Nguyễn Chí Hoan
(Đọc <a href="http://www.talachu.org/tho.php?bai=156" target="_blank"><u><i>Siêu thị mặt</u></a></i> của Trần Quang Quý, Nxb Hội Nhà văn, 2006)
Tập thơ này mang một phong vị cách ngôn thật rõ nét. Cách ngôn, theo người xưa, là những câu nói có thể dùng làm phép tắc cho người ta. Như vậy, ý nghĩa đạo lý trong đó có vai trò khuynh đảo. Ở đây thì tính cách ngôn lộ rõ ngay trên câu đề từ của cuốn sách, viết rằng: “Sự tuyên ngôn vĩ đại nhất là im lặng”.
Cái phong vị đó xuyên suốt tập thơ này, gây ấn tượng về một loạt suy ngẫm quanh chủ đề sự gắn bó đối lập giữa cái Danh và cái Thực, mà chủ yếu là danh và thực trong sự vận động thăng trầm của cái Nhân cách. Nhân cách, vừa cụ thể vừa trừu tượng, chính là nhân vật trữ tình của tập thơ này.
Câu thơ được trích làm đề từ nói trên là câu mở đầu bài thơ “Không đề” (Siêu thị mặt, tr. 15). Bài thơ này ngắn, chỉ gồm tám dòng/câu,nhưng mang đủ một cách đặc trưng phương pháp và cảm hứng luận lý biểu hiện trong tập thơ có tính luận đề này. Hơn nữa, đây cũng là một trong mấy bài sinh động nhất trong cả tập. Tôi không thích thú lắm với chữ “sự” mở đầu, bởi nó đẩy từ ngữ “tuyên ngôn” vào một tình trạng đã rồi. Nhưng có lẽ, trong trường hợp này, nó biểu thị nhấn mạnh tính chất quan trọng cho toàn bộ ngữ đoạn sau nó. Đồng thời, có lẽ là vô thức, nó hé mở/ gợi ý mối mâu thuẫn trong hàm ngụ: thà cứ “im lặng” còn hơn, nhưng (có lẽ thực tế là) đã “tuyên ngôn” mất rồi! Đây cũng là một dẫn dụ để so sánh sự cao thượng của một cách im lặng nào đó với những lối, những “sự” tuyên ngôn nào đó. Và bản thân ý này lại gợi liên hệ đến các châm ngôn xưa nay, về đề cao giá trị cái lặng im như một cách ứng xử, một biểu hiện của thấu hiểu đã đến mức siêu vượt ngôn ngữ thông thường. Tuy nhiên, đó chỉ là một liên tưởng tiềm tàng. Cái “im lặng” ở đây chỉ biểu thị một giả thiết hành động.
Và những câu thơ tiếp sau cho thấy cái giả thiết về “im lặng” đó cũng chỉ là một hậu quả: “điều này tôi chắt ra từ máu”. Bạn có thể nghĩ rằng đây là một diễn đạt ngụ ý “kinh nghiệm xương máu” của thành ngữ. Nhưng nếu vậy thì phần kinh nghiệm chỉ có vai trò tử số mà mẫu số nằm trong nghĩa bóng của từ “máu”: cái phần bản năng tự nhiên và xã hội, bản năng phát âm và bản năng phát ngôn. Tôi sẽ đề nghị xem đây như một phân số mà giá trị của phân số là sự “im lặng”; Các tham số của nó sẽ là những số thực, và nếu coi “im lặng” là 0 (bằng không) thì bạn sẽ phải tăng một cách vô vọng các trị số của kinh nghiệm. Cho đến bao giờ?
Tôi cho rằng đó là cái logic ngầm ẩn của bài thơ ngắn này. Cùng một ý tương tự nằm trong mạch triển khai của bốn câu thơ tiếp theo: “điều này ký thác những chiếc răng/ chiếc răng tình yêu/ xin lỗi, đã ít nhất một lần ta cắn/ em ơi nó đã rụng rồi!” Có một gợi ý lấp lửng lập lờ trong ngữ đoạn “chiếc răng tình yêu”, nhưng “cắn răng” và “im lặng” thì khá rõ ràng ý tứ nhờ bởi dòng thơ thứ sáu thốt lên một cao trào: “em ơi nó đã rụng rồi!”. Vậy cái nỗ lực để có thể im lặng đã tự nó buột ra, “giữa đường đứt gánh”, bởi có một giới hạn, một giới hạn thực thể nào đó mà “những chiếc răng” diễn đạt thành ẩn dụ.
Hai câu cuối ngân lên một vĩ thanh: “Trớ trêu thay bi kịch của lời/ nằm trong rung động lưỡi”. Cái “bi kịch” là “bi kịch” nào? Trong số những hình ảnh mang tính ẩn dụ ở đây – máu, răng, lưỡi, (răng) rụng – chỉ có thể nói “bi kịch” nếu răng ấy cắn vào lưỡi ấy, theo cái logic bề ngoài (hình ảnh) của chúng.
Tôi cũng không thực sự thú vị về hai chữ bi kịch này. Tuy nhiên, theo mạch ngầm ẩn của cả bài, từ ngữ “bi kịch” biểu đạt một mối mâu thuẫn hay xung đột hẳn phải rất cam go, đến nỗi gây một hậu quả bi kịch. Tôi nghĩ rằng bi kịch theo đúng nghĩa là một tình trạng thậm chí còn ghê hơn cả chết chóc. Một mối mâu thuẫn/ xung đột đến thế “của lời” thì hầu hết sẽ rơi vào hai địa hạt rất xung yếu: mâu thuẫn giữa lời nói với việc làm (với hành động nói chung) và mâu thuẫn giữa lời nói với sự kiện (nói dối, dưới mọi hình thức).
Cũng có thể bạn cho rằng mối quan hệ bi kịch ở đây là giữa “lời” với “im lặng”. Nhưng trường hợp đó hiển nhiên phải loại trừ vì dòng thơ cuối đã xác định cái “bi kịch” ấy “nằm trong rung động lưỡi”. Một lần nữa, đây là ẩn dụ về bản năng, bản năng tự nhiên và bản năng xã hội, là máu, răng, lưỡi và lời của cái nhân cách xưng “tôi” một cách phiếm chỉ ở đây.
Vậy là thế đối lập giữa “im lặng” với “tuyên ngôn” trong câu mở đầu đã khai triển thành thế đối lập giữa “im lặng” với những máu, răng, lời, lưỡi, và thậm chí, với “cắn”. Thế đối lập này hoàn toàn mang tính ẩn dụ bởi, nói cho cùng, tất cả chúng thuộc về một bản thể – bản thể người, và trên logic bề ngoài thì chúng hoàn toàn có thể chuyển hoá với nhau (“im lặng” sẽ là một “tuyên ngôn”, v.v…).
Bởi thế tôi cho rằng ở đây là ẩn dụ về đối lập Danh-Thực, một cặp chủ yếu dựa vào hình thức, có quan hệ đồng dạng với quan hệ giữa các hình ảnh trong bài thơ này và, có thể nói, giữa tất cả các hình ảnh trong tập thơ này. Nhưng dường như cái được đặt tên “bi kịch” ở đây còn nằm ở một cấp độ sâu hơn chút nữa. Ta thường nghe cái định đề phê phán “Hữu danh vô thực”, trong đó cái gọi là “thực” bao hàm một thế phủ định hay ưu thắng so với cái được gọi là “danh”. Logic đó xưa nay không đổi. Ở đây, cái được gọi là “im lặng” sẽ ở vào vị thế của cái “thực”: nó vừa có thể phủ định “Sự tuyên ngôn…” vừa có thể sắm vai là một “tuyên ngôn vĩ đại”. Theo đó, cái “im lặng” / “thực” này cũng sẽ phải biến những yếu tố bản năng phát âm và bản năng phát ngôn (máu, răng, lưỡi, lời, “chiếc răng tình yêu”) thành những biểu hiện của cái gọi là “danh”, bởi những yếu tố/ hình ảnh ẩn dụ này tỏ ra xa lạ và đối lập với “im lặng”. Nhưng cũng trong ngữ cảnh bài thơ này, các yếu tố bản năng đó không thể ở vào phạm trù cái danh, bởi vì “sự tuyên ngôn” đã ngự cả chỗ đó rồi. Hơn nữa, những hình ảnh ẩn dụ về các yếu tố bản năng này lại biểu hiện trong những vận động ức chế “Sự tuyên ngôn” hay hạ bệ nó xuống hàng những “rung động lưỡi”. Các vận động ức chế và hạ giá này biểu thị rằng cái Danh – “Sự tuyên ngôn” không có một cái Thực tương xứng; đồng thời, bằng cách đưa ra mục tiêu lý tưởng – “là im lặng”, lại biểu thị rằng cái Thực ở đây đã không có cái Danh tương xứng, tức là rốt cục không có được một sự biểu hiện phù hợp đáng ra phải có.
Tình trạng bất xứng như thế chính là cốt lõi của đối lập Danh-Thực xuyên suốt tập thơ này thông qua những biểu đạt nội dung khác nhau khá đa dạng.
Tình trạng bất xứng đó cũng là nguồn cảm hứng chung cho hầu hết những bài thơ ở đây, đặc biệt rõ trong những bài như “Lời”, “Mặt”, “Cái mũi”, “Câu hỏi”, “Cuộc cờ”, “Giai điệu vỉa hè”, “Siêu thị mặt”, “Răng và lưỡi”, “Từ vực sâu cuống họng”, v.v…
Tương ứng với tình trạng đó chính là những cách biểu hiện một thái độ im lặng (chứ không phải sự “im lặng”). Như trong bài thơ được lấy làm tên chung cho tập – Siêu thị mặt – sau những hoạt kê đầy ý vị, chua chát, vừa thẳng thắn vừa sâu xa về một cõi những gương mặt như những món hàng có thể tráo đổi, bán mua v.v., nhân vật xưng “Tôi” buông câu hài hước đắng: “Đôi lúc túng tiền tính gánh mặt bán buôn/ lại chỉ gặp những người mua lẻ” (Siêu thị mặt, tr. 40).
Những biểu hiện thái độ im lặng như vậy thường làm theo cách dồn hết sang một phía tất cả những xấu xa, bất toàn, những điều gây thất vọng, để lại một phía trống không hàm ngụ một quả cân với cái đòn cân của đạo lý. Các trị giá của ước mong và phê phán đều thực sự nằm về phía này – phía của “im lặng”. Và ngón tay vô hình chỉ về phía đòn cân đó chính là nhân vật xưng “Tôi”.
Điều đặc biệt ở tập thơ này là nhân vật trữ tình ấy lại có một cái tên, cho dù lập lờ và ước lệ: anh ta tên là Mặt, hay Cái Mặt (- tuỳ bạn!). Đó là một hình ảnh ý niệm. Cái mặt vừa có Thực vừa có Danh. Tỉ lệ nhiều ít, thiếu thừa, có bất xứng hay không thì bản thân cái tên Siêu thị mặt đã đủ hàm ngụ. Điều khó thấy chính là cái anh cũng tên là Mặt mà lại vắng mặt một cách ước lệ. Chỉ nghe được tiếng rao: “Mặt gánh cái tôi/ mặt của những mặt người” (Siêu thị mặt, tr. 37). Anh ta không gánh cái Tôi của mình mà đi gánh những cái Tôi cho người khác, một cách ước lệ, theo đúng kiểu thơ cách ngôn.
(Tham luận tại hội thảo về tập thơ Siêu thị mặt do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 29.5.2007)
© 2007 talawas