Đặng Thế Đại
Tôi vừa được đọc bài “Cái đương nhiên của quyền lực – Trả lời ông Ðặng Thế Ðại” của cụ trên talawas, sợ rằng cụ có chút hiểu lầm, tôi xin đáp từ ngay.
Tôi xin trình bày lần lượt:
Trong Thần, người và đất Việt (bản in 1989) cụ có đưa ra những lập luận từ các lệnh 1474 và lệnh 1496, nhưng không dẫn nguồn, nên bạn đọc không biết các lệnh ấy được ghi lại trong sách nào, nội dung ghi lại cụ thể ra sao để tự mình kiểm tra, vì thường vẫn có những cách hiểu khác nhau từ một tư liệu sử. Cuối chương, đúng là cụ có chú thích: “Trừ các chú dẫn thêm, các tài liệu cho phần này đã được ghi ở bài ‘Một trú sở của thần linh Việt: Cái đình làng’”. Và chỉ có thế! Bạn đọc lại tự hỏi: bài “Một trú sở…” này đăng ở đâu, khi nào. Chỉ đến bài “Cái đương nhiên…” nói trên, tôi mới được cụ cho biết nó đăng trên tạp chí Văn Học ở Mỹ. Tôi nghĩ mỗi cuốn sách phải có đời sống độc lập. Bạn đọc không thể cứ chạy lòng vòng để tìm nguồn của một tư liệu. Tuy vậy, tôi cũng đã lục tìm trong Đại Việt sử ký toàn thư và cả một vài sách cổ khác của ta (Đại Việt thông sử, Khâm định...) nhưng không thấy có ghi chép gì về hai cái lệnh trên [1] . Chính vì chưa kiểm tra được, tôi chưa dám tin vào những lập luận của cụ, mặc dù tôi rất kính trọng cụ. Đấy là lý do duy nhất khiến trong bài của mình tôi không nhắc đến những lập luận đó. Trước mỗi ý kiến, tôi chỉ quan tâm đến nội dung khoa học của nó mà thôi, không cần biết ý kiến ấy là của ai, người Nam hay Bắc, trẻ hay già, nổi tiếng hay vô danh, thái độ chính trị ra sao, tiểu sử thế nào. Cụ có thể thấy ngay trong bài “Một hướng tìm hiểu về…” mà cụ chê trách, tôi đã dẫn bài báo của ông Nguyễn Tiến Hữu in ở miền Nam từ 1973, mà đến nay tôi vẫn chưa biết gì về ông ấy, ngoài bài báo nói trên. Có thể đó là do tôi ít hiểu biết. Tôi đã toan đặt câu hỏi ngược lại với cụ: tại sao bài của ông Nguyễn Tiến Hữu có tính chất khai mở nhiều vấn đề về tín ngưỡng Thành hoàng mà không thấy cụ nhắc đến. Nhưng tôi thấy làm như vậy là vô lý, vì không thể đòi hỏi nhà nghiên cứu nào cũng phải biết ngay mọi tác giả, mọi bài báo bàn đến vấn đề của mình, chưa kể đến sự sơ suất mà ai cũng có lúc mắc phải.
Tuy nhiên, tôi cũng thừa nhận rằng tôi rất yếu về tư liệu. Có những cái do khách quan. Chính sách kiểm duyệt nhập khẩu khiến cho sách báo của người Tây Mỹ nhập về còn dễ hơn sách báo của Việt kiều. Người ta tìm đọc Li Tana dễ hơn là tìm đọc Tạ Chí Đại Trường thì cũng là chuyện bình thường. Cuốn sách của cụ mà tôi có trong tay là bản photo đã nhiều lần đến mờ hết chữ, vậy mà cho đến trước khi nó được in lại ở Việt Nam vẫn có người cầu cạnh tôi để mượn sao chụp lại. Cái tạp chí Văn Học ở Mỹ đã đăng bài của cụ đến nay tôi vẫn chưa nhìn thấy lần nào. Đó là cái tình trạng đáng buồn có thật ở Việt Nam. Dĩ nhiên, ngoài cái khách quan ấy, còn lý do là bản thân tôi kém về quảng giao, ít quan hệ với những người ở nước ngoài. Tôi tự biết, tôi không khác gì ếch ngồi đáy giếng. Nhưng không lẽ bỏ nghề. Thôi thì cứ liều viết lên mạng, được cụ trả lời, nhờ thế biết thêm một chút, phá dần cái miệng giếng ra. Vì vậy tôi thực lòng cám ơn cụ.
Về ông Thành hoàng từ Huế trở vào mà cụ cho rằng “chỉ là các ý niệm triết lí Nho hiện thân thành các ông vô danh “hộ quốc tí dân…” và nhiều người khác cũng nói rằng chỉ là ông “Bản cảnh Thành hoàng” hay “Đương cảnh Thành hoàng” chung chung, không tên tuổi, không thần tích thì tôi thấy lại là bằng chứng về cái vai trò liên kết làng-nước của ông ta. Người dân đi xa đất tổ, lập làng lập ấp, vẫn cần một cái ý niệm ấy để gắn làng ấp mới với đất nước, nếu không thì sao người ta cố dựng nên một ông thần ý niệm như vậy để thờ.
Cuối cùng, tôi không tránh được buồn lòng vì bị cụ kết tội oan là dám “xoa đầu, vỗ vai khen” nhà văn Sơn Nam “bộc trực”, từ đó quy kết thành vấn đề lớn hơn là coi thường Nam Bộ. Nhà văn Sơn Nam tuy chưa lần nào tôi được gặp nhưng vô cùng quý trọng và biết ơn (qua các sách của ông). Trong bài trên talawas, tôi có viết: đề cập đến việc dựng đình tại những làng mới lập ở Nam Bộ, Sơn Nam đã phát biểu một cách trực cảm rất hay, rất Nam Bộ như sau: “Xây dựng đình làng là nhu cầu tinh thần, có đình thì mới tạo được thế đứng, gắn bó với cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ, bằng không thì chỉ là lục bình trôi sông, viên gạch rời rạc, một dạng lưu dân tập thể”. Thưa cụ, chắc cụ đồng ý rằng bộc trực khác với trực cảm. Trong cả cuốn sách của mình (Đình miễu và lễ hội dân gian, nxb TP HCM, 1992), Sơn Nam không hề lý giải vì sao nhờ có đình thì làng mới gắn với cộng đồng dân tộc, mà thậm chí lại còn gắn cả với càn khôn vũ trụ nữa (?). Lúc phát biểu điều này, Sơn Nam dường như xuất hiện với tư cách một nhà văn, mà ông thì vẫn đôi khi đứng chân giữa một bên là tư cách nhà văn, một bên là tư cách nhà khảo cứu. Tôi nghĩ một nhà văn mà trực cảm thì là chuyện hay chứ sao. Sự trực cảm nếu giải thích được thì đã không còn là trực cảm, nhưng nó chỉ xuất hiện dựa trên một nền tảng là sự hiểu biết sâu sắc và sự gắn bó máu thịt như trong trường hợp Sơn Nam đối với con người và vùng đất Nam Bộ. Nó thuộc vào số những trực cảm mà nhiều khi người ta phải gọi là trực cảm thiên tài (dĩ nhiên bộc trực thì không thể có bộc trực thiên tài). Còn hình ảnh bèo lục bình trôi sông cứ gợi cho tôi đến những câu ru con Nam Bộ, đến sông nước miền Tây. Vậy tôi cũng trực cảm rằng phát biểu của Sơn Nam rất Nam Bộ. Rất Nam Bộ thì có gì là xấu là kém, nếu không nói là hay? Cụ trách ai đấy khen “văn Nam Bộ” của Nguyễn Ngọc Tư: sao không là văn Việt Nam? Tôi thấy ý của cụ rất hay và tôi không có gì mâu thuẫn với cụ. Chỉ có điều xin cụ xét thêm: rất Nam Bộ cũng là Việt Nam và hơn nữa còn là rất Việt Nam. Vì thế, nếu talawas đồng ý, tôi sẽ xin minh họa thêm điều ấy trong một bài báo tiếp theo (chỉ xin lần lữa chừng 5-7 ngày), trong đó, dĩ nhiên tôi không dám bàn đến những lĩnh vực mà mình không biết rành (cụ đã mở rộng vấn đề ra cả văn học, dịch thuật, khoa học xã hội nói chung…): Tôi sẽ viết về cái mà cụ đã đặt tên là Dòng tiên tri Nam Bộ.
Xin cám ơn cụ một lần nữa,
Đặng Thế Đại
© 2007 talawas
[1]Thực ra, ông Nguyễn Duy Hinh có dẫn tư liệu trong
Hồng Đức thiện chính thư liên quan đến việc đặt hậu ở đình, vào năm Hồng Đức 27 và 28, không biết có phải là cái lệnh 1496 mà cụ nói đến không, nhưng theo tư liệu này thì không nói gì đến quyền sở hữu của đình. Nguyễn Duy Hinh đã nhấn mạnh:
nhà giàu bỏ tiền của ra làm đình không có nghĩa là đình thuộc quyền quản lý cá thể (
Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam, KHXH, H. 1996, tr. 376-380).