trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
10.2.2005
Vương Chung
Lỗi tại bác Ngọc Hoàng…
 

Tôi có một thú vui nho nhỏ. Ðó là thập thò hóng hớt bên lề diễn đàn talawas. Lặng lẽ lắng nghe, và lặng lẽ suy ngẫm (nếu có thể tự kỷ một cách trí tuệ như thế). Thôi thì rất nhiều đề tài, rất nhiều chủ đề lớn nhỏ khác nhau. Nhưng mà thứ gì bản thân cho là quan trọng, hoặc thấy thích thú, thì sẽ chú mục hơn. Ðề tài về lý lịch mờ ám của từ vi tính mà anh Bùi Việt Bắc đề xướng, có lẽ thuộc lý do thứ hai.

Cuộc thảo luận quanh đề tài này đã diễn ra từ nhiều ngày qua. Ðã có nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác nhau. Các tác giả tham gia cũng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, từ khoa học tự nhiên ngành rộng, đến điện toán học ngành hẹp. Cả các nhà ngôn ngữ học nữa. Mọi người hăm hở mổ xẻ, phân tích, giả định với từ vi tính. Có lẽ ít cuộc tranh luận nào sôi nổi và rộng khắp như lần này, ít ra là theo tôi cảm nhận thấy. Tựu trung, đa số có vẻ đồng thuận với xác quyết của Bùi Việt Bắc, là: từ vi tính có một “nhân thân” mờ ám. Có vẻ không xứng đáng với nhiệm vụ mà nó gánh vác, và nếu có thể, cần được loại bỏ. Riêng các phương án thay thế nó cũng đã tạo ra một thảo luận say sưa và nghiêm túc rồi.

Ở đây, tôi xin liều lĩnh phát biểu một vài cảm nhận nhỏ. Một ý kiến bổ sung bởi một kẻ ngoại đạo hoàn toàn đứng ngoài tất cả các lĩnh vực học thuật nghiêm cẩn kể trên. Ðây rõ ràng chỉ là một thiển kiến thô sơ và hạn hẹp. Cho nên, vĩ thanh của nó, nếu có, chắc chắn là nằm ngoài dự kiến của người viết.

Tôi nghĩ, lúc mới xuất hiện, cách đây chắc độ gần 30 năm, từ vi tính là một từ độc đáo. Nó dường như là một từ “đắc địa” vào thời điểm đó, trong ngành Toán-Tin, với một lối dịch nôm na từng chữ một từ Anh ngữ. Lúc đó, chắc cũng có người chưa hài lòng với nó. Nhưng trong một ngành khoa học mới mẻ, lại phát triển như vũ bão như thế, trước bao bộn bề sự vụ, hẳn phần đông đều tặc lưỡi chấp thuận. Tôi nghĩ vui thế này, lỗi lớn nhất thuộc về cái tác giả đã dịch nó ra tiếng Việt, hay chính xác hơn là đã đặt cho nó cái tên Việt. Dù kiểu ghép đó là Hán-Việt hay Việt-Hán, nói vắn tắt vẫn là một cái tên tiếng Việt thuần tuý. Ðể đến bây giờ, khi đã bình tâm với phần lớn các vấn đề lớn lao, bức xúc thời điểm đó, chúng ta mới giật mình nhìn lại một việc làm chưa đúng đắn trong quá khứ. Ấy là khai sinh ra một từ sai là vi tính. Cái lỗi ấy sờ sờ đến mức cha đẻ ra nó, hoặc không đủ can đảm nhận lỗi hoặc do ăn năn đến mức tự mai danh ẩn tích, không dám lộ diện để giải trình về một “sơ suất” tai hại như thế. Hoặc giả là, khi đó, từ vi tính đó cũng còn khả dĩ lọt tai chút ít. Chứ bây giờ, nó đã lạc hậu, đã bất cập. Hoàn toàn không còn phù hợp. Cho nên, phải thay thế thôi. Muộn còn hơn không. Dù bây giờ nó đã hết sức phổ biến. Ðã len lỏi và tự định vị ở những chỗ rất quan trọng trong các ngành khoa học liên quan. Ðã thành thông dụng và quen tai với phần lớn công chúng. Thậm chí, còn trở thành tên gọi của một tạp chí quan trọng. Mặc kệ, ta vẫn cứ phải thay nó bằng một từ chuẩn hơn.

Mà chuyện khuynh loát đó, nếu có xảy ra thật, cũng là điều dễ hiểu. Ngôn ngữ là một thực thể linh động. Nó tồn tại sống động theo kiểu của riêng nó. Một biểu hiện cụ thể là sự biến đổi và phát triển trong thuật ngữ của các lĩnh vực liên quan như xã hội, văn hoá, kinh tế… Trong xã hội chẳng hạn, nhiều từ có lẽ rất phổ cập trong dĩ vãng, giờ vẫn cố bám ở vị trí cũ trong từ điển nhưng đành ngậm ngùi với thân phận “cũ” hoặc “ít dùng”. Có khi lại còn biến đổi so với lúc khởi thuỷ. Nhưng thế cũng còn hơn, nếu so với những số phận đen đủi hơn. Biến mất hoàn toàn. Không còn dấu tích nào.

Vì thế, nói ngoài lề một chút, theo tôi, một cuốn từ điển tin cậy phải là một cuốn từ điển được hiệu chỉnh, bổ sung định kỳ. Phải cập nhật thường xuyên để tương xứng với sự cựa quậy, vận động của ngôn ngữ. Tỷ dụ, cá nhân tôi hài lòng và khoái chí với cuốn Từ điển từ và ngữ Việt Nam của cố giáo sư Nguyễn Lân, được cụ xuất bản khi đã ngoài chín chục tuổi, hơn là so với cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (in lần thứ 5, 1997) hoặc Ðại từ điển tiếng Việt (Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam-1999). Cả hai đều được biên soạn bởi một tập thể tác giả hùng hậu. Đây là ý kiến cá nhân hoàn toàn. Ðể tránh những ngộ nhận và hiểu lầm đáng tiếc. Nếu có.

Trở lại với ý kiến của tác giả Bùi Việt Bắc. Qua các phân tích, các dẫn chứng sâu sắc và uyên thâm, tôi hoàn toàn bị thuyết phục rằng từ vi tính là một kết hợp thuật ngữ sai về mặt ngôn ngữ. Tuy nhiên, tôi phân vân trước thái độ tự tin lạc quan của tác giả này khi dự đoán về sự đào thải chắc chắn của nó trong tương lai [gần]. Thiển nghĩ, lúc ban đầu, một ai đó (hiện đã ở ẩn?) xác lập từ vi tính như một tên riêng hơn là dịch sang tiếng Việt. Chính xác hơn, trong một ngành khoa học mới như Tin học, việc phỏng dịch từ tiếng Anh trong trường hợp này gần như chỉ nhằm mục đích phân biệt. Nếu có thể nói như vậy. Nói đơn giản là, vào thời điểm đó, từ vi tính được “ưu ái” vì nó không trùng lặp với một từ đã có trong tiếng Việt, không gây nhầm lẫn với một từ nào khác, cũng trong tiếng Việt, và bản thân nó, trong chừng mực nhất định, còn có vẻ khá tương ứng với từ gốc trong Anh ngữ (theo anh Bắc, nguyên uỷ của sự việc là việc dịch “bừa” từ microcomputer thành máy vi tính). Như thế, lúc ban đầu, sự xuất hiện của từ vi tính chủ yếu nhằm đáp ứng nhiệm vụ “phân biệt”. Thế là, sau một giai đoạn phẳng lặng khá dài, có vẻ như nó đã hoàn thành trọng trách của mình. Và bất luận là có tư cách bí hiểm hay minh bạch đến đâu, sau khoảng thời gian tồn tại đáng nể như vậy, có lẽ bây giờ nó đã có thể vênh váo một chút: “Tôi tồn tại nên tôi có lý”.

Do đó, ban đầu, nếu như sự chấp nhận từ vi tính như một kiểu cực chẳng đã, thì đến giờ, theo tôi, sự tồn tại của nó đã trở thành được thừa nhận mặc nhiên. Về kịch bản hơi hài hước là trưng cầu dân ý nếu chúng ta có điều kiện thực hiện, trong trường hợp đã giải quyết triệt để các vấn đề đại sự, lớn lao hơn, vẫn là võ đoán, tôi đồ rằng kết quả sẽ trái ngược với nguyện vọng của anh Bùi Việt Bắc. Một so sánh vui thế này. Ví như, nếu tiến hành trưng cầu tương tự với từ taxi, tôi tin rằng thuật ngữ “xe con chở khách” sẽ thất bại thảm hại, cho dù phương án này vừa thuần Việt, vừa chính xác, vừa nôm na gần gũi với mọi giới. Ðặc biệt, lại có một trích ngang tương đối rõ ràng. Nếu có thể nói thế.

Ðến đây, tôi sực nhớ tới một truyện cổ tích được nghe từ lúc bé. Chuyện kể, ngày xửa ngày xưa, có lần Ngọc Hoàng bỗng muốn đặt tên gọi cho mọi giống loài. Ngài liền truyền cho muôn vật tuần tự xếp hàng lên thiên giới để được đặt tên. Thế là, mọi loài, bất kể lớn bé, to nhỏ, động vật hay cây cỏ đều ùn ùn khăn gói lên đường. Vì có được một danh tính riêng biệt như thế, giữa lúc mọi thứ còn hỗn mang, còn lẫn lộn, thì thật tuyệt. Ngọc Hoàng phải làm việc quần quật bằng “mồm”. Ngài gọi một con vật hoặc một cây cỏ vào, ngắm nghía chút đỉnh rồi đặt cho y một cái tên thật đẹp. Hoặc thật kêu. – Chú là hổ, chú thì là báo, chú thì là (cây) đinh, chú thì là lim… Thế rồi lần lần, nào chó, mèo, lợn, gà…, rồi cam, quýt, mít, dừa… dù là cây hay con, dù có quy mô lực lưỡng hay khiêm tốn đến đâu, giống nào cũng có tên và đều hài lòng ra về cả. Đến một ngày kia, khi sứ mệnh của ngài đã gần như hoàn tất, sân thiên đình đã vắng hoe, Ngọc Hoàng đã thở nhẹ khoan khoái, thì một giống cây nhỏ lạ lùng, chắc đi lạc từ đâu về nên suýt lỡ mất dịp đặt tên, hớt hải chạy vào, hồi hộp cúi đầu thi lễ. Ngọc Hoàng ngẩn người, đoạn lẩm bẩm thành lời để cân nhắc “Chú thì là, thì là…”. Ngài phải ngẫm nghĩ tý chút, để ban cho cái anh chàng chậm chân này một danh xưng thật hay, hầu tương xứng với cái vẻ xanh tươi dễ thương của hắn. – Chà, tên hay thì lắm, nhưng cũng dùng cạn cả rồi. Ðể xem nào. – Nhưng than ôi, mới chỉ có thế, anh chàng láu táu đã vụt lao ra khỏi thiên đình, ba chân bốn cẳng theo đường cũ, thoắt cái, đã tụ họp với chúng bạn hành, tỏi, giềng, ớt… đang nóng lòng đón đợi nơi hạ giới. Oái oăm thay, đã bộp chộp lại còn nghễnh ngãng, cu cậu hổn hển thông báo với bè đảng giọng tự hào “Tớ là thì là. Ngọc Hoàng quyết định rồi”. Và thế là, anh chàng nghiễm nhiên trở thành thì là, một loại rau thơm có vẻ tầm thường nhưng không thể thiếu được trong nồi canh cá của mọi nhà. Rõ ràng, nguyên nhân của chuyện đặt tên sai này chính là bởi cái anh chàng bất cẩn hay nóng ruột. Giá kiên nhẫn hơn, hẳn là y đã thành Ngọc cải, Diễm hành, Thuý mùi, hay gì gì đó. Một cái tên thật đẹp. Và tương xứng với vị trí danh giá của nó trong nồi canh. Tiếc thay. Chắc thì là cũng ân hận lắm.

Không hiểu sao, ngay lúc này, tôi không thể không liên tưởng tới một hình ảnh oai hùng và cảm động chẳng có tý liên can gì tới cây thì là. Ðó là, trên đường phố Paris, ngay giữa hai làn đạn vô tình, chú bé Gavroche hiên ngang và bất cẩn, vừa nhanh nhẹn né đạn vừa khéo léo nhặt đạn, và lẩm nhẩm ngạo nghễ một câu hát tự biên: “Lỗi tại bác Ngọc Hoàng…”.

Hà Nội 6.2.2005

© 2005 talawas

 
© talawas 2026