví dụ bài Ðất nước, Màu thời gian, Buồn xưa). Nhưng vì những nhiệm vụ cao cả và cụ thể của lịch sử, vai trò cá thể, độc sáng của nhà thơ đã không được đề cao, tính cá nhân bị lãng quên khi “Những nhà thơ có nhiệm vụ chứng tỏ là đời họ đã ăn sâu vào đời những người khác trong cuộc sống chung” (Paul Eluard) hay đề cao triết lý của Goethe: “Thơ nào cũng là thơ của một thời sự”. Vì thế thơ bám sâu vào hiện thực, chối bỏ các biểu tượng, sự bí ẩn, một khải thi ca bằng ngôn từ. Thơ xa rời những địa hạt hiểm hóc (như siêu hình, tượng tương, trí tuệ, siêu thực) thuần tuý là diễn đạt nhiệt tình “chân chân chân, thật thật thật” như nhà thơ Xuân Diệu đã thú nhận.

Ở miền Nam, Sài gòn cũ, từ những năm 1954 nhóm Sáng Tạo do Mai Thảo và Thanh Tâm Tuyền ra đời đề cao tính sáng tạo và thơ tự do. Hai tác phẩm Tôi không còn cô độcLiên, đêm mặt trời tìm thấy của Thanh Tâm Tuyền thực sự là những cú nổ gây sốc về thơ thời bấy giờ. Ở đây chúng ta có thể thấy rằng các nhà thơ Việt Nam tìm cách bứt ra từ trường của Thơ Mới rải rác mỗi thời kỳ, mỗi thời điểm đều có người chứ không phải ngoại lệ. Nhưng tại tất cả đều đứt đoạn một cách thê thảm hay không thành dòng. Theo tôi do áp chế và bối cảnh của xã hội hiện thời, tư duy tiểu nông và đầm lầy vốn chậm tiến, thích môi trường quen thuộc của người Á Ðông và quan trọng hơn thiếu sự thu hút rộng mở phức tạp của đô hội những đô hội hiện đại.

Sự xuất hiện của các nhà thơ trẻ dựng lên cuộc tranh luận về “Thơ Trẻ” trong thời gian vừa qua là dấu hiệu thấy rõ sự căng thẳng, tính hiệu ứng và bùng nổ của cơn lốc đô thị xâm nhập vào thế giới ngoại cảm của người làm thơ. Trong sự thay đổi và phát triển đến chóng mặt của dữ kiện, những phương tiện truyền thông, cũng như những cơn bão lốc của thông tin thơ thực sự mất nơi cư trú nếu như nó không chịu thay đổi cùng nhịp với tần số xã hội hiện đại. Nếu như các cuộc “cách mạng” thơ trước đây rải rác, đứt quãng và không thành công vì nó chưa thực sự tác động mạnh đến thức tỉnh nhiều người thì bây giờ nhu cầu giải phóng sự mất cân đối, tìm lại chính mình trong sự mất tự do bởi tính phân thân, rối loạn cảm thức của đời sống đa chiều của con người hiện đại là cần thiết “Những suy nghĩ ken vào nhau/Như kẹt xe trước ngã năm ngã bảy” (thơ Nguyễn Từ Phương Ðông). Do đó tính va đập, xẹt lửa, truy bức vào thơ đã vô tình chạm vào nguyên tính bản thể “Sự nổi loạn cá tính là điều kiện chủ yếu cho sự tồn tại một thi sĩ” (Blaga Dimitrova). Ðó là bản năng nhục thể (tưởng mạnh mẽ cuồng loạn mà thực ra là yếu đuối và thê thảm) của thơ Vi Thuỳ Linh: Muốn giải thoát nỗi sợ dai dẳng căn phòng bộn chữ. Là sự phức tạp, “Bin- Lađen”, phù thuỷ của thơ Văn Cầm Hải: Mi khiếp đảm mọi sự hoàn thiện/Qua thơ mi cái ác sẽ tươi tắn hẳn lên. Tôi chia sẻ với anh Nguyễn Hoà sự khiếp đảm, sợ hãi của anh đối với nhà thơ này bởi trước hết nhà thơ muốn “chơi thơ trên các kiểu” này lại đang chơi theo một kiểu, một thế không tạo sự dễ chịu khinh khoái cho anh. Sự tìm kiếm của Văn Cầm Hải nghiêng về tính dị biệt, quái đản, gu riêng và “đô” mạnh. Ðây là một quan điểm sáng tạo đã từng tạo nên Hoa Ác như của Baudelaire, hay một tuyên ngôn nổi tiếng không kém của Samuel Beckett trong vở “Trong khi chờ Godot“- Nơi nào chúng ta rụng xuống sẽ mọc lên loài cây độc. Vấn đề là cách chọn lựa, cảm nhận và thưởng thức tuỳ theo gu mỗi người. Ví dụ như tôi thích thơ “tính dục” của Phan Huyền Thư hơn sự kêu la chí choé của chị Vi Thuỳ Linh vì thơ “đàn bà” hơn, có “nghề” hơn: – Trang sức: Ác và đói/ Nghèo và ngu/Tôi nằm đây đợi loài người trở lại/Ðể nói về sự đi”. Hoặc: Ðàn ông những năm bốn mươi/ Da cam màu lửa/ Khủng hoảng giữa đời.

Không ai có quyền lấy sở thích, cái hay của mình để can gián người khác. Ðó cũng là một văn hoá, một cách thưởng thức thơ tự do của con người hiện đại. Nhưng tôi đặc biệt lưu ý đến thơ của nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh. Anh Nguyễn Thanh Sơn cũng là người nhắc đến thơ tác giả này đầu tiên trên Tia Sáng số 5. 2001 (Văn trẻ hôm nay). Nay tôi muốn chia sẻ thêm: Nguyễn Quốc Chánh là một nhà thơ có thể xem là một đối trọng với thơ của Nguyễn Quang Thiều trong cuộc đổi thay khá lớn lao hiện nay của thơ hiện đại. Nếu như thơ Nguyễn Quang Thiều đem lại một không gian mới căn bản cho đời sống tiểu nông (nông nghiệp-lúa nước) làm mới hẳn cái khung tù hãm, ao đọng tưởng hàng nghìn năm thì thơ Nguyễn Quốc Chánh lần những bước đầu tiên hướng thơ mình tiến vào khung cảnh của đô thị căng thẳng và tàn bạo. Anh cũng là người đầu tiên dịch “Ðất hoangThe waste Land của Eliot (Viết thơ- Nxb Thanh niên 8.2001) xem đó như tuyên ngôn của Thơ mình. Khí hậu đồ vật (Nxb Trẻ 1997) là tập thơ của tác giả có thể tìm thấy nhiều thử nghiệm “siêu ngữ nghĩa” của thơ trong một bố cục cô đặc của sức nén hạng nặng. Tôi vịn thần kinh tránh những tiếng động có hình thù của rắn trong bắp chân, tôi bị xoắn thành dây cháy chậm nhưng thiếu que diêm. Và đô thị hiện đại đã trở thành ám tượng trong cái nhìn thi sĩ: Những ô cửa nhìn ngây những tầng nhà ngái ngủ những đường phố chết dưới vòng tròn/ Và người mòn cả bóng.



Và thơ trẻ phải chăng đã và đang chối bỏ sự minh hoạ hay tuyên cáo những đường viền kẻ sẵn cho nghệ thuật.

 
© talawas 2026