trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
22.1.2003
Bùi Giáng
Một đường lối dịch Thơ
 

Dịch thơ

là điều khảm kha nhất. Dịch thơ ắt phải cho ra thơ – nói như ông Crayssac trong

bài Tựa bản dịch Kiều: “toute poésie traduit a le devoir de l’être enver […] La langue des

Dieux m’a paru seule idoine à chanter l’héroique et douloureux calvaire de la

divine Thuy-Kieu.”

Cũng vì quan niệm tới mức triệt để tế nhị đó, nên bản dịch Kiều của

Crayssac là bản dịch đạt nhất trong mọi bản dịch Kiều ra ngôn ngữ Tây Phương.

Lời thơ Crayssac thỉnh thoảng có vài chỗ sống suợng, nhưng Crayssac đã đòi hỏi,

đã tận dụng khả năng ngôn ngữ thi ca Pháp tới mức tối đa. Và nhiều phen bất

ngờ, những tư tưởng, tư lường sâu xa, ẩn trong Nếp Gấp Lục Bát Nguyễn Du, bất

thình lình đuợc Crayssac mở phơi ra một cách tinh tế.

Tiện đây, tôi xin dẫn một thí dụ để làm sáng tỏ phần nào đường lối dịch

thơ. Dịch thơ Emily

Dickinson:

My life closed twice before its close

It yet remains to see

If Immortality unveil

A third event to me

So huge, so hopeless to conceive

As these that twice befell

Parting is all we know of heaven

And all we need of hell.

Một bài

ngắn như thế của Emily Dickinson dịch còn khó hơn dịch cả một cuốn Lá Cỏ [Leaves

of Grass] của Walt Whitman… Ấy bởi vì, nó thuộc loại thơ bất khả dịch

diễn.

Những

điệp ngữ và điệp âm và đảo ngữ mà Emily Dickinson sử dụng, là riêng Mỹ Ngữ một

lần được thiên tài cho phát tiết anh hoa ra ngoài:

my life closed – its close

to see – to me

twice before – twice befell

parting is all – and all

all we know – all we need

of heaven – of hell

to see – to me – to conceive

a third event – as these that twice

so huge – so hopeless …

Tôi thử

chép ra như thế, những thanh-âm-vận song trùng nhị bội liên tồn giao hưởng nhau

trong bài thơ, xoay vít quanh nhau trong tám câu huyền diệu đó. Thế cũng đủ

nhận ra tính chất phong phú đìu hiu dị thường trong lời thơ tài tử. Thế mà, vẫn

còn những giao hưởng giao thoa ngấm ngầm âm ỉ trong tiết nhịp rung rinh, không

làm sao ghi ra song đôi cho được. Bởi vì những giao hưởng ngầm nọ vừa như giao

nhau vừa như xô đẩy nhau, ly khứ nhau… Bây giờ thử đọc lại toàn bài:

My life closed twice before its close

It yet remains to see

If Immortality unveil

A third event to me

So huge, so hopeless to conceive

As these that twice befell

Parting is all we know of heaven

And all we need of hell.

Nếu dịch

ra văn xuôi ắt sẽ thành cái gì? Chẳng lẽ vất vơ thành ra cái như sau:

Cuộc đời tôi khép lại hai lần

Trước buổi chung cục của nó

Nó vẫn ở lại để xem

Thử sự Bất Tử có mở ra

Một sự cố thứ ba cho tôi không

Bao xiết đồ sộ khổng lồ tuyệt vọng cho quan niệm

Là ấy những gì đã hai lần xảy ra

Ly biệt là tất cả những gì chúng tôi biết về Thiên Ðường

Và tất cả những gì chúng ta cần (của) nơi Ðịa Ngục

Thật là không thể tưởng tượng được. Chẳng

những nghe ra lớ ngớ, mà còn chẳng ai biết nói cái gì. Không một chút ý nghiã

nào tồn tại, đừng nói chi là tinh thể tinh hoa. Thế mà thường thường tôi vẫn

thấy người ta dịch theo lối đó một cách rất hồn nhiên, và còn cho rằng mình

dịch rất sát.

Gẫm về cái vụ dịch thơ, nhiều phen phải

toát mồ hôi hột. Giữ tiếng thì lạc lời. Giữ lời thì mất ý. Giữ ý thì mất nghiã.

Giữ nghiã thì mất trụi thần hồn tinh thể.

Do đó, ta có thể dám chắc rằng giữa hai bản

dịch Kiều ra Pháp Ngữ của ông Nguyễn Văn Vĩnh và René Crayssac, quả thực có

cách biệt ngàn trùng. René Crayssac mặc dù không lột hết được tinh hoa ngôn ngữ

Kiều, nhưng vẫn đạt hơn Nguyễn Văn Vĩnh có tới hơn một trăm lần là ít. Ông có

tái tạo được một bầu khí hậu thơ-mộng đặc biệt trong bản dịch của ông.

Giờ thử dịch bài thơ Emily Dickinson ra lục

bát:

Ðời tôi khép lại hai lần

Trước lần khép mắt khôn hàn vĩnh ly

Tuy nhiên còn nấn ná vì

Ðể xem Vĩnh Cửu còn gì mở ra

Cho mình biến cố thứ ba

Những gì song điệp xảy ra

Gẫm càng đồ sộ gợi ra lại càng

Ngất trời tuyệt vọng mang mang

Thiên đường địa ngục còn chan chứa gì

Vĩnh ly là chất của trời

Biệt ly là thói của đời nhà ma

(kể từ cửa quỷ tuôn ra

thói nhà băng tuyết chất là phỉ phong)

Bạn đọc ắt có nhận thấy

rằng tôi đã chịu khó khiếp dẫn vài ngôn ngữ đặc biệt Nguyễn Du vào lối dịch thơ

Emily Dickinson. Dịch theo lối đó là âm thầm bố thiết cuộc đối thoại ấm áp cho

hai tài tử kia, mà đồng thời vẫn không lìa xa ngôn ngữ Emily Dickinson gì mấy

chút.

Ðó là bước thứ nhất

mà lời dịch đã gắng thực hiện cho cuộc hội đàm. Từ đó chúng ta có thể tiến tới giai

đoạn thứ hai. Cái bước sơ khởi ngại ngùng đã đi tới chỗ hài hòa thân thiết

thì từ đó, ta có thể “mở lời phương tiện” một cách táo bạo hơn. Lời dịch

thứ hai có thể ra như thế này:

Song trùng khép kín đôi phen

Sơ khai đậu khấu khép bằng thiên thu

Tường vôi tô vách tử tù

Trăm năm trong cõi sương phù du tuôn

Niềm riêng nấn ná hý trường

Xem Con Tạo mở môi trường đệ tam

Bình sinh ngất tạnh hội đàm

Xiết bao tuyệt vọng gẫm càng buốt tim

Sự tình nhị bội đánh ghen

Trút quần giũ áo thưa rằng thế thôi

Vĩnh ly là chất của trời

Biệt ly là thói của đời nhà ma

Cước chú: My life closed twice before

its close… Ðời ta đã khép lại hai lần từ trước cuộc khép kín trăm năm… Nghiã là?

Nghĩa là: trước khi xảy ra cuộc tử diệt thì

ta đã hai lần chết thật sự rồi. Nhưng chết mà vẫn chịu chơi, nên còn sống lai

rai để xem còn có một đệ tam tử diệt nào thơ mộng hơn chăng. Cái lối nói chịu

chơi gay cấn đó đưa tới lời kết thúc dị thường: all we know of heaven …

all we need of hell. Tất cả những gì ga biết về thiên đường… Tất cả những gì

ta cần nơi địa ngục… là?

Từ đó dịch lần thứ ba ra thế này:

Cần nơi địa ngục những gì

Biết nơi thiên thượng những gì biển dâu

Chất hằng ly biệt thiên thâu

Biệt ly là thói dâng trào sử xanh

Niềm riêng tại thể đã đành

Nồi riêng hiện thể còn thành khẩn xin

Chờ xem Vĩnh Cửu lặng im

Song trùng tam bội còn tin chi về

Kỳ oan phong vận đề huề

Trước đèn lần giở lời quê dông dài

Mai sau khép mắt ngủ dài

Còn nghe mộng cũ di hài liễu dương

Ðánh tranh chụm nóc thảo đường

Một gian nước biếc mây vàng chia đôi

Bất thình lình cái câu

thơ lục bát Nguyễn Du nọ lại kỳ dị hiện ra tại đây. Mọi sự bỗng dời bình diện.

Cái câu thơ “một gian nước biếc mây vàng chia đôi” vốn là một câu thơ

thuộc loại hàm hỗn man mác nhất trong Truyện Kiều. Nước

biếc một gian? Sao gọi là một gian? Mây vàng chia đôi? Chia đôi cái gì? Chia đôi hai cõi nào? Hai miền

hai ngả nào? Nhưng tại sao trong thể thái chia đôi nọ, lại có hàm ngụ quy hợp?

Do một thứ tinh hoa âm thầm nào phát tiết từ trong tiết điệu lục bát cùng với

những vang bóng lãng đãng tỏa ra từ một nóc thảo đường? Một mái hiên? Một

thanh hiên tồn lập bao dong ra như thế và sẽ chứng giám một “vô lượng

phương tiện lực” nào, sẽ “vớt người trầm luân” và thành tựu cái

nghiã của “nam hải điếu đồ”?

Ðiếu đồ? Ông câu

câu cá? Câu cá giữa một vùng tịch mịch chân không? Câu cá trong tính thể giác

duyên như lai bồ tát? – Ta làm Nam Hải Điếu Đồ? Ngồi câu con Cá Hư Vô linh

hồn? Sự đó liên can gì tới câu: Như

lai giả vô sở tòng lai diệc vô sở khứ? Và cái lời đó trong Kinh Kim Cang lại thiêm

thiếp đi trong sa mù mà tiếp giáp với câu thơ “Parting is all we know of

heaven/And all we need of hell” như thế nào?

Thế thì cái sự vụ dịch thơ đã nằm trong một

cõi suy tư nào như thế? Nó đã biến ra một thứ dịch di, dy viễn, diên vỹ, vy

diễn, như thế nào, để… ? Ðể bất thình lình xô ùa chúng ta trở lại với cái lời

Khổng Tử: “Ngô đạo nhứt dĩ quán chi”.

[…]

Cái bí quyết của thiên tài sáng tạo, cũng

như thi tài dịch thuật, là: tạo nên một vùng sương bóng cho ngôn ngữ. Sương

bóng đó có thể bắt gặp bóng sương Hy Lạp, hay Ðường Thi, hay Tây Trúc – không

hề gì. Không hề gì. Miễn là nó mở ra một chân trời cho chiêm niệm chịu chơi.

Ðánh tranh chụm nóc thảo đường, một gian

nước biếc mây vàng chia đôi. Cài then cửa đóng đến nơi, sư đà hái thuốc phương

trời nào xa .. Parting is all we know of heaven – and all we need of hell.

Ai đã độ ra được cái tầm đầy vơi trong tư

lự tồn lưu nọ, ắt chẳng còn thiết chi tới chuyện bàn luận viết sách làm thơ gì

nữa cả.

 
© talawas 2026