Đọc bài viết “Từ và Chữ/Tự, Ðoản ngữ và Từ ghép” của Nguyễn Phú Phong, tôi thấy có những nhận định không đúng về những gì tôi viết trong bài “Chính trước phụ sau”. Khách quan mà nói, một bài viết quá ngắn có thể làm người đọc không hiểu rõ ý người viết. Song cũng khách quan mà nói, ngoài trường hợp vừa kể, một nhận định thiếu đúng đắn cũng có thể là kết quả của một phương pháp luận bị tổn thương do nhận diện sai dữ kiện, suy luận thiếu logic, lẫn lộn giữa dữ kiện và ý kiến.
Để tránh hiểu nhầm, tôi xin phép dùng bài viết này trình bày rõ quan điểm của mình và đồng thời cùng suy nghĩ với Nguyễn Phú Phong về một số giải thích của ông thiết tưởng cần xét lại.
Chữ, từ
Trước hết hãy xét lại ý nghĩa của khái niệm “chữ” của tiếng Việt hôm nay. Mặc dù đây là chỉ một điểm nhỏ nhặt, song đối với khoa học, bất cứ khái niệm nào có giá trị cho một phạm trù nhất định cũng cần được hiểu một cách nhất quán mà trước nhất là người làm khoa học, bởi chính họ là người có nhiệm vụ giải thích nó.
Mở đầu bài Từ và Chữ/Tự, Ðoản ngữ và Từ ghép, Nguyễn Phú Phong viết:
“Chữ (caractère, character; lettre, letter) là một đơn vị của chữ viết (écriture), một đơn vị ký hiệu trong một hệ thống chữ.”
Khi nói đến caractère, character hoặc Zeichen của tiếng Đức, thì người Pháp, người Anh, người Đức muốn chỉ những ký tự. V.d. tất cả mọi ký tự trên bàn phím máy tính, trong bảng mã ASCII, UNICODE, … Khi nói đến lettre, letter hoặc Buchstaben của tiếng Đức, thì người Pháp, người Anh, người Đức muốn chỉ những mẫu tự a, b, c, … Mẫu tự là tập hợp con của ký tự. Ngay đây, Nguyễn Phú Phong đã hiểu giống họ. Cả người Việt ngày nay cũng thường nói “chữ a”, “chữ bê”, “chữ xê”, … để chỉ những mẫu tự a, b, c, … rời rạc.
Đối với tiếng Việt, xem chữ đồng nghĩa với caractère, character hay lettre, letter như Nguyễn Phú Phong, có lẽ hơi hạn hẹp. Thời xưa chưa có a, b, c, … người Việt đã biết đến khái niệm chữ:
“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”
Nguyễn Du gọi “tâm”, “tài” là chữ. Hai tiếng này có thể được ghi lại bằng hai tự Hán/Nôm, nhưng nếu được ghi lại bằng chữ Quốc Ngữ, thì “tâm”, “tài” không phải là những mẫu tự rời rạc mà là một cụm ký tự (gồm mẫu tự và dấu: t, â, m, a, `, i).
Ta biết, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết; mỗi âm tiết có thể được phát ra thành một tiếng hoặc được ghi lại bằng một chữ. Đó là ý nghĩa truyền thống của chữ trong tiếng Việt.
G
ọi “chữ bê”, “chữ dê”, “chữ đê” để chỉ những mẫu tự Latinh b, d, đ sẽ không phân biệt được với những chữ “bê”, “dê”, “đê” thật sự. Từng tiếng “bê”, “dê”, “đê” mới là âm tiết, còn b, d, đ không phải.
Thiết nghĩ, đừng nên gọi tắt a, b, c, … là “chữ” nữa, mà gọi là “chữ cái” hoặc “mẫu tự” để phân biệt với ý nghĩa “chữ” truyền thống.
Phân biệt như vậy không những chỉ rõ ràng về mặt cấu trúc (của chữ cái và chữ) mà còn cả về mặt công dụng. Trong chữ viết tiếng Việt, chữ cái – giống như dấu – cũng là phần tử nhỏ nhất có công dụng thành lập chữ. Chữ có công dụng mô tả một âm tiết về mặt văn tự. Chữ nằm ở một bình diện cao hơn chữ cái.

Khác với tiếng Việt, những ngôn ngữ đa âm tiết Ấn-Âu như tiếng Anh, tiếng Đức không quan tâm nhiều đến khái niệm chữ. Người Anh, người Đức dùng các khái niệm như syllable, Silbe để chỉ âm tiết chung chung chứ không nói rõ chữ hoặc tiếng. Đối với họ, về mặt cấu trúc ngữ pháp, từ (word) mới là đơn vị cơ bản đáng chú ý.
Cần lưu ý rằng, bản chất
từ của ngôn ngữ đa âm tiết so với ngôn ngữ đơn âm tiết không hoàn toàn giống nhau. Một khác biệt điển hình là hình thái: tiếng Anh, tiếng Đức là những ngôn ngữ hình thái, còn tiếng Việt thì vô hình thái. Ví dụ, động từ tiếng Việt bao giờ cũng nằm ở thể nguyên mẫu, trong khi đó động từ tiếng Anh/Đức có thể biến thể qua những hình vị nhất định nhằm mô tả thời gian, ngôi thứ, cách… Nhân đây cũng cần nên nhớ là đối với ngôn ngữ học Tây phương (chính các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng thường dùng nó để giải thích ngôn ngữ) hình vị được hiểu theo tinh thần ấy chứ không phải “-iếc trong phở phiếc” của Nguyễn Phú Phong. “-iếc” chỉ là một âm của tiếng láy “phiếc” chứ không có nghĩa gì cả, nhưng Nguyễn Phú Phong Phú lại cho đó là “hình vị, tức là yếu tố nhỏ nhất có nghĩa”.
Một ví dụ khác biệt nữa là về mặt cấu trúc ngữ pháp, nhiều nhà ngôn ngữ Âu châu xem từ như đơn vị cơ bản của câu/ngữ đoạn, vừa có âm, vừa có nghĩa, vừa có loại từ vựng. Tiêu biểu là quan điểm của thuyết ngữ pháp tạo sinh của Chomsky. Hai câu “He loves Mary” (tiếng Anh), “Er liebt Mary” (tiếng Đức) được mô tả bằng các quy tắc sản sinh sau đây:
S → NP VP
NP → N
VP → V NP
N → He | Mary | Er
V → loves | liebt
(S: sentence, NP: noun phrase, VP: verb phrase, N: noun, V: verb, |: phép OR trong logic học)
Mô tả bằng cây cú pháp (syntax tree):

Ý tưởng ấy nói lên rằng những từ như “He”, “loves”, “Mary”, “Er”, “liebt” chính là những đơn vị cơ bản của câu/ngữ đoạn; nút N, V của cây cú pháp tận cùng tại đó. Những nút tận cùng (terminal node) ấy đại diện cho những đơn vị cú pháp nhỏ nhất vừa có âm, vừa có nghĩa, vừa có loại từ vựng. Nghĩa là nút của cây đã ngừng tại đó chứ không đi sâu xuống hình vị.
Nguyễn Phú Phong đã hiểu nhầm tôi về “đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất” trong bài “Chính trước phụ sau”, khi ông viết rằng:
“Từ (mot, word) theo ngôn ngữ học truyền thống là một yếu tố có nghĩa. Nhưng từ không phải là yếu tố có nghĩa nhỏ nhất, ví như re trong refaire (làm lại, tiếng Pháp), hay như -iếc trong phở phiếc là những yếu tố không tự do, nhỏ hơn từ, nhưng vẫn có nghĩa. Do đó có nhu cầu đặt ra khái niệm morphem, hình vị, tức là yếu tố nhỏ nhất có nghĩa.”
Câu tôi viết:
“Từ – hiểu theo giới ngôn ngữ học Tây phương – là một đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có âm, ý nghĩa và loại từ vựng (lexical) nhất định (danh từ, động từ, tính từ, liên từ, giới từ, …)”
cần được hiểu là một đơn vị gồm đủ ba yếu tố “có âm”, “có nghĩa” và “loại từ vựng” chứ không chỉ có một yếu tố “có nghĩa” như Nguyễn Phú Phong. Hiểu vậy là thiếu.
Đồng ý với Nguyễn Phú Phong rằng, hình vị có ý nghĩa nhất định song nó chỉ được kể là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất nằm trong nội bộ của từ. Theo quan điểm của giới ngôn ngữ học Tây phương nói chung, phân tích sâu về từ không phải là công việc của cú pháp học (syntax) mà là của hình thái học (morphology). Tuy nhiên cũng có lý thuyết ngữ pháp để ý đến vai trò cú pháp của hình vị đối với bình diện ngữ pháp nhiều hơn một chút. Tiêu biểu là Ngữ pháp chức năng từ vựng (Lexical Functional Grammar) của Bresnan & Kaplan. Chẳng hạn đặc tính từ vựng (lexical) của hai động từ đã chia “loves”, “liebt” của ví dụ bên trên có thể được làm rõ thêm:

Xem từ là đơn vị cơ bản của câu/ngữ đoạn không phải chỉ có tính lý thuyết mà còn có giá trị cho những ứng dụng thực tế. Hệ nhận diện ngôn ngữ tự nhiên là một ứng dụng điển hình, ở đó, v.d. khảo sát một động từ đã chia không phải là phận sự của phần phân tích cú pháp mà là của phần phân tích tín hiệu:

Một tín hiệu (từ, tiếng, chữ) được đưa vào máy sẽ được đối chiếu với những mẫu (pattern) trong băng từ vựng. Mỗi mẫu chứa nhiều thông tin về từ vựng, thì, ngôi thứ, cách, … Chẳng hạn máy nhận được từ “loves” gửi vào, nó sẽ biết ngay đây là một động từ, hiện tại, ngôi 3, số ít, … theo bảng mô tả từ vựng, v.d. được lập trình bằng XML (một dạng thô thiển nhất) [1] :

Sở dĩ tôi phải trình bày chi tiết như trên là mong tác giả Nguyễn Phú Phong hiểu rõ khái niệm “đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất” mà tôi muốn nói.
Phân biệt từ ghép với đoản ngữ
Từ ghép của tiếng Việt là một đề tài thường gây tranh cãi. Nguyên do chính là vì chưa có một định nghĩa thống nhất: từ ghép trong tiếng Việt là gì? Nguyễn Tài Cẩn (1999:49) có viết khá chi tiết về đề tài này. Khá thú vị. Nguyễn Kim Thản (1997), Cao Xuân Hạo (1998), Phan Khôi (1997) cũng có những ý kiến hay của mình.
Trong bài viết của Nguyễn Phú Phong, ông còn muốn nói rõ hơn về sự khác biệt giữa đoản ngữ và từ ghép:
“Chiếc lá, bài thơ là đoản ngữ hay từ ghép? Từ ghép đã được minh hoạ qua các ví dụ ở trên nhưng đoản ngữ là gì? Ðể nghiên cứu ngữ pháp, người ta thường xét đến những đơn vị như câu, từ và hình vị. Nhưng giữa câu và từ/hình vị người ta còn nhận ra một đơn vị trung gian khác là đoản ngữ. Vậy đoản ngữ là thành tố trực tiếp (Immediate Constituent) của câu, lớn hơn từ và có thể gồm nhiều từ. Cái quan hệ giữa các thành tố trong từ ghép thuộc về từ vựng (lexical) còn quan hệ giữa các thành tố trong đoản ngữ nghiêng về cú pháp (syntax). Xin minh họa cái khác nhau giữa hai quan hệ đó qua ví dụ (1) và (2):
- Năm chiếc lá rơi > (1’) Lá rơi năm chiếc
- Có năm (chiếc) máy bay rơi > (2’) * Bay rơi, có năm (chiếc) máy
Theo (1’) thì chiếc có thể tách rời khỏi lá còn theo (2’) thì hai thành tố máy bay không thể tách rời. Như vậy máy bay là từ ghép còn chiếc lá là đoản ngữ chứ không phải từ ghép. Vì thế từ điển thường đưa những đơn vị từ vựng như máy bay vào để giải thích chứ những đoản ngữ như chiếc lá thì không”.
Theo tôi, những cụm từ như chiếc lá, máy bay thực chất đều là ngữ đoạn danh từ. Song trên nguyên tắc, tôi đồng ý với Nguyễn Phú Phong rằng, một mục từ của từ điển nên dành cho:
- từ gốc: lá, nhà, cửa …
- từ thông dụng: máy bay, máy giặt, máy may …
- thành ngữ thông dụng: sống lâu lên lão làng, không đội trời chung, trời đánh thánh đâm …
Đưa những ngữ đoạn danh từ như chiếc lá, cái nhà vào mục từ, e nhiều quá, vì có biết bao nhiêu cụm từ được sản sinh từ công thức từ X + từ gốc: căn nhà, ngôi nhà, dãy nhà … (X = căn, ngôi, dãy, … từ gốc = nhà…). Đối với trường hợp này, có lẽ dùng phụ chú là biện pháp tốt nhất. Đại để cho biết từ gốc nào có thể đi sau từ X nào. Ví dụ: từ gốc nhà chỉ có thể kết hợp với những từ X như căn, ngôi, dãy (căn nhà, ngôi nhà, dãy nhà); kết hợp với con, chiếc như con nhà, chiếc nhà thì không được.
Phân biệt giữa đoản ngữ và từ ghép như Nguyễn Phú Phong đã làm bên trên cũng có những ích lợi nhất định trong việc phân tích cú pháp.
Về loại từ
Trong tiếng Việt có một loại từ rất đặc biệt, trước nhất tôi tạm gọi là loại từ X để tránh tranh cãi về tên gọi của nhiều tác giả khác nhau. Cụ thể là những từ như cái, con, cây, cục, chiếc… người Việt nào cũng biết.
Không cần phải là một nhà ngôn ngữ học, mỗi người Việt bình thường đều có thể khảo sát, xem nó là gì, có đặc tính ra sao. Như một trò chơi khoa học, chúng ta thử quan sát và thu thập dữ kiện (fact) một cách khách quan và sau đó đưa ra ý kiến (opinon) nhận định vấn đề.
Quan sát 1: Điểm dễ nhận thấy nhất là những từ như cái, con, cây, cục, chiếc, .v.v. phải gắn liền với một nghĩa gì đó, chứ nói trống không, người nghe sẽ không hiểu và chắc chắn sẽ hỏi lại: “cái nhưng mà cái gì,” “con nhưng mà con gì,” “cây nhưng mà cây gì,” …? Trả lời được như “cái nhà”, “con chim”, “cây dừa”, … người nghe mới không còn thắc mắc.
Những từ như thế có mức độ trừu tượng khác nhau. “Cái”, “chiếc” thì khó mường tượng; “cây”, “cục” thì dễ hơn nhờ hình thức của nó. Nghe tiếng “cây”, người Việt sẽ liên tưởng đến thực vật (v.d. cây dừa, cây lúa, …), hoặc vật gì cũng thon, mỏng, thẳng, dài giống vậy (v.d. cây côn, cây kiếm, …). Nghe tiếng “cục”, người Việt sẽ liên tưởng đến một vật có hình khối nhỏ, đặc, cân đối chứ không dài (v.d. cục gạch, cục kẹo, …). Đại để là vậy.
Dù trừu tượng nhiều hay ít, từ X nào cũng cần thêm một yếu tố phụ nghĩa cho nó thì mới trọn nghĩa. Cái gì? Cái nhà (gì = nhà). Con gì? Con chim (gì = chim)…
Tiếng Việt có rất nhiều từ X:
Cái, Áng, Anh, Ánh, Bà, Bác, Bài, Bãi, Bản, Bao, Bận, Bầy, Bề, Bó, Bọn, Bộ, Bờ, Buồng, Bụm, Bức, Cách, Cánh, Cảnh, Căn, Cặp, Câu, Cậu, Cây, Chàng, Chị, Chiếc, Chiều, Chồng, Chú, Chùm, Chuỗi, Chương, Con, Cô, Cỗ, Cú, Cục, Cụm, Cuốc, Cuộc, Cuốn, Dãy, Dịp, Dòng, Đám, Đàn, Đạo, Đấng, Đóa, Đoàn, Đoạn, Đôi, Đồ, Đống, Đợt, Đứa, Đức, Em, Gã, Gian, Giọt, Góc, Gói, Hạt, Hòn, Hột, Hớp, Kẻ, Khẩu, Khóm, Khu, Khúc, Kiện, Kỳ, Làn, Lão, Loại, Loài, Loạt, Lô, Lời, Lũ, Luồng, Mảnh, Mảng, Mẩu, Mé, Miếng, Món, Mớ, Mụ, Mùa, Mụn, Nải, Nàng, Nắm, Nén, Nền, Ngọn, Ngôi, Ngụm, Người, Nhà, Nhóm, Niềm, Nỗi, Nụ, Ông, Phần, Pho, Quả, Quyển, Sự, Sợi, Tay, Tảng, Tấm, Tấn, Tập, Tên, Thang, Thanh, Thằng, Thày, Thể, Thứ, Thửa, Tiếng, Tính, Toán, Tốp, Tờ, Trái, Tụi, Vầng, Viên, Vị, Việc, Vở, Vốc, Vũng, Xấp, Xó…
Còn nhiều nữa (xem thêm Cao Xuân Hạo (1998: 305-346), Nguyễn Tài Cẩn (1999: 164-178).
Với mỗi từ như thế, ta có thể tạo nên một cụm từ nói được bằng cách ghép thêm một (thành tố) danh từ/động từ/tính từ ở phía sau. Mỗi cụm từ đều mang tính danh từ:
- Ghép (thành tố) danh từ:
Cái bàn, Anh lính, Bà hoàng hậu, Bài thơ, Bản nhạc, Bầy con nít, Bọn học trò, Bộ luật, Bức tranh, Cánh cửa, Cảnh đời, Cặp vợ chồng, Câu chuyện, Cây cau, Chàng chiến sĩ, Chị sinh viên, Chiếc lá, Chú học trò, Con bò, Cô y tá, Cục đá, Cuộc đời, Cuốn sách, Đám bèo, Đàn trẻ nhỏ, Đạo luật, Đấng trượng phu, Đống rác, Đôi lời, Đứa bạn, Đức Phật, Em gái, Gã thủy thủ, Giọt nuớc, Hạt cát, Hòn đảo, Hột đậu, Khẩu súng, Khúc sông, Lão phường truởng, Loại xe, Lời nhạc, Lũ quỷ, Mảnh vườn, Mảng đời, Mẩu truyện, Miếng cơm, Món cá chiên, Mụ tú bà, Nàng công chúa, Nền văn hóa, Ngôi chùa, Ngọn núi, Người lính, Nhà văn, Nhóm bạn, Nỗi lòng, Ông vua, Pho tượng, Quả địa cầu, Quyển truyện, Sự đời, Tay anh chị, Tấm hình, Tấn tuồng, Tên tài xế, Thanh gươm, Thằng em, Thứ trái cây, Thửa vườn, Tiếng chuông, Tờ giấy, Trái chuối, Viên Thống đốc, Vị tổng thống…
- Ghép (thành tố) động từ:
Cái chết. Anh bán nước, Bà bán chiếu, Bài ca, Bản phụ họa, Bầy ăn cướp, Bọn cá độ, Bức vẽ, Cánh quạt, Cảnh sinh hoạt, Câu nói, Chàng hát dạo, Chị giúp việc, Chú phụ rể, Con ở đợ, Cô phục vụ, Cục nợ, Cuộc sống, Đám biểu tình, Đàn ăn cướp, Đạo làm người, Đấng cứu thế, Đống nợ, Đứa bội tình, Kẻ chán đời, Khúc hát, Lão ăn mày, Loại tuyên truyền, Lời hứa, Lũ ăn bám, Miếng ăn, Món nhậu, Mụ mai mối, Người gây chiến, Nhà lãnh đạo, Nhóm truyền giáo, Niềm thương, Nỗi nhớ, Sự bố thí, Tay tham nhũng, Tên đâm chém, Thằng buôn lậu, Thứ ăn chơi, Tiếng thở than, Tờ báo cáo, Trái cấm, Vị chỉ huy, Viên thông dịch…
- Ghép (thành tố) tính từ [2] :
Cái tối ưu, Anh cả, Bà điên, Bầy trẻ, Bọn nhỏ, Cảnh éo le, Chàng hào hiệp, Chị lớn, Chú nhỏ, Con nhỏ, Cô bé, Cuộc vui, Đám du côn, Đàn trẻ, Đấng anh hùng, Đứa dốt, Em bé, Gã khùng, Kẻ khốn cùng, Lời ai oán, Lũ lai căng, Mảng tình, Mảnh tình, Miếng ngon, Món rẻ, Mụ ác độc, Người nông cạn, Nhà thông thái, Nhóm trí thức, Niềm vui, Nỗi buồn, Ông già, Sự lạnh lùng, Tay cứng đầu, Tên lưu manh, Thằng ngu, Thứ thật, Tiếng xấu, Trái đắng…
Tóm lại: Loại từ X cần phụ thêm nghĩa phía sau để trở thành những cụm từ nói được mang tính danh từ.
Quan sát 2: Trong cách hành ngôn thực tế, người Việt cũng có thể dùng một từ X đứng riêng nhưng phải có điều kiện. Hãy tưởng tượng một ví dụ như khi nghe ai kể, có một người mẹ cười nói với con: “Cho mẹ một cái đi”, chắc chắn bạn đọc sẽ chẳng hiểu gì. “Một cái” là một cái gì ? Nhưng nếu nhìn thấy cảnh đứa bé đang khoe với mẹ nó mấy cái kẹo trong tay, bạn sẽ hiểu, à, bà mẹ nói đùa với nó là xin “cái kẹo”.
Ta thấy trong hoàn cảnh này hoàn toàn không một câu nào nhắc đến “kẹo”; ở đây chỉ có một câu duy nhất “cho mẹ một cái đi”, nhưng người trong cuộc vẫn nói được, người quan sát vẫn hiểu được. Tại sao? Rất đơn giản là vì nhờ mấy cái kẹo đang tồn tại trong khung cảnh đó. Kẹo được thông báo bằng hình ảnh chứ không cần phải nói ra bằng lời lẽ. “Cái” ở đây ám chỉ cái kẹo, đại diện cho cái kẹo.
Quan sát 3: Khi nghe ai nói: “Cô ấy vừa ngâm hai bài thơ hay quá. Một bài của Quang Dũng, một bài của Hữu Loan”, người người Việt sẽ hiểu là “bài” trong cụm từ “một bài” muốn ám chỉ bài thơ đã được nhắc đến trong câu trước. Nói cách khác, “bài” đại diện cho bài thơ trong ngữ cảnh đã được làm rõ ở câu trước. Trường hợp này khác trường hợp quan sát trên ở chỗ là dữ kiện “thơ” xuất hiện trong lời nói chứ không qua hình ảnh.
Quan sát 4: Na ná trường hợp trên là ví dụ “Nhạc thì cô ấy sẽ hát một bài của Phạm Duy, một bài của Văn Cao”. Đây là một lối hành ngôn Đề Diễn (có chữ “thì”) rất thông dụng của người Việt: “A (thì) sao?”, “A (thì) vậy vậy vậy”. Ở đây “A” là phần Đề, “(thì) sao?”, “(thì) vậy vậy vậy” là phần Diễn, nghĩa là diễn giải, thuyết minh về cái “A”, nói rõ thêm về cái “A”. Bởi “nhạc”, tức yếu tố Đề, đã xuất hiện ngay đầu câu, cho nên người Việt không lặp lại nữa mà chỉ nói là “một bài”. Vậy là đủ hiểu.
Khác với ví dụ của quan sát 3 gồm hai câu “Cô ấy vừa ngâm hai bài thơ hay quá”, “Một bài của Quang Dũng, một bài của Hữu Loan”, trong câu sau, ta có thể nói đủ như “Một bài thơ của Quang Dũng, một bài thơ của Hữu Loan” mà không sai ngữ pháp. Còn nếu chỉ có một câu duy nhất, người Việt sẽ không nói như thế, chẳng hạn “Nhạc thì cô ấy sẽ hát một bài nhạc của Phạm Duy, một bài nhạc của Văn Cao”, vì quá dư thừa.
Quan sát 5: Nghe hai câu ca dao dưới đây:
“Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu”
ai cũng thấy, câu đầu đúng ngữ pháp nhưng câu cuối thì sai. Sai bởi vì trong ngôn ngữ sinh hoạt, người Việt không nói “ba bò”, “chín trâu” mà là “ba con bò”, “chín con trâu”.
Ngôn ngữ thi ca khác ngôn ngữ sinh hoạt. Trong thi ca, nhiều khi câu cú bị tỉnh lược do thi luật. Câu bát của đoạn thơ lục bát chỉ cho phép tám tiếng; nếu lập câu đúng ngữ pháp đại để như “Phú ông xin đổi ba con bò chín con trâu”, thì không còn thỏa luật lục bát nữa.
Người sử dụng
ngoại ngữ hàng ngày như tiếng Anh, tiếng Đức hẳn biết, những từ như chicken/Huhn (gà), duck/Ente (vịt) đều là những từ cụ thể và đếm được. Tiếng Việt cũng có các từ gà, vịt giống vậy, cũng cụ thể, song không đếm được. Tại sao? Rất dễ hiểu là vì mỗi từ chicken/Huhn, duck/Ente đã bao hàm tính cá thể (individual), còn gà, vịt thì chưa, vẫn còn rất chung chung. Thành thử người Việt mới nghĩ ra một loại từ có khả năng diễn tả tính cá thể (như cái, con, cây, cục, chiếc…) rồi kèm thêm một tính chất nhất định (như gà, vịt…). Bằng cách đó ta sẽ có một hình thức (form) vừa nói lên được tính cả thể, vừa nói lên được tính chất, và nhờ thế mà đếm được: một con gà, hai con vịt. Bằng cách đó, con gà, con vịt mới tương đương với chicken/Huhn, duck/Ente.
Tóm lại, từ cụ thể trong Việt chưa hẳn đã đếm được mà vẫn còn chung chung; muốn đếm được, cần phải cá thể hóa nó.
Những gì vừa quan sát đều là những dữ kiện khách quan, có thật trong lời ăn tiếng nói thực tế của người Việt, thiết tưởng người nghiên cứu tiếng Việt nào cũng thấy. Tóm lược:
- X là một loại từ trừu tượng, ngữ nghĩa thiếu sắc bén, không thể tồn tại độc lập trong môi trường ngôn ngữ mà cần được phụ nghĩa. Phụ nghĩa có hai cách:
Trực tiếp: Thông tin phụ nghĩa nằm ngay sau nó, tạo thành một cụm từ nói được mang tính danh từ. (Quan sát 1).
Gián tiếp: Thông tin phụ nghĩa có thể nằm ngoài hay trong lời nói. Nếu nằm trong lời nói, nó phải được thông báo ở phần ngữ cảnh phía trước. (Quan sát 1, 2, 4).
- X là từ đếm được (Quan sát 2, 3, 4, 5).
- X là từ đại diện cho phần phụ nghĩa nó ((thành tố) danh từ/động từ/tính từ). (Quan sát 2, 3). X đại diện cho phần Đề (Quan sát 4).
Từ các dữ kiện thực tế và khách quan trên, ta có thể nhận định rằng:
- Khi X được dùng để thành lập một ngữ đoạn danh từ NP, nó sẽ được phụ nghĩa bên phải. Đối với cái phụ nghĩa X, X là cái chính thỏa nguyên tắc: chính trước phụ sau.
- X phải là một danh từ, vì:
(i): Cụm từ X + phần phụ nghĩa là một ngữ đoạn danh từ NP. Ta biết, một ngữ đoạn mang tính chất của phần tử chính trong ngữ đoạn, mà X là phần tử chính, suy ra X phải thuộc lớp danh từ.
(ii): Chỉ có danh từ/ngữ đoạn danh từ mới cần số đếm.
(iii): Trong một câu Đề Diễn, X đại diện cho phần Đề. Nếu Đề có tính danh từ, thì X cũng phải có tính danh từ.
Trong bài “Chính trước phụ sau”, tôi đã nói ngắn gọn rằng “dù là danh từ thường hay danh từ hình thức, người Việt đều bổ nghĩa nó bên phải”, nghĩa là từ X được phụ nghĩa bên phải theo nguyên tắc chính trước phụ sau, song Nguyễn Phú Phong lại suy diễn theo ý ông thế này:
“Trong bài “Chính trước phụ sau”, Dũng Vũ không gọi là loại từ mà gọi là danh từ hình thức vì theo ý của DV ‘loại danh từ này có khả năng hình thức hoá một cái chung chung thành một thực thể cá biệt.’ Một câu giải thích (hay một định nghĩa) như vậy rõ ràng nói lên rằng danh từ hình thức (hay loại từ) là định từ, bổ từ, phụ từ cho danh từ theo sau, nghĩa là đoản ngữ Loại từ+Danh từ theo trật tự Phụ trước chính sau.”
Quan điểm của tôi về từ X đã được trình bày rõ ràng bên trên. Riêng phần đặt tên, xin giải thích như sau.
Sở dĩ tôi không gọi Để
từ X là loại từ là vì nhìn chung X không giống như định từ (determiner), mạo từ (article) của ngôn ngữ Ấn-Âu. Nó thuộc lớp danh từ (noun class) thì đúng hơn (như đã chỉ ra), tôi tạm gọi là danh từ hình thức (formal noun). Ý nghĩa “hình thức” ở đây nên được hiểu theo nghĩa rộng; nó mô tả nhiều thứ chứ không nhất thiết chỉ có hình dạng. Có thể mường tượng hình thức ở đây giống như Form trong ngôn ngữ lập trình Visual Basic/C++ (MFC). Mỗi Form có khả năng mô tả nhiều chi tiết về chức năng, hình dạng, đặc tính… của từng phần tử nằm trong nó.
Cách đặt tên cũng là một vấn đề rắc rối. Phan Khôi gọi từ X là tiền danh từ; Nguyễn Kim Thản gọi là phó danh từ. Có thể hiểu được. Song xem là loại từ như Trần Trọng Kim, Lê Văn Lý có lẽ không đúng lắm. Sau này tôi được dịp làm quen với thuật ngữ danh từ đơn vị của Cao Xuân Hạo. Theo tôi, gọi vậy cũng hữu lý, bởi vì cái tên nói lên được tính đơn vị (unit). Đã là đơn vị hẳn phải đếm được. Hơn nữa số đếm chỉ dùng được cho danh từ/ngữ đoạn danh từ.
Nhân đây cũng xin được nói rằng, sự khác biệt về cách đặt tên thuật ngữ là một đề tài không mới của giới ngôn ngữ học Việt Nam. Đối với tôi, một khái niệm được đặt tên sao cũng được miễn diễn tả đúng ý nghĩa của nó. Tuy nhiên tôi vẫn mong Việt Nam nên có một hội đồng thuật ngữ nhằm thống nhất tên gọi [3] .
Trở lại vấn đề. Cũng với cách suy diễn hơi xa, Nguyễn Phú Phong viết:
“Theo một toan tính kiểm kê, Dũng Vũ có nói đến số lượng tối thiểu là 140 loại từ. Và xác nhận là còn nhiều nữa. Như vậy thì không thể nào làm danh sách đầy đủ của loại từ. Lí do này khiến tôi nghĩ rằng loại từ là một từ loại mở, không đếm xuể. Hơn nữa loại từ có thể là một thực từ (mà thực từ là thuộc từ loại mở) cũng là một lí do cho tôi kết luận rằng loại từ không phải là từ loại khép. Vậy đếm không xuể thì làm sao định nghĩa, nhìn ra một loại từ”Qua chức năng của nó vậy: Loại từ là một tác tử dùng định đơn vị cho danh từ theo sau. Dựa vào đặc tính định nghĩa này thì những từ nào biểu đạt một khái niệm phân lập (notion discrète) có thể đếm được (comptable) đều có thể làm loại từ. Lưu ý rằng định nghĩa loại từ của tôi không bị chi phối bởi sự khu biệt (từ) hư/(từ) thực như của một số tác giả đi trước tôi.
Một lần nữa tôi lại khó đồng ý với cách lập luận của Nguyễn Phú Phong. Tôi không nghĩ “còn nhiều nữa” có thể đồng nghĩa với “không đếm xuể”, “mở” một cách dễ dàng như ông nghĩ. Làm sao tập hợp từ gốc của một ngôn ngữ tự nhiên có thể thể vô tận tựa như {1, 2, 3, …, ∞} của tập hợp N? Số lượng từ gốc của mỗi ngôn ngữ ở thời điểm con người đang sử dụng đều có giới hạn. Không đếm xuể chỉ có thể là những tổ hợp từ gốc được sản sinh theo phép hoán vị hồi quy (recursive permutation), song điều này hoàn toàn không thực tế đối với ngôn ngữ sinh hoạt. Số lượng từ gốc có giới hạn, mà “loại từ” lại là tập hợp con của tập hợp từ gốc, thì số lượng “loại từ” cũng bị giới hạn. Cái gọi là “thực từ” cũng thế, đều là những phần tử thuộc tập hợp từ gốc giới hạn, nên cũng bị giới hạn chứ không thể “mở” được theo cách lý luận của Nguyễn Phú Phong. Cần xác định khung logic ở đây là gì.
Xoay quanh “loại từ”, Nguyễn Phú Phong còn nêu lên một vài quan điểm tôi cho rằng cần xét lại.
1: Trong đoản ngữ “Hai con chó ấy”, Nguyễn Phú Phong khẳng định: “chó là từ trung tâm của đoản ngữ, hai và con là tiền định từ cho chó, còn ấy là hậu định từ cho chó.”
Vậy thử phân tích ngữ pháp đoản ngữ ấy bằng phép tỉnh lược xem có đúng “chó” là từ trung tâm hay không:
- * Hai con chó ấy: Sai ngữ pháp, không nói được.
- Hai con chó ấy: Ðúng ngữ pháp, nhưng chỉ nói được nếu “chó” đã xuất hiện trước đó trong hoàn cảnh ngôn ngữ (trong câu, trong khung cảnh)
Từ đó suy ra “chó” không phải là từ trung tâm.
2: Trong bài viết “Con cái, Cái con, Con và Cái. Danh từ, Loại từ và Quán từ”, Nguyễn Phú Phong muốn chứng minh con không phải là từ trung tâm:
- Hai con người quái lạ
- Hai [Ø] người quái lạ
Tác giả giải thích: (a) và (b) có thể xem như đồng nghĩa, chỉ khác nhau ở chỗ trong (a) Lt là con thì trong (b), Lt =Ø . Nếu giả thuyết rằng trung tâm của đoản ngữ [hai con người] trong (a) là Lt con, thì tất nhiên phải nhìn nhận trung tâm của đoản ngữ [hai (Ø) người] là LtØ. Hiển nhiên đây là điều không chấp nhận được, nên từ trung tâm của đoản ngữ (a, b) phải là Dt người.
Tôi cho rằng, người vốn dĩ là một danh từ đếm được (một người, hai người, ba người…), cho nên không cần thêm con vào để xét xem từ nào là từ trung tâm. Con người mặc dù có từ con đứng trước nhưng đó là một từ độc lập, một danh từ bất khả phân. Thực chất của vấn đề là vậy và đơn giản là vậy.
Có lẽ Nguyễn Phú Phong đã không để ý đến thực chất ấy nên đã đưa yếu tố “đồng nghĩa” vào để lý luận rằng nếu lược bỏ con ta sẽ thấy người là từ trung tâm của đoản ngữ. Cách lý luận ấy vừa tự mâu thuẫn với điều tác giả đã chỉ ra, vừa mang tính cục bộ.
Một, mâu thuẫn là vì tác giả đã chỉ ra rằng đoản ngữ tách được, còn từ ghép thì không:
“Chiếc lá” là đoản ngữ: Năm chiếc lá rơi > Lá rơi năm chiếc
“Máy bay” là từ ghép: Có năm (chiếc) máy bay rơi > * Bay rơi, có năm (chiếc) máy
Theo cách giải thích đó, “con người” cũng tương tự như “máy bay”, không tách được:
Hai con người quái đản > * Người quái đản thì hai con
Đã biết không cho phép làm tổn thương một tổ hợp cố định như từ ghép “con người”, thì tại sao lại tỉnh lược “con” thành cấu trúc “Ø người”? Hơn nữa, “con” trong ngữ đoạn “Hai con người quái lạ” hoàn toàn không có mối quan hệ lệ thuộc cú pháp gì với ngữ đoạn “Hai người quái lạ”. Hai ngữ đoạn này nằm ở tư thế độc lập, có thể được sử dụng trong hai hoàn cảnh riêng biệt, hoàn toàn không có nhu cầu được phụ nghĩa cũng như phụ nghĩa (lẫn nhau).
Hai, cục bộ là vì không đúng cho mọi trường hợp. Cũng trong bài viết “Con cái, Cái con, Con và Cái. Danh từ, Loại từ và Quán từ”, Nguyễn Phú Phong đã dùng “cấu trúc đồng dạng” cho hai ví dụ “Hai đứa tao”, “Hai đứa học sinh” để lý luận, vậy dựa vào cách đó, ta cũng có thể đưa ra một ví dụ tương tự cho trường hợp “Hai con người quái lạ”,”Hai [Ø] người quái lạ”:
- Hai con vật quái lạ
- Hai [Ø] vật quái lạ
Thử hỏi “con vật” có đồng nghĩa với “vật” không? Có bắt buộc “vật” phải là con vật, hay có thể là đồ vật? Nếu không đồng nghĩa thì nỗ lực khai thác tính “đồng nghĩa” có đảm bảo một lập luận có giá trị toàn thể (general valid, allgemeingültig) không? Khung logic ở đây là gì?
Hơn nữa, nên nhớ rằng, dùng từ X chỉ hữu lý cho những danh từ/ngữ đoạn danh từ không đếm được; ngoài ra, từ X không thể tồn tại độc lập mà cần ngữ cảnh đã tồn tại trước (trong câu, trong khung cảnh). Quên các điều kiện này dễ dẫn đến những suy diễn thiếu đúng đắn.
Còn những điểm khác trong bài Con cái, Cái con, Con và Cái. Danh từ, Loại từ và Quán từ của mình, Nguyễn Phú Phong cũng suy diễn thiếu điều kiện với một khung logic bất định tựa vậy.
Thưa ông Nguyễn Phú Phong,
bằng cách lý luận thiếu điều kiện và với khung logic bất định, tôi cũng có thể chứng minh được rằng:
Là người thì phải chết.
Socrates là người.
Socrates phải chết.
Vậy:
Không phải là người thì không chết.
Thú vật không phải là người.
Thú vật không chết.
Stuttgart, 01.05.2005
Tài liệu tham khảo
- Cao Xuân Hạo (1998) Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa. TP.HCM: Nxb. Giáo Dục.
- Dũng Vũ (2003) Tiếng Việt và ngôn ngữ học hiện đại – Sơ khảo về cú pháp. Stuttgart: VIET.
- Kaplan, R.M. & Bresnan, J (1982) Lexical Functional Grammar: A Formal System for Grammatical Representation. Bresnan, Joan (forthcoming) Lexical Functional Grammar. Oxford: Blackwell.
- Nguyễn Kim Thản (1997) Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt. Hà Nội: Nxb. Giáo Dục.
- Nguyễn Kim Thản (1999) Động từ trong tiếng Việt. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã Hội.
- Nguyễn Tài Cẩn (1999) Ngữ pháp tiếng Việt. Hà Nội: Nxb. ÐHQG Hà Nội.
- Phan Khôi (1997) Việt Ngữ Nghiên Cứu. Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng.
© 2005 talawas
[1]Đây là một trong nhiều cách thực hiện băng từ vựng. Chọn băng dữ liệu SQL làm phương tiện lưu trữ thông tin là cách thực hiện chuyên nghiệp thường thấy trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên.
[2]Tính từ trong tiếng Việt nhiều khi chính là động từ, chứ không đơn thuần như tính từ của các ngôn ngữ Âu châu, thành ra có thể gọi chung động từ, tính từ thành vị từ. Ngoài ra cần lưu ý,
“predicate” là một thuật ngữ khá lộn xộn trong ngôn ngữ học; có lúc hiểu là vị từ, có lúc hiểu là vị ngữ.
[3]Thống nhất thuật ngữ là một việc tôi đã hằng đề nghị qua các bài viết của mình trong những năm qua, song đến giờ này vẫn chưa thấy giới ngôn ngữ học Việt Nam lên tiếng ủng hộ, vẫn không biết Việt Nam đã có một hội đồng lo về việc này hay chưa.