Nguyễn Trương Quý
Thăng Long “bách chiến thành” hẳn đã nhiều phen binh lửa, hết giặc Tầu đến quân Chiêm Thành tàn phá, thảng có vài ông vua không phải bậc hiền minh phá bỏ cung điện đời trước hay giặc cỏ (tức nông dân khởi nghĩa) nổi lên đốt trụi những bằng chứng xa hoa của bậc thống trị. Trong những tiểu thuyết chương hồi cổ điển và phim ảnh dã sử, một trong những điều ấn tượng nhất là những cảnh giao tranh ác liệt và lặp lại nhiều lần môtip một đô thị cố thủ dựa vào thành quách kiên cố. Sự thất thủ cũng mới lẫm liệt làm sao! Người xem hồi hộp theo dõi phút sa cơ của vị vua cuối cùng của một triều đại cũng như bàng hoàng trước cảnh tượng:
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
(Cung điện nghìn năm thành đường cái
Một toà thành mới mất cung xưa)
Nguyễn Du
Câu chuyện về những bức tường thành cùng cung điện của vua chúa là một chi tiết trong hàng bao nhiêu truyện cổ, gợi lại không khí của một cuộc sống quá khứ mà những thành trì thâm nghiêm có sức chi phối đến đời sống một kinh kỳ. Người ta sẽ còn nhớ mãi câu chuyện người Hi Lạp phải mưu dùng con ngựa gỗ lọt được vào thành Troja trong sử thi Iliad. Nghĩa là ngôi thành đó phải cực kỳ vững chãi và an toàn về mặt phòng thủ.
Thành phố có một toà thành, kinh đô có cung điện của vua chúa, cũng như đô thị hiện đại thể hiện trật tự và quyền lực của mình thông qua đó, phân biệt được với nông thôn làng xóm, nhất là ở xứ nông nghiệp truyền thống như ta. Nhưng hình như thành trì của ta, cụ thể là thành Thăng Long, hay Đại La trước đó, sau là thành Hà Nội hay thành Hoàng Diệu… không thoả mãn cái mong muốn thời trẻ con của tôi là nó to lớn huy hoàng để chống chọi với quân địch (Đám con trai ở đâu cũng vẫn chơi trận giả và bày ra những hệ thống phòng thủ cổ điển: thành cao, hào sâu cùng những cung điện nguy nga, dù chỉ là tưởng tượng). Có hai chi tiết có vẻ còn nói được câu chuyện trân mạc: quân Tây Sơn giao chiến với quân Thanh ở chân thành năm Kỷ Dậu được mô tả chi tiết trong Hoàng Lê nhất thống chí và vết đạn đại bác quân Pháp bắn vào cửa Bắc nay vẫn còn.
Nhưng đấy là thành trì, và nay thì cũng đã gần như mất hết, ngoại trừ ô Quan Chưởng và Ủng thành ở ven sông Tô Lịch cạnh đường Bưởi. Trong hiểu biết của số đông hiện nay về Hà Nội, khoảng trống về cung cấm lộng lẫy vàng son vẫn quá lớn, chỉ còn lại vài ba tấm ảnh hay ký hoạ của người Pháp sau khi đã chiếm thành Hà Nội, mà khi đó đã chỉ là phế tích so với một Hoàng thành Thăng Long vài thế kỷ trước. Một kết quả là các phương án quy hoạch hay nghiên cứu đô thị Hà Nội không đưa được bộ phận này ra thành một yếu tố chi phối cảnh quan cũng như không gian kiến trúc thành phố, trong khi như hầu hết các thành phố cấu tạo bởi 2 thành tố thành – thị, phần nào cũng mang tính quyết định đến đặc trưng cấu trúc, từ đó chi phối đến các mặt đời sống xã hội. Do điều kiện lịch sử và hoàn cảnh, Hà Nội đã gần như lãng quên khu thành cổ của mình, nhất là mặc cảm về sự vắng bóng dấu tích kiến trúc, nếu không kể vài ba phần manh mún rời rạc: cửa Đoan Môn, cột cờ, Hậu Lâu, nền bậc Kính Thiên… Dăm ba cuộc khảo cổ nho nhỏ và những phát hiện thăm dò khi đào móng xây các công trình trong khu vực cũng chưa gây cho người ta hi vọng lớn về một lịch sử bị vùi lấp.
Vậy nên khỏi phải nói là người Hà Nội vui mừng và tự hào thế nào khi năm qua, các nhà khảo cổ học đã chứng minh được giá trị ngoại cỡ của Hoàng thành xưa, dù chỉ mới trong diện tích 17.000m2 trên khu vực dự kiến xây Trung tâm Hội nghị Quốc gia và Nhà Quốc hội mới. Cùng với bầu không khí hân hoan của giới nghiên cứu, những người yêu Hà Nội tự nhiên thấy mình cũng lây cái trách nhiệm quan tâm và ai cũng hăng hái muốn khám phá tiếp. Chừng ấy hiện vật khiến mọi người phỏng đoán, hi vọng về sự to lớn phong phú đầy bất ngờ của phần chìm tảng băng trôi.
 |
| Một trong những hiện vật tìm được ở khu di tích Thăng Long vừa khai quật |
Sự vui mừng trước dấu tích Hoàng thành Thăng Long phát lộ là khó so sánh nổi, bởi từ nay di sản vật chất ấy có thể khiến cho bà con ta hoan hỉ: Có thế chứ, Hà Nội cũng đâu phải vừa, kinh đô xưa biết bao là lầu vàng gác tía, thậm chí sánh ngang kinh đô Nara Nhật Bản hay những phần đổ nát của thành Rôm (theo phát biểu cuả nhiều giáo sư tham gia khai quật). Trước đây, cũng đã từng có những ý kiến nghi vấn: hoàng thành nhà Lý – Trần nằm ở khu núi Cung và vùng Đại Yên, Cống Vị… cách điểm khai quật mới này 3 km và điện Kính Thiên thời Lê mà còn sót lại là bậc thềm rồng đá không chồng khít lên nhau. Đến phút này, dường như đã thống nhất về vị trí Hoàng thành, và điều mọi người mong đợi đã xảy ra là: Hà Nội có một di sản chứng minh sự hoành tráng của đế đô. Những phần này vừa to lớn về diện tích, đồ sộ về kích thước và cũng cho thấy những vẻ hoa mỹ tinh tế trong các trang trí còn lại.
Trở lại với kết quả khai quật, khỏi phải nói người dân nức lòng ra sao sau khi được xem những phần giới thiệu ban đầu của các nhà chuyên môn. Tâm điểm là vết tích của hệ thống mặt bằng chồng lớp qua các thời từ Đại La (thế kỷ VII-IX) qua Đinh – Tiền Lê (tk X) đến thời Đại Việt Thăng Long của nhà Lý – Trần cho đến Lê – Nguyễn, nghĩa là giá mà đặt mỗi thời ấy ra từng nơi khác nhau, hẳn đã có những thành phố độc đáo. Trên nền đó, hệ thống máng gạch thoát nước, giếng cổ, những chân đá tảng kê cột, những viên gạch trang trí mang phong cách từng thời, những trang trí suy đoán đặt trên mái giúp người xem tưởng tượng ra một quần thể kiến trúc to lớn (một mặt bằng nhà lớn căn cứ theo bước cột có thể lên đến 62m x 27m, lớn nhất so với các kiến trúc cổ bằng gỗ còn lại – so sánh với đình Đình Bảng là ngôi đình lớn vào loại nhất VN là 29m x 12m), tuy nhiên vẫn là sự tương đồng với các kiến trúc cổ còn lại đến nay ở các đình chùa. Mật độ và không gian trải rộng là sự khác biệt đáng kể để tiết lộ về một quá khứ vàng son của các triều đại phong kiến thịnh trị. Đồng thời cũng nhắc được một chút về tính quy mô và trật tự của quần thể kiến trúc mà đến nay chỉ còn khảo sát được ở thành Huế và khu tháp Chàm thánh địa Mỹ Sơn, là những đặc tính bị hạn chế ở Việt Nam.
Người xem không khỏi chạnh lòng khi thấy rút cục ông cha ta đã từng có một quá khứ huy hoàng và đẹp đẽ mang đầy yếu tố thẩm mỹ nội sinh, nhưng tất cả gần như thành tro bụi và vùi sâu ba thước đất, nhưng tại sao sách vở hay ghi chép chẳng mô tả định hình định lượng gì ngoài những liệt kê tên cung này điện nọ và những câu thơ man mác hoài niệm của các thi nhân. Tuy nhiên, khi mà đã có một cái nền thuận lợi và những phát hiện tương lai sẽ được bồi đắp thêm, sự mạnh tay cũng đáng dè chừng. Người ta còn lấy làm thất vọng khi Lam Kinh được phục dựng tuỳ tiện, các hạng mục minh hoạ dễ dãi thô sơ cho những luận điểm trong dự án của nhà thiết kế trùng tu. Tác giả của dự án có giảng là địa thế của Lam Kinh rất hoàn hảo, với đầy đủ các yếu tố: hữu thanh long tả bạch hổ, trước sông sau núi, tiền án hậu chẩm, vv… theo đủ thứ quy tắc phong thuỷ nhằm đảm bảo sự thịnh vượng và bền vững (nếu đúng lý thuyết) của triều đại đó. Nhưng nếu thế thì nhà Lê đâu có chỉ chấm dứt bằng sự bại vong của Lê Chiêu Thống và chết thảm nơi đất khách? Cũng không thể rẻ mạt kiểu công thợ trang trí công trình phục hồi cung điện ở Huế với 30.000 đồng/ngày công, bằng với giá trị anh thợ nề ở chợ người Giảng Võ. Sẽ là kinh hoàng nếu tốn một khoản tiền không tưởng tượng được (việc trùng tu luôn tốn kém và tính bằng nhiều phép tính phức tạp, đương nhiên) để phục hồi lại toàn bộ hoàng thành Thăng Long, chưa biết lấy mẫu thời nào, nhưng khả năng sử dụng chưa rõ ràng trong khi Hà Nội đang có đến 101 vấn đề phải giải quyết với yêu cầu ưu tiên kinh phí.
Trong công việc xây dựng thành phố, cũng như quy hoạch tương lai, không ai dự kiến được bất ngờ lớn, nhất là chuyện khai quật được những di sản quý báu, nhưng với một thành phố lâu đời, từ nhà chức trách cho đến mỗi người dân đều có ý thức đón nhận và bảo vệ cũng như khai thác tích cực thì sự xáo trộn không nặng nề như vẫn lo ngại. Làm sao để mỗi người dân có thể tiếp cận và học hỏi những giá trị thực tiễn từ không gian văn hóa này, và có gì khác với những mô hình di tích vừa bị ngả sang xu hướng lễ hội đèn nhang vừa quản lý theo kiểu ngày làm việc 8 tiếng. Phế tích chỉ bị ngăn cách bởi một bờ cây nhỏ hay hàng rào chắn mỏng manh như đồ chơi nhưng ranh giới của ý thức tôn trọng tự giác là rất lớn để chúng tồn tại lâu dài.
Tuy nhiên, chắc chắn về lâu dài, người Hà Nội sẽ thấy rất may mắn khi cảm nhận được giá trị thẩm mỹ và văn hóa của những phát hiện này, chúng là phần đã bị bỏ trống trong bức tranh thành phố. Từ nay trong khái niệm di sản cuả Hà Nội, mỗi người thế hệ sau có cơ may hình dung đầy đủ hơn về quá khứ. Di tích này nếu được khai quật triệt để (nghĩa là rộng hơn, ở mức độ hợp lý) và khai thác nghiêm túc, sẽ thuận lợi hơn hẳn so với khu phố cổ rách nát hay các di tích thắng cảnh đơn lập rải rác hiện nay. Cũng có thể là một phép so sánh khắc nghiệt khi nhìn ra xung quanh, hình hài không gian đô thị mới gây nỗi băn khoăn to lớn, liệu có bao nhiêu khu vực hay công trình sẽ không ngại ngần chung thứ bậc với những phần đẹp đẽ sót lại của tiền nhân. Giữa hai động thái: phục hưng lại một di sản có một không hai và gắng gỏi ghi tên mình lên một khối kiến trúc mang “dấu ấn thời đại hôm nay”, chọn hướng nào cũng đòi hỏi một sự tôn trọng quá khứ. Chúng ta hẳn vẫn nhắc nhau rằng, một đặc trưng của Hà Nội là chiều sâu thẳm của lịch sử tạo nên, và đây là một cánh cửa mở ra chắc chắn tin cậy.
2.2004
© 2004 talawas