trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
28.5.2002
Trân Sa
Một dấu cộng tốt đẹp hơn cho xã hội
 

 

“Tất cả thế giới là
một sân khấu

Và tất cả mọi đàn ông
đàn bà đều là những diễn viên


Họ có các lối đi vào và
các lối đi ra


Và một con người trong
cuộc đời mình thủ rất nhiều vai diễn”


W. Shakespeare

(As You like it, Màn 2, Cảnh 7)

Sẽ là một sự tối dạ khủng khiếp
nếu cho rằng những nguồn thông tin mang lại kiến thức về
những thay đổi cải tổ trên thế giới là một vấn đề khó khăn
phức tạp (và nguy hiểm?!) cho các nước lạc hậu với trình độ
tổ chức và ý thức xã hội thấp. Hầu như với các quốc gia như
thế không có một chọn lựa nào khác ngoài việc phải mở hết
những cánh cửa đã bị khóa lại từ bao nhiêu ngàn năm, trăm năm,
chục năm để không những đón nhận tìm hiểu về những nguồn
thông tin ấy mà còn tham dự vào những thay đổi, gia nhập vào thế
giới hiện đại để không còn bị tụt hậu nữa. Từ chối công
việc này chẳng khác gì việc một đứa bé sợ hãi trường lớp
không chịu đi học, tránh né sinh hoạt với tất cả những bạn bè
cùng lứa để phải mù chữ và thua sút cũng như mất đi mọi kỹ
năng xã hội. Cảm giác an toàn tạm thời trong căn nhà nhỏ bé cuả
cha mẹ làm nó dễ chịu bao nhiêu thì sẽ là nguyên do cho tâm lý
sợ hãi cuả nó bấy nhiêu một khi phải bước ra ngoài để giao
tiếp với người khác.


 


Có nhiều người tỏ ra kinh sợ trước
viễn ảnh Việt Nam sẽ biến thành một nước Thái Lan thứ hai
trong lãnh vực mua bán tình dục với khách ngoại quốc. Nạn mãi dâm
tồn tại và phát triển không chỉ ở những nước nghèo mà còn
ở những quốc gia sung túc nơi có vấn đề nghiện ngập ma tuý.
Khi sự tôn trọng giưã người và người còn bị chối bỏ, khi phụ
nữ vẫn còn là đối tượng bị sử dụng cho việc thoả mãn sinh
lý cuả đàn ông, lúc ấy vấn nạn mãi dâm vẫn còn trầm trọng.


 


Mãi dâm là một vấn đề về kinh tế và
quan hệ bất bình đẳng xã hội, không phải là vấn đề cuả
khuynh hướng khác nhau về tính dục. Mặc dù tệ nạn này phổ
biến rộng rãi hơn nhiều trong giới dị tính ái, 
không ai ấu trĩ đến nỗi 
thể qui kết rằng dị tính ái là hiểm hoạ cho một xã hội nghèo
đói trong vấn đề mãi dâm khi mở cưả giao dịch với các nước
ngoài. Cái người ta nên lưu tâm và thay đổi là thái độ cuả
nhiều người đàn ông muốn sử dụng đàn bà như một thứ đồ,
vật, đồ chơi, một phương tiện mà họ có thể dùng tiền bạc
lẫn thủ đoạn để mua bán, song song với những tâm lý tự tôn
khác xem nữ giới như một hạng người có đẳng cấp kém cỏi dưạ
trên khả năng và sức lao động, đúng hơn là sức mạnh cuả
bắp thịt.


 


Từ những cách nhìn có tính cách lợi
dụng ấy dẫn đến quá nhiều sai lầm trong vấn đề hôn nhân
“truyền thống”. Ðó là cách người đàn ông thành lập cho mình
một tập thể nhỏ trong đó ông ta là một ông hoàng, một chủ nhân
cai trị và sau đó truyền ngôi truyền chức cho các ông hoàng và
ông chủ tương lai. Cấu trúc gia đình truyền thống như vậy là
một sự sao chép hoàn hảo cuả những cấu trúc xã hội phong
kiến. Sự đập vỡ những nền quân chủ kéo theo nhiều thay đổi
về cấu trúc gia đình, rộng lớn nhanh chóng hơn ở một số
quốc gia phương Tây, và chậm chạp hơn ở phương Ðông với
“truyền thống” vương quyền độc tài sâu đậm.


Khi đạo đức xã hội truyền
thống“Trung thần bất sự nhị quân” ở Trung Hoa và Việt Nam không
còn, phụ nữ cũng không còn bị cạo đầu bôi vôi thả bè trôi sông
khi phạm tội ngoại tình và có thể tái giá sau khi chồng chết.
“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” 
không còn, thì cũng không còn “phu xướng phụ tuỳ” , không
còn màn “Chồng giận thì vợ làm lành. Miệng cười hớn hở thưa
anh giận gì”, mà vợ có thể mang chồng ra toà vì tội đánh
vợ, hành hạ tinh thần vợ, hoặc ly dị khi đôi bên không cùng
giải quyết được những mâu thuẫn. Tuy nhiên, nhiều người đàn
ông vẫn còn nuối tiếc những đặc quyền một thời cuả cha ông
và khư khư muốn bảo vệ những cái gọi là “truyền thống”;
hệ  quả: tỷ lệ ly dị càng
lúc càng cao, một số phụ nữ kéo dài thời gian để quyết định
bước vào hôn nhân, hoặc không còn cả ý muốn lập gia đình,
tập trung vào việc xây dựng nghề nghiệp để có thể sống được
một cuộc đời độc lập dù có một người đàn ông trong cuộc
sống mình hay không. Ở vài nước phương Ðông nơi những luật
lệ hoặc đạo đức truyền thống bó buộc những cặp vợ chồng
phải tiếp tục chung sống với nhau cho đến chết mặc cho những
xung đột quá lớn không giải quyết được biến gia đình là
một điạ ngục trần gian. Nạn nhân dĩ nhiên là những người
chồng, vợ mà có lẽ tác hại mạnh mẽ nhất là trên con cái
họ, những đưá bé với sự chịu đựng mỏng manh hơn hết.


 


Tại Việt Nam, truyền thống gia đình vẫn
là sự hãnh diện đầu môi, trong khi hiện nay rất ít quốc gia trên
thế giới có thể cạnh tranh được với Việt Nam về vấn đề
chồng chuá vợ tôi. Với đa số gia đình, vị trí cuả người
chồng vẫn thường là ở những phòng khách, trong khi người vợ
được giao phó toàn quyền những xó bếp. Cảnh tượng cuả
những buổi tiệc hay lễ lạc, khi những người đàn ông nghiễm
nhiên ngồi  mâm trên và ăn trước
trong khi cánh đàn bà làm công việc nấu nướng phục dịch có thể
làm xốn mắt những người ngoại quốc cấp tiến nhưng đối
với hầu hết đàn ông Việt Nam đó là truyền thống xã hội đáng
giữ. Và mặc dù xã hội Việt Nam vẫn làm ra vẻ tự hào về
những người phụ nữ, vợ và mẹ đáng yêu đáng quí cuả mình,
câu chưởi thề thông dụng nhất, được phát ra hàng ngày trong
mỗi giây phút đồng hồ, qua tất cả âm ngữ điạ phương, vẫn
là “Ðéo mẹ. Ðụ má. Ðụ mạ.” từ những cái
miệng cuả những đứa con trai, người chồng và người cha.  Ðiều này chưa bao giờ là một vấn đề bị
phản đối trong xã hội Việt Nam từ 
xưa nay. Người ta có thể dạy con không chưởi thề chung
chung, hoặc không chưởi thề chung chung, nhưng chưa bao giờ ý
thức về sự khinh miệt tiềm tàng sâu xa từ gốc rễ đối với
những người mẹ. Trong những cuộc hôn nhân còn tính “truyền
thống” cao, người vợ vẫn là những người “bợ” , vẫn là
những người “em”  bị xem
như những kẻ nô dịch khi phải về làm dâu nhà chồng, hầu hết
đều bị đàn áp hay lạm dụng bởi gia đình chồng hay những người
chồng “dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”. 
Và người chồng, dù có thua vợ đến muời tuổi đi nữa
vẫn có quyền xưng “anh”, vẫn có thể ra oai như một con khủng
long khạc lửa.


 


Ý nghiã và giá trị đích thực cuả tính
truyền thống phụ thuộc vào lợi ích cuả nó cho toàn thể xã
hội. Một truyền thống không còn có thể được chấp nhận hay
chịu đựng nữa có thể bị xem là hủ tục, như tục mua bán thê
thiếp, tục tảo hôn,  trong cái
gọi truyền thống hôn nhân cuả Trung quốc và Việt Nam một thời
xa xưa. Luật hôn nhân cũng như những luật lệ khác trong mọi
quốc gia đều được thay đổi thêm bớt liên tục để càng lúc
càng bảo đảm được sự công bằng và an toàn cũng như các nhu
cầu đa dạng cho  tất cả
những công dân cuả họ. Hôn nhân, ở nhiều nước trên thế
giới, không còn chỉ bó buộc trong những lễ cưới và tờ hôn thú,
đã có rất nhiều người “sống chung không hôn thú” (common-law)
và được luật pháp cũng như xã hội công nhận nhiều quyền
lợi và trách nhiệm tương tự như những cặp vợ chồng có giấy
hôn thú. Từ trên dưới một thập niên nay, đa số các quốc gia
phương Tây đã công nhận sự sống chung hợp pháp cuả hai người
đồng tính như là một gia đình sống chung không hôn thú, hoặc
với các tên gọi như  “civil
unions” (tạm dịch “hôn nhân dân sự”), partnership (tạm dịch
“quan hệ hợp tác chung sống”) với những quyền lợi xã hội và
trách nhiệm về y tế, bảo hiểm, tài sản, thưà kế, v.v. 
Hoà Lan đã dẫn đầu thế giới trong việc chính thức thực
thụ công nhận hôn nhân giữa người đồng tính ái, với tất
cả quyền lợi và nghiã vụ y hệt hôn nhân dị tính; 
tiếp đó là Iceland và Ðức, cũng như Hoà Lan, chính quyền
hoàn toàn công nhận lễ kết hôn cuả người đồng tính là hợp
pháp tuy không cho phép họ nuôi con nuôi (Iceland) hay hưởng quyền
được giảm thuế (Ðức). Thuỵ Ðiển, Ðan Mạch, Na Uy, 
Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Hungary, Brazil, Tây Ban Nha… 
đều đã và đang công nhận quyền lợi và trách nhiệm cuả
người đồng tính ái sống chung như những gia đình không hôn thú,
hay hôn nhân dân sự, quan hệ cộng tác chung sống với quyền nuôi
con nuôi (Thuỵ Ðiển, Ðan Mạch, Na Uy, Anh, và vài tỉnh bang Mỹ và
Canada).


 


Cấu trúc truyền thống hôn nhân trên
nhiều cường quốc trên thế giới như vậy là đã được sửa
chữa cộng trừ thêm bớt rất nhiều và chưa có một dấu hiệu nào
đe doạ cho nền tảng xã hội – kinh tế – chính trị – văn hoá
vững chắc cuả họ. Ngược lại ở những nước có truyền
thống hôn nhân cũ kỹ nhất hiếm khi được quét bụi qua một
lần như một số quốc gia ở Ðông Âu, Trung Ðông, Á châu thì
lại có vô vàn những chao đảo bất ổn, 
gần như là truyền thống, về kinh tế, chính trị lẫn xã
hội.


 


Gia đình là một cách sống, một sự
chọn lưạ, một nhu cầu. Ngoài những bộ lạc kém văn minh và
một vài quốc gia quá chậm phát triển, chưa một quốc gia nào cưỡng
bách bằng luật lệ một cá nhân phải lập gia đình. Ðiều này
cho thấy một mẫu hình hay cấu trúc gia đình truyền thống nhất
định nào đó không hề là điều kiện sống còn cho một quốc
gia. Sinh đẻ là một bản năng không phải chỉ cuả con người mà
cuả cả hàng hà sa số những sinh vật. Người ta chỉ nên lo
ngại quả điạ cầu sẽ không còn đủ chỗ ở cho con người và
tất cả mọi loài, chỉ nên lo sợ về viễn ảnh cuả môi sinh
bị tàn phá cùng những cuộc đại chiến trong tương lai không
phải chỉ là đẫm máu.


Xã hội là một tập hợp tổ chức chặt
chẽ cuả nhiều cá thể với những bản sắc khác nhau và những
đơn vị gia đình đa dạng. Nó không phải là một cái xưởng đẻ
với tất cả công nhân là những con người máy được chế tạo
y hệt nhau, với hai giống phái nhất định là nam và nữ,  mặc những bộ đồng phục y hệt nhau dành cho nam
hoặc nữ, và “làm việc” theo một cấu trúc chương trình đã
được thảo sẵn. Trong giới dị tính ái, có đông đảo những
cặp vợ chồng dị tính ái  không
thể có con, hoặc không muốn có con, những người đã ly dị
sống một mình trong thời gian rất dài, những người chỉ thích
sống đời độc thân, họ cũng như những cặp hoặc những cá nhân
đồng tính ái, không thể bị phủ nhận như là những kẻ không
đóng góp gì cho xã hội, không ích lợi hay quan trọng đối với xã
hội.


 


Quan niệm cho rằng vai trò gia đình truyền
thống bị đảo lộn bởi hôn nhân đồng tính ái do đó sẽ làm
lung lay cả cơ cấu xã hội hoàn toàn không có một cơ sở vững
chắc nào, nếu không nói là quá nông cạn và chật hẹp. Ðã từ
lâu, trước khi vấn đề hôn nhân đồng tính được mang ra trước
những bàn họp, vai trò truyền thống cuả chồng và vợ trong
những gia đình dị tính đã được uyển chuyển đảo lộn khi
cần thiết. Chồng có thể bợ và vợ đã có thể chồng, trong phòng
ngủ lẫn ngoài phòng ngủ. Nhiều người vợ có thể đã thay thế
vị trí trước kia cuả chồng trong việc kiếm cơm nuôi cả gia đình,
nhiều người chồng đã biết thay tả, cho con bú, nấu cơm, dọn
dẹp nhà cửa. Cũng như đã từ lâu, nhiều phụ nữ dị tính ái
đã cắt tóc ngắn, có thể lái máy bay, máy cày, chơi những môn
thể thao trước đây chỉ dành cho phái nam, nhiều đàn ông dị tính
nấu bếp nhà hàng, buôn bán ngoài chợ, hành nghề may vá, v.v. Sự
đảo lộn vai trò cuả một số người đồng tính nào đó, khi đóng
vai nam, khi thủ vai nữ  không có gì khác với sự đổi vai cuả những
cặp vợ chồng dị tính, ngoài vấn đề hoàn toàn riêng tư cuả
họ bên trong phòng ngủ. Nhắc lại lời tuyên bố cuả ông Pierre
Trudeau, vị thủ tướng (đã quá vãng) được dân Canada yêu quí
nhất trong hầu hết những vị lãnh đạo cuả họ, khi sửa đổi
hình luật để bảo vệ cho người đồng tính ái vào năm 1969: “Không
có một chỗ nào dành cho nhà nước trong những phòng ngủ cuả dân
tộc
”.

 


Lại nhắc đến Việt Nam, bao giờ Việt
Nam mới có được một vị lãnh đạo có thể phát biểu một câu
nói như thế, hoặc như thủ tướng Carl Bildt cuả Thuỵ Ðiển: Chúng
ta chấp nhận tình yêu đồng tính ngang bằng với tình yêu dị tính
”.

Có người cho rằng ở Việt Nam không ai công
khai tự bạch mình là đồng tính ái, và phần lớn chẳng biết đồng
tính ái đầu cua tai nheo ra làm sao, chỉ có một hai, người bác sĩ
và không bác sĩ mới biết chẩn đấy là một căn bệnh. Có lẽ
những người tự cho mình “biết” này hoặc là có chui vào phòng
ngủ cuả người đồng tính để khám lén nhưng vội vã quá nên
nhòm không rõ. Tuy nhiên họ chỉ là một thiểu số quá nhỏ để
đại diện cho cả một xã hội. Phải có lý do để người đồng
tính ái tại Việt Nam phải sợ hãi che dấu mình đi: Cái người
ta sợ nhất trong sự sống là gì nếu không là sự độc ác và
ngu dốt trong hình dạng cuả một thứ quyền lực tập thể? Luật
pháp Việt Nam chưa có một điều khoản nào được đặt ra để
bảo vệ người đồng tính trước thứ quyền lực đám đông này:
một sự công nhận tình yêu, hôn nhân (có hôn thú hay không hôn thú)
hoặc kết hợp sống chung giưã hai người đồng tính ái là 
hoàn toàn hợp pháp. Như thế, một cách gián tiếp, những người
nắm quyền lãnh đạo cuả Việt Nam, từ xưa cho đến nay, vẫn còn
bao che cho sự kỳ thị đủ mọi hình thức đối với người đồng
tính?


 


Thế giới sẽ không vui vẻ, hạnh phúc hơn
sao, nếu không còn những mâu thuẫn không cần thiết và những khổ
đau phi lý? Một quốc gia không mạnh mẽ hơn sao, khi không còn
những chia rẽ, khi người ta có được sự tôn trọng và tự tin
để sống hạnh phúc và mang hết khả năng ra làm việc phục vụ
cho một xã hội biết đối đãi công bình?


 
© talawas 2026