trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
23.10.2006
Cao Việt Dũng
Lời giới thiệu tác phẩm “Những cuộc đời song hành” của Plutarque
 
Bộ sách Những cuộc đời song hành (tiếng Anh: Parallel Lives, tiếng Pháp: Vies parallèles), 48 nhân vật của Plutarque, dự kiến gồm bảy tập sang tiếng Việt. Hiện nay ngoài tập 1 (Thésée-Romulus và Lycurgue-Numa) đã in, một số cặp nhân vật khác cũng đã có bản thảo. Tuy nhiên, nhóm dịch còn rất thiếu người. Nếu Lời giới thiệu này gợi được cảm hứng cho những người có quan tâm đến mảng lịch sử Hy Lạp – La Mã, chúng tôi rất mong có thêm sự trợ giúp, đặc biệt trong công việc phiên dịch (do khả năng có hạn, chúng tôi cần các dịch giả tiếng Anh và tiếng Pháp). Liên hệ để tham gia dự án: dzungcv@gmail.com.

Cao Việt Dũng


Lời giới thiệu

“Tôi không biết mình đã làm gì cho đến tuổi lên năm hay sáu; tôi không biết mình đã học đọc thế nào; tôi chỉ còn nhớ những sách đầu tiên đã đọc và ấn tượng chúng gây ra cho tôi: đó là khoảng thời gian khi tôi bắt đầu nhận ra được, và sau đó sẽ không có chút gián đoạn nào, ý thức về bản thân tôi. Mẹ tôi để lại nhiều tiểu thuyết. Chúng tôi, tôi và cha, đọc sách sau khi ăn tối. Thoạt tiên chúng tôi chỉ muốn hoàn thiện kỹ năng đọc của tôi bằng những cuốn sách vui nhộn; nhưng rất nhanh chóng sự say mê [đọc sách] trở nên thôi thúc đến nỗi chúng tôi luân phiên đọc không ngừng nghỉ, hằng đêm hằng đêm. Chúng tôi chỉ có thể rời sách khi đã đọc cho đến hết. Nhiều lúc cha tôi, khi sáng ra nghe thấy tiếng hót chim én, ngượng ngùng nói với tôi: “Thôi đi ngủ; cha còn trẻ con hơn cả con.”

Trong một khoảng thời gian ngắn, bằng phương pháp nguy hiểm đó, tôi thu lượm được không chỉ một kỹ năng đọc và hiểu cực kỳ tốt, mà còn một tầm hiểu biết hiếm có ở độ tuổi của tôi về các cảm giác. Tôi không có chút ý tưởng nào về sự vật, thế mà tôi biết hết các loại tình cảm. Tôi không ý thức được gì hết, tất cả tôi đều chỉ cảm nhận. Những nỗi xúc động hỗn độn đó, mà tôi lần lượt thu hái được, không hề làm hỏng đi cái lý trí cho đến khi đó tôi còn chưa có; nhưng chúng rèn luyện tôi theo một kiểu khác, và trao cho tôi những khái niệm kỳ lạ và đầy tính tiểu thuyết về đời người, mà kinh nghiệm và suy tư sẽ không bao giờ xóa nhòa được khỏi đầu óc.

Tiểu thuyết chấm dứt vào mùa hè năm 1719. Mùa đông tiếp theo, đã có cái khác thế chỗ. Tủ sách của mẹ tôi cạn kiệt, chúng tôi chuyển sang tủ sách của ông ngoại mà chúng tôi được quyền sở hữu. Thật may mắn vì ở đó có những cuốn sách tốt; không thể khác được vì tủ sách đó thật tình do tay của một mục sư lập nên, ông lại còn là một bác học, vì hồi đó như thế là mốt, nhưng ông là người có gu và có trí tuệ. Lịch sử Nhà thờ và Đế chế của Le Sueur, Luận văn của Bossuet về Lịch sử phổ quát; Gương danh nhân của Plutarque; Lịch sử Venise của Nani; Những chuyển hóa của Ovide; La Bruyère; Các thế giới của Fontenelle; Luận đàm của người chết cũng của ông, và vài tập kịch của Molière, được chuyển vào văn phòng của cha tôi, và ngày nào tôi cũng đọc cho ông nghe, trong khi ông làm việc. Tôi tìm thấy ở chúng một gu hiếm có và có thể là duy nhất ở tuổi đó. Đặc biệt Plutarque trở nên tác giả mà tôi yêu thích nhất. Niềm thích thú khi đọc đi đọc lại ông dần chữa tôi một chút khỏi bệnh tiểu thuyết; và tôi nhanh chóng thích Agésilas, Brutus, Aristide hơn nhiều so với Orondate, Artamène và Juba. [ba nhân vật đầu tiên của Plutarque, ba nhân vật sau là của các tiểu thuyết TK XVIII. Như vậy Rousseau đối lập hai lý tưởng khác nhau, tính phù phiếm của tiểu thuyết và tính luân lý nghiêm trang của lịch sử].

Từ những lần đọc sách thú vị đó, những cuộc trò chuyện nảy sinh giữa cha và tôi, đã tạo nên cái tinh thần tự do và cộng hòa, cái tính cách bất khuất và kiêu hãnh, nóng nảy chống lại áp bức và phục tùng, cái tính cách đã hành hạ tôi suốt cuộc đời, cả trong những tình huống nhiều khi không cần đến nó. Không ngừng bận tâm với Rome và Athènes, không ngừng sống với những con người vĩ đại của hai thành phố đó, tự bản thân tôi cũng sinh ra là công dân của một nền cộng hòa, con trai của một người cha có tình cảm lớn nhất là tình yêu nước, tôi cháy bỏng khát khao học tập theo gương ông [Plutarque]: tôi tự thấy tôi là người Hy Lạp hay La Mã; tôi trở thành nhân vật, tôi đọc cuộc đời nhân vật ấy: truyện kể về những nét kiên định và gan dạ tác động đến tôi, làm đôi mắt tôi rực sáng và giọng nói hào sảng. Một hôm ở bàn ăn tôi kể chuyện phiêu lưu của Scaevola, mọi người hoảng sợ khi thấy tôi tiến bước lên và đặt tay lên một cái bếp để miêu tả hành động của chàng. [Scaevola là chàng trai La Mã trẻ tuổi, tự trừng phạt mình bằng cách đặt bàn tay phải lên bếp lửa vì đã giết nhầm người khi định hành thích ông vua Porsenna của người Étrusque]”.

Để bắt đầu với một nhà văn lớn, có lẽ không sự dẫn nhập nào tốt hơn là những lời của một nhà văn lớn khác. Trên đây là vài đoạn trong quyển I tác phẩm Tự thú [1] của Jean-Jacques Rousseau, cuốn tiểu thuyết-tự thuật vào hàng đầu tiên trong lịch sử văn học. Plutarque để lại sau mình một danh sách dài những người ngưỡng mộ, nhưng hiếm khi nào các nhân vật của ông lại mang tính định hướng quyết định như vậy đối với một đứa trẻ, tương lai cũng sẽ trở thành một con người kiệt xuất ngang tầm nhà văn Hy Lạp.

Hãy chú ý câu văn khá kỳ lạ của “người công dân tự do thành Genève”: “Niềm thích thú khi đọc đi đọc lại ông dần chữa tôi một chút khỏi bệnh tiểu thuyết”. Sách của Plutarque rõ ràng đóng vai trò cân bằng những lệch lạc, ham mê quá đà do đọc tiểu thuyết gây ra, chính vì lẽ đó chúng ta sẽ có nhà văn Rousseau tác giả của Julie hay nàng Héloïse mới nhưng chúng ta cũng lại có nhà Khai sáng Rousseau tác giả của Khế ước xã hội [2] .

“Không ngừng bận tâm với Rome và Athènes”, đó không phải là lời của một đứa trẻ bình thường, mà là của một “công dân tự do” bẩm sinh, một con người trong tương lai sẽ dành cả cuộc đời chiến đấu vì lý tưởng cộng hòa. “Không ngừng bận tâm với Rome và Athènes”, đó cũng là tâm thế thường trực của những người tự cho mình là trí thức ở Tây phương; nguồn gốc và truyền thống vẫn luôn là những dòng chảy ngầm nâng đỡ tư tưởng của mọi thời đại. Nhất là vào cuối thế kỷ XIX, các nhà văn, trí thức Pháp luôn coi “hành hương” về Hy Lạp là chuyến đi bắt buộc của mỗi người có ý thức với lịch sử và văn hóa. Charles Maurras, Maurice Barrès… đều đã đi và để lại những tác phẩm đáng nhớ ghi lại cuộc hành trình; Rome cũng là địa chỉ không thể thiếu trên con đường xê dịch của các nhà văn: chúng ta nhớ Stendhal từng có những trang viết đầy thơ mộng về ngõ ngách thành Rome, đến cả nhà văn Mỹ Henry James vốn mê văn hóa châu Âu lục địa cũng lấy Rome, mà chính xác hơn là đấu trường Colisée, làm bối cảnh cho truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông, Daisy Miller.

*

Nhân vật của Plutarque

Nhìn vào phát triển của lịch sử (xem thêm “Niên biểu đối chiếu lịch sử Hy Lạp và La Mã” ở cuối sách), có thể thấy nhìn chung có sự sóng đôi giữa hai nền văn hóa, và cách chọn lựa nhân vật của Plutarque sẽ bám sát sự phát triển song hành này.

Trong khi các nhân vật Hy Lạp của Những cuộc đời song hành sống trải dài theo lịch sử, trong suốt nhiều thế kỷ, thì các nhân vật La Mã xuất hiện với độ đậm đặc rất cao ở hai thế kỷ ngay trước Công nguyên. Nếu không kể hai nhân vật đầu tiên mang tính huyền thoại (Romulus và Numa, hai vị vua đầu tiên của Rome), thì người đầu tiên xuất hiện trong danh sách nhân vật La Mã của Plutarque là Publicola, người đóng vai trò to lớn trong việc hình thành nền Cộng hòa ở Rome vào năm 509, sau khi vị vua cuối cùng người Étrusque sụp đổ. Năm 509 đó cũng được coi là cái mốc bắt đầu lịch sử khả tín của Rome. Ở hai cặp nhân vật đầu tiên (Thésée-Romulus và Lycurgue-Numa, bản dịch nằm ở tập 1), rất khó nói được niên đại chính xác: năm 776 kỳ Olympique đầu tiên được tổ chức ở Hy Lạp, và cũng tương đương khoảng thời gian đó, Rome được thành lập, theo truyền thuyết bởi hai anh em Romulus và Rémus.

Như vậy là hai bên có điểm xuất phát về mặt thời gian tương đối trùng hợp nhau, tuy dĩ nhiên Hy Lạp đã thực hiện quá trình thuộc địa hóa nhiều vùng đất trước đó – điều này sẽ được nói rõ hơn ở phần dưới; nhưng ta sẽ thấy đà tăng tốc lớn của Hy Lạp để lên tới đỉnh cao ngay ở TK V, trong khi La Mã phải chờ thêm nhiều năm nữa mới định hình được Đế chế: “Những viên đá đầu tiên của đế quốc được đặt khi các vị chỉ huy quân sự nhà nghề lớn của phương Tây bắt đầu phát hiện ở phương Đông loại hình thể chế và cách thức tư duy có khả năng biến những giấc mơ của họ thành hiện thực và cung cấp một mục tiêu chính xác cho các tham vọng của họ. Đã xảy ra một tiếp xúc giữa tiến trình phát triển của La Mã và một tư tưởng của Hy Lạp. Đó là quá trình hình thành khái niệm Đế chế La Mã [3] ”.

Ngoài hai nhân vật La Mã sống ở giai đoạn khá sớm là Camille người chiếm thành phố Véies ở xứ Étrurie (cuối TK IV) và trước đó, Coriolan tức Cnaeus Marcius (có danh hiệu Coriolan nhờ chiếm được thành phố Corioli vào năm 493), phải chờ đến tận TK III mới có thêm một nhân vật La Mã nữa được tuyển chọn vào tuyển tập khoảng 50 gương mặt kiệt xuất này: Fabius Maximus người có công lớn đánh Hannibal (năm 217 ông được phong làm tổng tài – dictateur, chức vụ đặc biệt ở La Mã, chỉ được trao cho các vị tướng tài khi thành phố gặp nguy hiểm đặc biệt; bình thường các vị chấp chính quan – consul – nắm quyền lực cao nhất).

Cho đến sau Fabius Maximus một quãng thời gian, lịch sử vẫn thực sự song hành, vì trong khi La Mã đã sản sinh được những vị anh hùng mới như Marcellus hay Paul-Émile, người Hy Lạp vẫn còn có thể tự hào với những Cléomène và Philopoemen (người sau được coi là “người Hy Lạp cuối cùng”, chết năm 182), nhưng rõ ràng là từ năm 196, khi Hy Lạp phải nhờ đến một danh tướng La Mã là Flamininus để bảo vệ mình thì rõ ràng sức mạnh Hy Lạp đã ở cuối của một con dốc dựng ngược; Flamininus cũng chính là người tuyên bố “Tự do cho người Hy Lạp” và sẽ được người Hy Lạp coi là một vị thần linh.

Trong thế giới Hy Lạp của mình, với lợi thế sở hữu độ lùi về thời gian, Plutarque có thể mặc sức định giá và chọn lựa những nhân vật nổi bật và quan trọng nhất. Sự lựa chọn của ông cho thấy tính hợp lý rất cao, phản chiếu tinh thần duy lý rất đặc trưng của Hy Lạp. Trong suốt hai thế kỷ Athènes thống trị thế giới quanh và trong biển Égée, cho đến các cuộc chiến Médique chống Ba Tư (490, 480-478), đỉnh cao không thể chối cãi của thế giới Hy Lạp cổ đại, nên không hề lạ khi thành phố có nhiều đại biểu nhất trong Những cuộc đời song hành. Trong số các nhân vật Hy Lạp của Plutarque, có đến 10 là người Athènes trên tổng số 21 người, nếu không kể những người không hoàn toàn Hy Lạp như Alexandre, Pyrrhos và Démétrios.

Trước TK V rực rỡ, Athènes có các đại diện Thésée, theo truyền thuyết là người thành lập thành phố bằng cách sáp nhập các tổng nhỏ ở vùng Attique, và Solon, người chấm dứt khủng hoảng xã hội nặng nề, cấm việc thu hồi nợ nần thông qua phục dịch và ra luật thành văn giống nhau cho mọi người. Tuy nhiên, có một điều hơi lạ là Plutarque bỏ qua không kể về người mà Aristote coi là cha đẻ thực sự của dân chủ, Alcméonide Clisthène, người vào năm 508, trước khi chế độ bạo chúa sụp đổ, đã dựa vào démos (quần chúng) để dựng ra nền móng xã hội mới, trong đó tất cả mọi người được công bằng trước và bởi luật lệ.

Thémistocle và Aristide là hai anh hùng bảo vệ Athènes trong các cuộc chiến chống người Ba Tư: người đầu tiên đánh Xerxès ở Salamine còn người thứ hai đoàn kết các thành phố và đảo Hy Lạp để chống quân Ba Tư. Chiến thắng Salamine năm 480 cũng là một cái mốc đặc biệt trong lịch sử kịch nghệ Athènes, bởi đó là năm hội tụ cả ba kịch tác gia vĩ đại: trong đội quân chiến thắng trở về có Eschyle, trong đội nhạc thiếu niên chào mừng có Sophocle khi đó chưa đầy hai mươi tuổi, và cũng chính năm đó Euripide sinh ra. Hai câu chuyện mà Plutarque kể về hai nhân vật Thémistocle và Aristide đặc biệt hấp dẫn khi nhà văn miêu tả những nét khác biệt, thậm chí đối nghịch giữa hai con người. Hai người nữa tiếp nối công trình đưa Athènes lên địa vị vĩ đại như vậy là Cimon (con trai Miltiade, người chiến thắng ở Marathon), và Périclès (người lưu đày Cimon vì tội quá ủng hộ Sparte, đồng minh sau chuyển thành kẻ thù). Thực ra không chỉ có Plutarque viết nhiều về giai đoạn này của Athènes, nhưng có vẻ như nhờ ngòi bút của Plutarque mà TK V mới được gọi là “thế kỷ Périclès”.

Sáu trong số 10 người này sống ở TK V, thế kỷ vĩ đại của Athènes, trong đó không thể không nhắc tới Périclès, người nắm quyền lực cao nhất ở thành phố, đóng vai trò chủ yếu trong việc đưa Athènes lên địa vị cao như vậy, nhưng ngược lại cũng là người đánh dấu sự đi xuống của Athènes, vì đã khơi mào cuộc chiến tranh dài dặc, hao người tốn của với thành phố Sparte thượng võ. Ông sai lầm vì tiến hành cuộc chiến tranh trong đó sẽ có hai người khác nổi lên, Nicias và Alcibiade. Người đầu tiên là chiến lược gia tài giỏi nhưng nhút nhát và mê tín, là người điều đình để chấm dứt 10 năm chiến tranh với Sparte vào năm 421, nhưng lại bị thua và bỏ mạng ở Sicile năm 413. Alcibiade chính là nguồn gốc khiến Nicias phải tiến hành cuộc chiến tranh và mất mạng tại đó. Hai người này báo hiệu thất bại của thủy quân Athènes vào năm 405, chấm dứt thời kỳ huy hoàng của thành phố.

Nhưng ngay từ những năm 378-377, Athènes đã gượng dậy và xây dựng được một đạo quân mạnh, tuy sẽ không bao giờ lấy lại được địa vị bá chủ Hy Lạp như xưa. Plutarque không chọn người Athènes nào sống ở TK IV để viết tiểu sử nữa, mà thay vào đó là hai người Sparte, Lysandre và Agésilas, cộng với một người Thèbes, Pélopidas (chắc chắn Plutarque có viết tiểu sử Épaminondas, người bạn và người đồng sự của Pélopidas, nhưng nay không còn). Người Athènes mãi sau mới xuất hiện trở lại với Démosthène và Phocion, cả hai đều sống ở thời Athènes phải chiến đấu chống vua Philippe xứ Macédoine (thất bại Chéronée năm 338). Sau này Athènes vinh quang nhờ trở thành đối trọng của Alexandrie với vai trò hai trung tâm văn hóa quan trọng nhất của thời cổ đại.

Như vậy, có thể thấy những biến chuyển về lịch sử Hy Lạp như vậy cũng đã quyết định sự thay đổi về tính chất và tính cách của các nhân vật trong Những cuộc đời song hành.

Vì vấn đề văn bản, rất khó biết được chính xác quá trình sáng tác (genèse) Những cuộc đời song hành của Plutarque. Chỉ có thể biết được rằng ý tưởng về cuốn sách đã được ông thai nghén khi sống ở Rome lần thứ hai, dưới thời hoàng đế Domitien (81-96 s. TC). Nhưng phải chờ đến lúc lui về thành phố quê hương Chéronée, bớt đi những công việc hành chính và chú tâm vào công việc cúng tế ở đền Delphes, nghĩa là vào những năm cuối TK I và những năm đầu TK II, Plutarque mới thực sự bắt tay vào viết bộ sách của đời mình.

Theo nhiều nguồn tài liệu còn lại, có vẻ như Plutarque có viết một bộ Đời các César [4] nhưng chỉ còn lại phần viết về hai nhân vật Galba và Othon (được đưa vào bộ Những cuộc đời song hành này; cả hai nhân vật đó cũng có mặt trong số các nhân vật làm nên bộ Mười hai César của Suétone); văn bản ban đầu dường như chép từ Auguste (hoàng đế La Mã đầu tiên) cho đến Vitellius (người chiến thắng Othon ở trận Bédriac năm 69).

Cách trình bày Những cuộc đời song hành khiến người ta nghĩ Plutarque khi khởi đầu không định trước thứ tự sáng tác cũng như sắp xếp các nhân vật ở tác phẩm cuối cùng. Ông chỉ có ý tưởng là viết về các nhân vật Hy Lạp và La Mã và so sánh họ với nhau, nhưng hẳn là không quyết định một cách tiên thiên là sẽ khởi đầu công việc từ các nhân vật nào. Thứ tự sắp xếp các nhân vật, như chúng ta biết, gần như chắc chắn là một quyết định mang tính hậu nghiệm. Giống như trường hợp Balzac khi viết bộ Tấn trò đời, kết cấu của tác phẩm sẽ dần được hình thành trong quá trình sáng tác. Do không có tài liệu nào xác thực để lại, trình tự viết các nhân vật cần phải được rút ra từ những thông tin tản mát có ngay trong bộ Những cuộc đời song hành này, bởi giữa các bộ đôi nhân vật đôi khi có những dẫn chiếu, có những dấu hiệu của quan hệ liên văn bản. Các chuyên gia về Plutarque đều nhất trí cặp nhân vật đầu tiên mà Plutarque viết là cặp Épaminondas – Scipion, không còn lại cho đến ngày nay. Thật đáng tiếc vì chúng ta không được biết cách nhìn của Plutarque về người đồng hương Épaminondas (rất may là phần viết về Pélopidas, người bạn thân thiết của Épaminondas, vẫn còn, nên chúng ta vẫn còn biết được một số chi tiết về người anh hùng thành Thèbes) và nhất là người anh hùng đánh Carthage, Scipion, con người rất gần gũi với văn hóa Hy Lạp.

Có thể lần theo những dấu vết trong tác phẩm để đặt giả thuyết mà không sợ quá sai so với sự thật: cặp Démosthène – Cicéron là cặp thứ năm, Périclès – Fabius, thứ 10 và Dion – Brutus, thứ 12. Sau khi bắt đầu với hai người đồng hương xứ Béotie, Épaminondas và Pélopidas, nhiều khả năng Plutarque viết ngay về các nhân vật La Mã có liên quan theo cách này hay cách khác với thành phố quê hương Chéronée của ông: Lucullus và Sylla. Có thể nói rằng ông đã xuất phát từ những gì gần gũi với mình nhất, với quê hương của mình, sau đó mới vươn xa hơn, cả về không gian lẫn thời gian, để cuối cùng xây dựng nên tác phẩm gồm 23 cặp nhân vật như ngày nay chúng ta có.

Như trên đã nói, các nhân vật Hy Lạp của Plutarque sống ở nhiều giai đoạn lịch sử, trong vòng trên dưới 500 năm, còn các nhân vật La Mã thì khá gần gũi với ông, chủ yếu sống trong hai thế kỷ ngay trước Công nguyên. Ngoài Galba và Othon, hai nhân vật cuối cùng, người sống gần thời Plutarque hơn cả là Antoine, mà liên quân với Cléopâtre bị thua Octave, tương lai là hoàng đế đầu tiên của La Mã, tại trận Actium năm 31 tr. CN. Chỉ xung quanh cuộc nội chiến và xung quanh nhân vật chính César, Plutarque đã dụng tới hàng loạt nhân vật: bên cạnh César là hai người ở trong chế độ Tam đầu chế đầu tiên: Pompée và Crassus, rồi Brutus và Antoine, những người tin cẩn nhưng sau đó đều phản lại ông, theo cách này hay cách khác. Ngoài ra còn có các đối thủ chính trị của César: Cicéron nhà hùng biện đại tài, con người ngưỡng mộ Cộng hòa nên hiển nhiên là chống toan tính thâu tóm quyền lực của César, và Caton Trẻ, người tự tử khi nghe tin César chiến thắng ở châu Phi vào năm 46 tr. CN.

Các nhân vật La Mã khác hầu hết là các danh tướng. Thành Rome trở thành đế chế nhờ ngọn thương, trong thế giới đầy tính quân sự đó những gương mặt nổi bật nhất dĩ nhiên là các vị tướng. Điểm này khác với Hy Lạp, nơi các nhà lập pháp và các nhà chính trị nhiều khi được đặt cao hơn các ông tướng võ biền. Các vị tướng quan trọng trong lịch sử La Mã trở thành nhân vật của Plutarque là Fabius Maximus, được bầu vào chức tổng tài để toàn quyền đánh quân của Hannibal; Marcellus chiếm được thành phố Syracuse ở đảo Sicile dù đối phương sở hữu trong tay thứ vũ khí lợi hại vào bậc nhất của thế giới cổ đại: nhà toán học Archimède (chính quân lính của Marcellus đã giết chết nhà toán học thiên tài và lập dị); năm 167, ở Pydna, danh tướng Paul-Émile chiến thắng Persée, vua cuối cùng của Macédoine, chính thức xóa sổ sự tồn tại của cõi Hy Lạp với tư cách đất nước độc lập. Sau đó một thời gian Hy Lạp sẽ trở thành một tỉnh của La Mã.

Có thể nói, là một môn đệ của Platon, Plutarque đặc biệt quan tâm đến hai hình thức tổ chức nhà nước: dân chủ ở Hy Lạp và cộng hòa ở Rome. Những nhân vật của ông hầu hết đều tham gia vào việc xây dựng, củng cố, hay góp tay đẩy cho suy tàn hai hình thức này, hai hình thức mà Plutarque tự thấy có nghĩa vụ phải nói đến nhiều nhất, đặc biệt là với trường hợp La Mã, khi mà đại đa số các nhân vật La Mã của ông đều sống ở cuối thời cộng hòa, chuẩn bị thành lập đế chế. Rất có thể Plutarque sống ở thời các hoàng đế đã nuối tiếc nền dân chủ Athènes và nền cộng hòa La Mã thành lập năm 509 với công lao của Publicola, nên nhân vật của ông cũng sẽ quay quanh những lý tưởng đó.

Vấn đề lý thú nhất và cũng khó giải thích nhất là tại sao Plutarque có ý tưởng ghép đôi các nhân vật để so sánh, và ghép đôi dựa theo tiêu chí nào. Thật đáng tiếc là nhà văn không hề có ý định giải thích lý do, cho nên tất cả những gì chúng ta có thể làm là suy luận. Sự phát triển rồi suy tàn của Hy Lạp khiến người ta dễ dàng nghĩ đến một kịch bản tương tự ở lịch sử La Mã. Rome ở thời Plutarque đang lên tới đỉnh cao của quyền lực, nhưng ngay vinh quang như thế kỷ của Périclès (TK V) cũng không giúp được Athènes, rồi cả Hy Lạp, thoát khỏi con đường sụp đổ. Ở trong hoàn cảnh đó, nhất là với một người ưa luân lý như Plutarque, việc so sánh ngụ ý răn đe, cảnh báo là một việc làm khá tự nhiên, không hề trái lôgic. Nhưng khi thực sự bắt tay vào công trình của mình, có lẽ Plutarque đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn nhân vật nào đi với nhân vật nào, bởi sống ở các thời kỳ khác nhau, chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa khác nhau, các nhân vật ấy nói khác nhau, nghĩ khác nhau, làm lại càng khác nhau. Thế nhưng Plutarque đã tìm ra được những cách ghép đôi hết sức hợp lý: Thésée tập hợp các tổng nhỏ vùng Attique lập nên Athènes vĩ đại xếp với Romulus cha đẻ thành phố Rome vinh quang; Lycurgue lập ra hiến pháp duy trì sức mạnh cho Sparte trong vòng 500 năm được ghép với Numa, vị vua theo lối thánh nhân, lấy hòa bình làm nền tảng của chính trị, củng cố thêm sức kết dính của các tộc người khác nhau sống ở Rome; những cặp như Alexandre – César hay Démosthène – Cicéron thì quá nhiều tương đồng hiển nhiên (hai vị tướng tài chiếm được nhiều đất trong lịch sử và hai nhà hùng biện lừng danh nhất của thế giới cổ đại); hay khi ông ghép Aristide với Caton Già [5] , Dion với Brutus, người ta vẫn có thể tìm được hạt nhân duy lý trong lựa chọn và cảm thấy bị thuyết phục.

Quả là Plutarque không đưa ra một tiêu chí nào đó ngay từ đầu và cứ thế đi theo, mà ông dựa vào những nét tương đồng nào đó, nhiều khi ngầm ẩn, và mỗi nét đó lại khác nhau giữa các cặp nhân vật: Aristide công minh khó có “truyền nhân” nào trong thế giới La Mã giống ông hơn về độ chính trực, nhiều khi đến cứng nhắc, như Caton Già, người lúc nào cũng sẵn sàng kêu gọi người La Mã chống lại những yếu tố ngoại lai gây hại đến độ thuần khiết của dòng giống; Dion và Brutus không mấy giống nhau về tầm vóc lẫn tính tình, nhưng không thể phủ nhận hai người có một đặc điểm chung là ghét bạo chúa, và sẵn sàng ra tay để diệt bạo chúa: Dion ở xứ Syracuse, còn Brutus tổ chức giết bố nuôi César khi ông bố đó có nhiều nguy cơ trở thành một bạo chúa mới.

Không có một người kiệt xuất nào giống một người kiệt xuất khác, nhưng không thể không có tương đồng nào đó giữa họ, và Plutarque chính là người tìm ra được những tương đồng nhiều khi rất khó nhìn ra đó, và kết quả là giờ đây, khi tác phẩm của nhà thông thái xứ Chéronée đã được lưu truyền suốt hàng nghìn năm, được không biết bao nhiêu con người vĩ đại hậu thế lấy làm sách gối đầu giường, người ta khó có thể nghĩ đến Alcibiade mà không nghĩ đến Coriolan, đến Philopoemen mà cái tên Flamininus không hiện ra trong đầu, không thể để cho tính cách bạo tàn và hiếu chiến của Lysandre đi một mình mà không có Sylla bên cạnh… Còn lại một điểm rất khó minh định: Plutarque chọn nhân vật La Mã theo nhân vật Hy Lạp hay ngược lại? Rất có khả năng cách làm của Plutarque biến thiên ở mỗi trường hợp cụ thể.

Có lẽ cần mở một ngoặc đơn về các tác phẩm liên quan đến tiểu sử của thời cổ Hy Lạp: trên thực tế Plutarque và Suétone, tác giả cuốn Mười hai César, đã trở thành hình mẫu cho thể loại tiểu sử này, thể loại sẽ còn sống mãi đến thời Trung Cổ, dù các thể loại và chủ đề khác thuộc Thiên chúa giáo đã xuất hiện và phát triển. Nhất là ngày nay khi chứng kiến ưu thế lớn của dòng văn tiểu sử, tự thuật, chúng ta càng thấy rõ sức sống lâu dài của một “cách làm” sử xen lẫn với văn chương, mà Plutarque và Suétone là những người đặt những dấu mốc quan trọng từ cách đây hàng nghìn năm. Tuy nhiên giữa hai người có khá nhiều điểm khác biệt. Ở Plutarque cái chiếm ưu thế là mối quan hệ được tổ chức theo tuyến tính thời gian của một cuộc đời, còn nổi bật ở phương pháp của Suétone là sự miêu tả có hệ thống từng cá nhân. Cùng dòng tiểu sử này còn có Diogène xứ Laërce (có lẽ sống ở TK III, chuyên viết về đời các triết gia) [6] .

Thật may mắn vì Plutarque đã trình bày rất rõ ràng quan điểm cá nhân của ông về công việc viết tiểu sử, đặt ở đoạn đầu Alexandre: “Giờ đây khi viết quyển sách về đời vua Alexandre và đời César, người đánh bại Pompée, do ở chỗ số lượng chi tiết quá khổng lồ, chúng tôi xin được mượn lời mào đầu để mong độc giả sẽ không tìm đến chúng tôi mà tranh cãi nếu chúng tôi không truyền đạt lại được toàn bộ và chi tiết những hành động nổi tiếng của hai người anh hùng, và nếu chúng tôi thường chỉ tóm tắt những hành động ấy mà thôi.

Quả thật, chúng tôi không viết Lịch sử mà viết những Cuộc đời, và không phải lúc nào người ta cũng có thể qua những hành động kiệt xuất nhất mà đưa được ra ánh sáng một đức hạnh hoặc một tật xấu; thường thì một chi tiết nhỏ, một từ, một sự việc tầm phào lại có thể gợi lên rõ ràng hơn một tính cách, hơn nhiều so với những trận đánh đẫm máu, những cuộc đụng độ long trời lở đất và những cuộc hãm thành. Người họa sĩ, để nắm bắt được những nét giống nhau, thường chú tâm dựa vào khuôn mặt, những đường nét cơ thể chứ không mấy khi để ý đến các bộ phận khác; cho nên xin bạn đọc cũng cho phép chúng tôi làm theo cách đó, cho phép chúng tôi theo sát những dấu hiệu có khả năng phát lộ tâm hồn, cho phép chúng tôi chỉ dựa vào những dấu hiệu đó mà thôi để dựng lại cuộc đời của hai nhân vật này, mà bỏ lại cho những người khác phần những sự kiện lớn lao và những trận đánh.” (Alexandre, I).

Nhờ vào nguyên tắc này mà chúng ta sẽ biết được những chi tiết nhỏ nhặt của cuộc đời, những thay đổi tinh tế trong tính cách của rất nhiều nhân vật: César, Alexandre, Cicéron…, chứ không chỉ những chiến tích huy hoàng, những công trình khổng lồ của họ.

Hai lịch sử, hai văn hóa

Ta càng hiểu công việc lựa chọn nhân vật của Plutarque khó khăn thế nào khi biết, dù chỉ một chút ít ỏi, về hai nền văn hóa độ sộ kia. Bài giới thiệu lần này không có tham vọng bao trùm toàn bộ lịch sử Hy Lạp và La Mã mà chỉ muốn đặt trọng tâm vào khu vực tiếp xúc giữa chúng, điều kiện để nảy sinh một con người như Plutarque, và tiếp đó, nảy sinh ý tưởng về sự so sánh giữa hai bên, mà Những cuộc đời song hành là công việc thực tế hóa. Vả lại, nhìn nhận và đánh giá Hy Lạp và La Mã là một công việc khổng lồ, đã thu hút sự quan tâm cao độ của giới học giả phương Tây suốt trong hơn một nghìn năm nay [7] .

Nhưng trước hết, cần nói rằng để hiểu cặn kẽ phương Tây, có hai truyền thống không thể bỏ qua: truyền thống Do Thái–Thiên chúa giáo và truyền thống Hy Lạp–La Mã, một bên nặng về giáo lý, một bên chủ về văn minh, khoa học và nghệ thuật. Mối quan hệ giữa đạo Thiên chúa và La Mã đã quá rõ ràng: một nhóm nhỏ tín đồ tôn thờ Jésus Christ, mới đầu bị các hoàng đế La Mã vùi dập, đàn áp, về sau lại trở thành chính giáo của toàn Đế chế (bắt đầu từ hoàng đế Constantin, vào TK IV) và Rome sau khi là thủ đô của Đế chế lại là nơi đặt Tòa thánh (Vatican). Mối quan hệ giữa người Do Thái và Hy Lạp cổ xưa hơn, ít được nghiên cứu hơn.

Trước khi chịu ảnh hưởng của Hy Lạp, người Do Thái ở xứ Judée nằm dưới sự cai quản của các vua Ba Tư (mà người Hy Lạp thường gọi là các “quân vương vĩ đại”, có lẽ vì đặc điểm mang tính “thiên tử”, “con trời” của các vị vua phương Đông này: vua là hiện thân của thần thánh). Khi đó Judée là một tỉnh bán tự trị, tỉnh “bên kia sông”, nghĩa là bên kia sông Euphrate, tính từ Ba Tư. Người Do Thái về cơ bản rất tuân thủ luật lệ Ba Tư, trừ vài vụ xung đột, chẳng hạn những vụ nổi loạn Jérusalem và Jéricho, bị người Ba Tư trừng phạt vào năm 350. Sau khi Alexandre chiếm vùng châu Á, và nhất là ở thời cai trị của các Ptolémée ở Ai Cập (Ptolémée đệ nhất là một trong các vị tướng của Alexandre, cùng vài vị tướng khác phân chia lãnh thổ mà Alexandre để lại), người Do Thái tỏ ra thích ứng rất tốt với tình hình mới, dù các vị vua của Ai Cập hà khắc hơn nhiều so với vua Ba Tư.

Đặt sang một bên truyền thống Do Thái – Thiên chúa giáo đó, còn lại mảng Hy Lạp – La Mã với tư cách nguồn gốc văn minh và lịch sử phương Tây, mà chúng tôi sẽ cố gắng trình bày theo hướng tổng hợp và xác nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa hai bên để tạo thành một khối vững chắc, hữu cơ.

Quá trình Hy Lạp hóa thoạt tiên chỉ giới hạn ở vùng Đại Hy Lạp phía Nam và đảo Sicile, hai vùng được đồng hóa mạnh mẽ từ khoảng năm 775. Lãnh thổ quá lớn, lại tập hợp quá nhiều nền văn hóa, văn minh cận kề nhau, nên tìm hiểu “đặc tính Hy Lạp” là một công việc đặc biệt phức tạp. Ngay từ xưa, sử gia Hérodote khi viết bộ Lịch sử của mình đã có lúc tìm cách tổng quát hóa; ông để một nhân vật người Athènes phát biểu như sau: “Đây chính là Hy Lạp tính (hellénisme) của chúng ta: chúng ta cùng thuộc về một dòng giống, chúng ta cùng nói một ngôn ngữ, chúng ta cùng thờ những vị thần, trên cùng bàn thờ và với cùng các nghi lễ, và phong tục của chúng ta cũng giống nhau [8] ”. Rõ ràng phải cần rất nhiều suy luận và diễn giải mới có thể tìm ra được Hy Lạp tính đó, trong khi La Mã luôn là một khối thống nhất. Ở đây có vai trò to lớn của chính trị và tổ chức Nhà nước: Hy Lạp không có một chính phủ trung ương, không có thủ đô, không có những con người có ảnh hưởng tuyệt đối đến toàn bộ lãnh thổ. La Mã thì tập trung, mà Hy Lạp thì phân tán. Cuốn Di sản Hy Lạp và La Mã ở trang 614 cũng khẳng định một trong những khác biệt giữa Hy Lạp và La Mã nằm ở chỗ những đóng góp mang tính quyết định của Hy Lạp cho lịch sử nhân loại tập trung ở những công trình “dành cho muôn đời”, nhờ vào các nhà thơ, sử gia, triết gia và nghệ sĩ, những con người vĩ đại với số lượng tương đối khiêm tốn, đại diện cho những gì tinh túy nhất của cả dòng giống Hy Lạp.

Nhưng Rome thì khác: những người như Lucrèce, Virgile, César hay Auguste hoàn toàn thống trị người đương thời của mình, nhưng họ không đại diện được cho toàn bộ tính cách của dân tộc. Muốn hiểu Rome trước hết cần biết về cuộc sống của những con người bình thường trong xã hội.

Yếu tố “phân tán” của Hy Lạp mà chúng tôi nói đến còn bắt nguồn từ đặc điểm địa lý: về đại thể, Hy Lạp được cấu thành từ ba thành tố: Hy Lạp lục địa (Attique, Péloponnèse, Trung Hy Lạp và Bắc Hy Lạp, quê hương của Alexandre Đại đế), Hy Lạp đảo và Hy Lạp châu Á. Chính các hòn đảo mới là nơi phát tích của dòng giống Hy Lạp (hellénique), vì ngay từ trước khi có dân cư ở lục địa, đảo Crète ở biển Égée đã phát triển một nền văn minh độc đáo, nhiều thành tựu. Ngoài đảo Crète, trong biển Égée còn có đảo lớn Eubée ngay sát vùng Attique và chùm đảo Cyclade, ngoài ra sát bờ biển với châu Á, quãng Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, là dãy đảo Dodécanèse (trong đó hòn đảo nổi tiếng hơn cả là đảo Rhodes). Không chỉ cung cấp đồng để sản xuất, đá để xây dựng, các hòn đảo còn là những trung tâm văn hóa không thể bỏ qua, đặc biệt chúng giữ vai trò sản sinh những bậc trí giả lỗi lạc: người sáng lập chủ nghĩa Khoái lạc Épicure (341-271) xuất thân từ đảo Samos, cùng quê với Pythagore; nhà y học đại tài Hippocrate (khoảng 460-380): đảo Cos; Posidonios (khoảng 135-50), triết gia và sử gia, thầy dạy của Cicéron, lập trường ở đảo Rhodes, v.v…

Người Hy Lạp bắt đầu sống ở hai bên bờ biển Égée từ TNK II tr. CN, nhưng chỉ có các “thuộc địa” (colonie) Hy Lạp thực thụ khi quá trình hình thành các thành phố hoàn thành. Rất có khả năng những thành phố đầu tiên được xây ở các đảo thuộc chùm đảo Cyclade và ở bên mạn châu Á, chứ không phải Hy Lạp lục địa. Không nên quá tin vào những ý kiến mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa cho rằng Athènes và Sparte dựng nên Milet, Théra hay Rhodes [9] . Thuộc địa đầu tiên là Cymé, do người Chalcis lập ra vào khoảng năm 750, tại vùng Campanie màu mỡ của Tây Ý. Những người này sau đó sẽ chỉ sở hữu eo biển Messine và một số địa điểm ở bờ Đông Sicile (Naxos, Catane), trong khi người Corinthe lập ra Syracuse năm 733. Người Dorien ở Péloponnèse, vùng vịnh Tarente, định cư ở Métaponte, Sybaris, Crotone, Tarente. Vào giữa TK VII, những thuộc địa này bắt đầu được mở rộng theo lối dầu loang. Khoảng năm 600 những người đến từ Ionie đã lập ra thành phố Marseille. Sau đó một chút là quá trình thực dân hóa ở phía Bắc biển Égée. Nguyên nhân của quá trình thực dân hóa đó có lẽ không phải vì dân số quá đông, mà vì chính sách và luật chia đất cho người dân khiến đất bị thiếu (có thể xem thêm Lycurgue, người theo huyền thoại từng chia đất cho công dân theo nguyên tắc bình đẳng).

“Như thế, trong vòng chưa đầy ba trăm năm, Địa Trung Hải đã trở thành cái hồ một nửa thuộc về người Hy Lạp [10] .” Cùng vào thời điểm đó, người Phénicie, đã định cư vững chắc ở bờ biển Syrie, nơi người Hy Lạp không thể nghĩ đến chuyện thành lập các thành phố mới cho mình, phát triển rực rỡ về thương mại, nhất là ở đảo Chypre, Tây Sicile, Sardaigne, trên bờ biển Bắc Phi và Tây Ban Nha; về phần mình, người Étrusque mở rộng lãnh thổ ở biển Tyrrhénienne (vùng biển Địa Trung Hải phía Tây, giữa Corse, Sardaigne và Sicile).

Cuối TK VI, phần lớn các địa điểm thuận lợi vùng Địa Trung Hải đều đã có người ở, và người Hy Lạp không dễ gì phát triển tiếp, chính vì thế từ năm 500 đến các cuộc chinh phục của Alexandre (nửa sau TK IV), quá trình thực dân hóa gần như dừng hẳn lại, nhưng quá trình đó cũng có những hiệu quả lớn, trong đó phải kể đến thứ tình cảm đoàn kết giữa các tộc người thuộc Hy Lạp, thứ tình cảm càng chặt chẽ hơn rất nhiều khi người Hy Lạp ở nước ngoài.

Quá trình lớn mạnh của Rome không thật sự nhanh như Hy Lạp. Mãi đến những năm 200-133, Rome mới tiến hành chinh phục phương Đông; trong quãng thời gian đó Rome chỉ có thể tập trung cho quân sự và chính trị, nên những thành tựu văn hóa của Hy Lạp lại càng thêm phần nổi bật. Người có ý thức nhất trong việc xây dựng văn minh La Mã để đối trọng với văn minh Hy Lạp là Auguste, hoàng đế đầu tiên của Đế chế La Mã; tuy nhiên ngay cả sau thời Auguste, giữa hai văn hóa vẫn có những tiếp xúc, nhiều khi hết sức sâu đậm. Về thực chất, La Mã học được hầu hết tất cả các môn khoa học và nghệ thuật từ Hy Lạp, họ chỉ vượt trội ở mảng luật pháp.

Hai lịch sử phát triển song song đó ngày càng có thêm những điểm giao nhau, kể cả có khi bùng phát thành xung đột. Những điểm giao nhau quan trọng nhất diễn ra vào TK II tr. CN. Khi đã lớn mạnh hơn trước, Viện nguyên lão La Mã bắt đầu thấy cần phải có các vị quan đại diện cho Rome trực tiếp cai trị các tỉnh ở xa. Chế độ này đã được áp dụng vào năm 206 ở Tây Ban Nha; Carthage sau khi thua Rome lần thứ ba cũng phải chịu chung số phận; Macédoine phải chấp nhận chế độ này vào năm 146 (nó trở thành một tỉnh La Mã dưới sự cai quản của một pháp quan) và phải cống nạp. Thực tế Macédoine đã bị Paul-Émile đánh bại vào năm 167 và không còn giữ được quyền lực ngày xưa nữa. Ở xứ này khá thuận lợi: các quan La Mã được thừa hưởng quyền lực từ các vị vua cũ; nhưng tình hình không dễ dàng như thế ở các nơi khác trên đất Hy Lạp.

Đương trong lúc hai bên Hy Lạp và La Mã chưa thật sự biết về nhau như vậy, xảy ra một câu chuyện hi hữu trong lịch sử, gây ảnh hưởng rất mạnh đến chính sách phương Đông của La Mã và xoay chiều mối quan hệ giữa hai bên. Năm 160 vua Eumène II của Pergame thuộc Hy Lạp chết. Trong suốt cuộc đời mình ông đã liên tục đánh nhau chống lại Philippe xứ Macédoine, Antiochos III, các vị vua xứ Arménie, xứ Pont, xứ Bithynie: lãnh thổ mà ông được thừa hưởng từ người cha mới đầu rất nhỏ sau trở thành cả một đế chế ở châu Á. Ông để lại ngai vàng và vương quốc đó cho người em trai Attale II, người tiếp tục các cuộc chinh phạt của Eumène, từ năm 160 đến năm 139. Năm 133 Attale III, con của Eumène và là người nối ngôi Attale II, di tặng lại Pergame cho người La Mã. Rome rơi vào cảnh bối rối, không biết phải xử trí ra sao. Trong thời gian đó thì con hoang của Eumène, Aristonicos, tập hợp ở châu Á một đội quân nhỏ và dần dà thâu tóm đất nước. Vị quan chấp chính La Mã đầu tiên được gửi đến để giải quyết tình hình bị đánh bại. Phải đến hai năm sau Rome mới chinh phục được Pergame, và khi đó thành phố không còn được coi là món quà tặng mà đã thành một đất nước bị thu phục, và phải trở thành một tỉnh thuộc La Mã. Các thành phố Hy Lạp khác, chí ít là những thành phố không theo Aristonicos, về lý thuyết được hưởng quyền tự do như đã được hưởng dưới các triều vua Pergame.

Những cuộc nổi loạn ở Macédoine chưa kết thúc ngay cả sau khi vua Persée của họ thua trận. Năm 146, khi nhà Antigonide đã sụp đổ, xuất hiện ở Macédoine nhân vật Andricos dẫn đầu người Macédoine đánh Rome và nhanh chóng chịu thua do gặp phải hai binh đoàn (légion) La Mã dưới sự chỉ huy của tướng tài Q. Metellus và thủy quân Pergame. Cùng năm đó cũng có một phong trào phản Rome khác ở Hy Lạp, lần này nguồn gốc là Sparte. Khi đó Rome đang bận đánh châu Phi và Tây Ban Nha. Diaios, người đứng đầu liên minh Hy Lạp, tìm cách lập một đội quân gồm đủ cả đồng minh Béotie, Eubée và Phocide. Năm 146, người thay thế Diaios là Critolaos đánh nhau với quân đội La Mã dưới sự chỉ huy của Metellus khi đó đang đi qua xứ Thessalie. Critolaos bị đánh thua ở Scarpheia, vùng Locride; Diaios cũng bị thua ở Isthme, dưới tay Mummius, người thay thế Metellus. Cùng năm đó, thành phố Corinthe bị tàn phá thành hoang địa.

Sau năm 146 đó một số thành phố Hy Lạp phải cống nạp, trong khi một số không. Không có biện pháp chung nào được áp dụng, nhưng trên thực tế toàn cõi Hy Lạp đã nằm dưới sự kiểm soát của vị thống đốc Macédoine người La Mã. Dù những người đưa ra chế độ này có thể coi nó là tạm thời, nó vẫn sẽ tiếp tục kéo dài trong vòng một thế kỷ, nhưng ngày nay chúng ta ít được biết các chi tiết về giai đoạn đầu tiên của quá trình thuộc địa hóa Hy Lạp của người La Mã này.

Plutarque có quan điểm riêng về tiến trình phát triển của lịch sử Hy Lạp và La Mã. Theo ông lịch sử đó nên chia làm nhiều giai đoạn: thăng và trầm, suy tàn và hồi sinh. Giai đoạn đầu tiên kéo dài từ Homère đến Alexandre, giai đoạn thể hiện sự vĩ đại của Hy Lạp và của thành phố Athènes. Các nhân vật nổi bật của quãng thời gian đó là Thésée cha đẻ thành Athènes, Thémistocle, người chiến thắng Ba Tư ở Salamine, rồi Solon và Périclès. Giai đoạn hai nằm ở hai thế kỷ III và II, đặc trưng là sự suy tàn của Hy Lạp. Các nhà cải cách của Sparte, Agis và Cléomène, là những con người đặc biệt ở thời của mình. Nhưng đó cũng là thời chế độ dân chủ thành công lớn. Cũng ở giai đoạn này, Rome xuất hiện với tư cách kẻ mạnh và phát triển vượt bậc. Giai đoạn thứ ba có đặc trưng là sự suy đồi về đạo đức của Rome trong những cuộc nội chiến ở TK I tr. CN; Hy Lạp cũng bị lôi kéo vào sự sụp đổ này thông qua những vụ phá hủy các công trình mà nó phải gánh chịu. Sylla cướp đi những gì người Hy Lạp coi là quý giá nhất: các kho báu của những ngôi đền xứ Épidaure, Olympie và Delphes, mà trước đó Flamininus và Paul-Émile không những không dám động tới mà còn bổ sung và thờ kính [11] .

Các nhân vật La Mã trong Những cuộc đời song hành đều được miêu tả như là những người “yêu tri thức Hy Lạp”. Lucullus tiếp đón các trí thức Hy Lạp trong thư viện phong phú của mình, nói chuyện với họ theo lối các triết gia Académie mà ông là một môn đệ, và còn biết viết bằng tiếng Hy Lạp, cả văn xuôi và thơ. Paul-Émile mang về cho Rome thư viện của vua Persée sau cuộc chiến Macédoine lần ba và dạy dỗ các con mình theo lối Hy Lạp. Cornélia, con gái Scipion người châu Phi và mẹ của các Gracchus, là người “luôn có những người Hy Lạp và các nhà văn vây quanh” (Caius Gracchus, XL). Những lời cuối cùng mà Pompée trăng trối là hai câu thơ của Sophocle. Theo quan điểm dân tộc – địa lý của Plutarque, Rome là một thành phố Hy Lạp; cũng theo mạch suy nghĩ đó, Denys xứ Halicarnasse (TK I tr. CN) đã cố công chứng minh những người thành lập Rome là người Hy Lạp chứ không phải những kẻ Ngoại di (Cổ đại La Mã, I).

Quintilien, nhà tu từ học, nhà ngữ pháp nổi tiếng nhất của La Mã (khoảng 30-95) cho là “trẻ con phải học bắt đầu từ tiếng Hy Lạp”. Mặc dù là những người song ngữ hoàn hảo, Sénèque và Pline Trẻ bao giờ cũng mặc cảm vì sự yếu kém của tiếng Latin, không so được với “các sắc thái của Platon” (Sénèque, Thư gửi Lucilius, 58) trong khi những người Hy Lạp như Polybe, Posidonios hay Strabon không buồn để ý đến sự hình thành của một nền văn học và khoa học mới bằng tiếng Latin. Trong số các nhân vật của Những cuộc đời song hành, một số người giỏi cả tiếng Hy Lạp và tiếng Latin, như César, Lucullus, Sylla, Crassus…

Ở Rome từ TK II tr. CN đã có rất nhiều những người cực kỳ hiểu biết về những điều cổ xưa, trong đó nổi bật nhất là Varron (116-27) mà Plutarque gọi là “người thông thái nhất trong số các sử gia La Mã” (Romulus, XII), người từ năm 56 đến năm 46 đã xuất bản 43 quyển Cổ vật của thần linh và của con người. Ngoài Varron còn có Caton Già, Valérius Messala, Verrius Flaccus, những người được coi là những “người chơi đồ cổ” vào thời của Plutarque và Tacite; họ say mê tập hợp tất cả những gì thuộc về thế giới cổ đại mà không mảy may quan tâm đến viết sử, vì việc đó đã có Tite-Live, Tacite hay Suétone lo. Nhà thơ Horace của La Mã tổng kết ngắn gọn nhưng hết sức chính xác mối quan hệ giữa Hy Lạp và La Mã bằng câu văn nổi tiếng: “Hy Lạp bị thu phục đã thu phục lại người chiến thắng mình và đưa nghệ thuật vào cho vùng Latium thô lậu” (Thư từ, II).

Sự tiếp nối của hai nền văn hóa được thể hiện rất rõ ở sự trân trọng của người La Mã đối với văn hóa Hy Lạp. Sở dĩ ngày nay chúng ta còn được biết nhiều về nền văn học nghệ thuật cổ xưa phần lớn là nhờ công truyền đạt lại, và các công trình dịch thuật thời La Mã. Trước thời Phục Hưng của châu Âu, đã có một Phục Hưng nho nhỏ khác ở ngay thời La Mã. Tuy phát triển theo nhiều đường hướng khác, nhưng các học giả La Mã đã dụng công truyền đạt lại tư tưởng chủ đạo của nghệ thuật Hy Lạp, nhờ đó mà chúng ta có thể biết được hạt nhân của văn học Hy Lạp là tính đơn giản (simplicité) và tính duy lý; thơ ca Hy Lạp chủ yếu tập trung vào những điều phổ quát, nền tảng về con người, không mấy quan tâm đến những gì kỳ dị và ngoại lai. Nghệ thuật La Mã sẽ đi sâu hơn vào chi tiết, vào bản chất con người [12] .

La Mã cũng áp dụng gần như nguyên xi hệ thống giáo dục của Hy Lạp. Hệ thống này cũng sẽ tiếp tục được sao chép ở Byzance và cả ở châu Âu. Đặc biệt lối giáo dục quân sự của Sparte được coi như là khuôn mẫu cho đời sau (xem thêm Lycurgue). Đặc điểm của giáo dục Hy Lạp là hết sức quan tâm đến giáo dục thể chất (dù có thể không hoàn toàn thiên về quân sự), hơn là giáo dục trí tuệ, nhưng không lơi là các môn nghệ thuật, đầu tiên là âm nhạc, sau đến văn chương. Chỉ có điều, cũng giống như các dân tộc cổ đại khác, người Hy Lạp hoàn toàn không có hiểu biết về tâm lý trẻ con, nên họ chỉ biết dùng đòn vọt để trừng phạt những đứa trẻ hư. Giáo dục mang tính tuần tự rất cao: đứa trẻ phải thật thuần thục bước trước rồi mới được chuyển sang học bước sau (lý tính cao độ). Thực ra cũng cần biết một đặc điểm: người thầy ở trường ít quan trọng hơn rất nhiều so với paidagôgos, người có xuất thân rất tầm thường, bình thường chỉ là một nô lệ lĩnh trách nhiệm đưa đứa trẻ đến trường. Ông ta sẽ trở thành người thầy thực thụ của đứa bé, dạy nó cách cư xử trong cuộc sống, toàn bộ lý tưởng về đạo đức cũng sẽ được đứa trẻ lĩnh hội thông qua quá trình “mưa dầm thấm sâu” này. Khi đứa trẻ đến tuổi thiếu niên, cần phải kể đến vai trò chủ chốt của những người tình (éraste) [13] , vì giữa hai bên có mối quan hệ thường xuyên, nhất là những cuộc gặp gỡ ở nơi tập luyện thể lực (gymnase).

Tuy vậy, không thể nói rằng hai nền văn hóa Hy Lạp và La Mã hoàn toàn trùng khớp nhau. Chẳng hạn chỉ xét riêng về quan điểm anh hùng, La Mã hoàn toàn khác với Hy Lạp. Thời Cộng hòa (kể từ năm 509 cho đến khi Auguste chính thức trở thành hoàng đế đầu tiên năm 27 tr. CN), người anh hùng La Mã không có yếu tố thần linh, anh ta chỉ đơn giản là hoàn thành sứ mệnh do Thành phố giao cho. Khái niệm anh hùng – thần linh chỉ xuất hiện ở La Mã khi đã bắt đầu có tiếp xúc văn hóa với phương Đông, mà tiêu biểu là Hy Lạp: kể từ thời của gia đình Scipion, các vị anh hùng mới được coi là những nhân vật siêu phàm. Bài luận của Cicéron về Cộng hòa cho chúng ta biết người ta đã phong thánh cho Scipion người châu Phi, và cả César cũng được thờ phụng như một vị thần ngay khi ông vẫn còn đang sống.

Khác biệt nữa giữa Hy Lạp và La Mã nằm ở hình thức truyền bá văn hóa. Phổ biến hơn cả ở Hy Lạp là lối văn nói. Trong Nicias, Plutarque kể là sau thất bại Syracuse năm 413, một số tù binh Athènes được kẻ thù tha vì đọc được thuộc lòng nhiều đoạn kịch của Euripide. Ngay Platon trong Phèdre (274-278) cũng tỏ ý nghi ngờ các cuốn sách và thích chọn hình thức đối thoại để diễn đạt ý tưởng hơn. Cả Thucydide trong phần trình bày phương pháp của bộ sử nổi tiếng cũng không trích dẫn tài liệu nào. Lời nói có địa vị thống trị ở Hy Lạp, và khi ở TK II. tr. CN vài ba sứ giả Hy Lạp đến Rome và rao giảng thuật hùng biện, Caton Già đòi đuổi những người đó khỏi thành phố, vì sợ những phong tục ngoại lai sẽ gây tác hại cho sự thuần khiết La Mã của người dân.

Hy Lạp là nơi sáng tạo ra môn chính trị (poleis), nhưng những lý thuyết, và nhất là thực hành, của La Mã, mới thực sự là các nguyên tắc có giá trị lâu dài cho châu Âu sau này. Trong số các quyền cơ bản của poleis Hy Lạp có quyền bỏ phiếu, quyền tư hữu, quyền được thực hiện hôn nhân hợp pháp với công dân khác, quyền được tham gia các hoạt động khác nhau của những lần cúng tế lớn; trong số đó quyền bỏ phiếu không tồn tại khi không có dân chủ (chẳng hạn ở thời có các chính thể đầu sỏ – oligarchie). Xã hội Hy Lạp “nam tính” một cách rõ rệt: phụ nữ, trẻ con và nô lệ không có một chút quyền nào hết. Dân chủ chỉ dành cho một nhóm công dân được công nhận. Kể cả nô lệ đã được tự do cũng không được công nhận là công dân, điều này khác hẳn với luật của La Mã. Những người di trú từ nơi khác đến không mấy khi được trở thành công dân ở các thành phố Hy Lạp (có thể xem thêm thực tế của những lý thuyết này ở đoạn đầu Thémistocle). Chỉ khi nào có đặc cách từ các vị vua thì người nước ngoài mới có thể trở thành công dân; trên thực tế điều này rất hiếm khi xảy ra.

Độc giả của Những cuộc đời song hành cũng nên dành sự chú ý đặc biệt cho một khái niệm “đặc La Mã”: khái niệm gia đình. Trong xã hội La Mã, gia đình đóng vai trò cực kỳ lớn, giáo dục gia đình đặc biệt quan trọng đối với trẻ con; điều này không giống ở Hy Lạp, những người coi gia đình nhiều khi chỉ đơn giản là cái nhà (nghiêng về vật chất). Người La Mã chính là những người sáng tạo ra khái niệm “tổ ấm”: ở thời trước đó và ở các vùng khác của thời cổ đại, không hề có khái niệm ấy. Người Hy Lạp chỉ có thể nói đến ngôi nhà với tư cách chỗ để ngủ, ăn uống và cất giấu của cải [14] . Chúng ta có thể có được một khái niệm cơ bản về ý nghĩa của tổ ấm thông qua một bài luận văn của Cicéron vào năm 57. Sau khi ông bị kết án lưu đày năm trước đó, kẻ thù của ông đã phá hủy hoàn toàn nhà của ông và ngăn không cho nó được xây dựng mãi mãi bằng cách hiến nó cho thần linh. Khi quay trở về, Cicéron đòi được xây lại nhà và viết bài luận văn trên; theo mọi quy định ở La Mã ông phải được làm như vậy, vì không một điều luật nào của La Mã cho phép phá hại một tổ ấm. Vai trò của người phụ nữ trong xã hội La Mã cũng rất lớn: đứa trẻ từ khi sinh ra cho đến khi có thể làm bạn đồng hành của người cha đều được người mẹ chăm sóc. Aurélia, người mẹ của César, khi chết đi năm 54, được coi trọng vô cùng, như một nữ thánh. Trong Những cuộc đời song hành, độc giả sẽ không ít lần nhận thấy sự kinh ngạc của Plutarque, một người Hy Lạp, trước vị thế đặc biệt của người phụ nữ trong xã hội La Mã.


[1]Jean-Jacques Rousseau, Les Confessions, 2 tập, Gallimard/folio 1993, bản của Bernard Gegnebin và Marcel Raymond, Catherine Koenig chú thích, J.-B. Pontalis giới thiệu. Bản tiếng Việt của đoạn trích: Cao Việt Dũng.
[2]Cuốn Du contrat social (viết năm 1762, một năm sau khi viết Julie, cả hai đều được viết khi Rousseau trú ở thành phố nhỏ Montmorency liền kề Paris) ở Việt Nam trước được biết dưới cái tên Xã ước (Phạm Quỳnh là một trong những người sử dụng cách dịch đó), sau này có bản dịch Bàn về khế ước xã hội của Hoàng Thanh Đạm.
[3]Trích cuốn Di sản Hy Lạp và La Mã, chương II Di sản La Mã của Ernest Barker, tr. 504. Chúng tôi sẽ giới thiệu kỹ hơn về cuốn sách này ở phần sau.
[4]Cùng trong dòng sách này, nổi tiếng nhất phải kể đến là tác phẩm của Suétone, Mười hai César, trong đó kể lại cuộc đời của mười hai vị hoàng đế La Mã, chủ yếu những chỗ xấu xa và điên rồ, đặc biệt là các hoàng đế Néron và Caligula. “César” ở đây xin hiểu là một loại tước hiệu dùng cho các vị hoàng đế; sau này khi có hai vị hoàng đế cùng trị vì, một người sẽ được gọi là César, người kia là Auguste. Suétone sống tương đối đương thời với Plutarque, vì ông sống đến thời hoàng đế Hadrien. Cuốn sách của Suétone rất gần với Sử ký của Tư Mã Thiên.
[5]Quan hệ giữa Caton Già (tức Marcus Porcius Cato – 234-149?) và Caton Trẻ (tức Caton xứ Utique – 95?-46 tr. CN) là quan hệ cụ – cháu.
[6]Theo Di sản Hy Lạp và La Mã, tr. 174.
[7]Trong số những bộ sử Hy Lạp do người Hy Lạp viết, nổi bật hơn cả là bộ Lịch sử của Hérodote, “cha đẻ của lịch sử” và bộ sách về cuộc chiến tranh Péloponnèse của Thucydide. Đường lối chung của sử học Hy Lạp là trọng sở thị mà có phần coi nhẹ sử liệu. Thucydide từng tham gia cuộc chiến tranh dài ngày và thảm khốc kia, tác phẩm của ông vì thế mang nhiều yếu tố tự truyện. Thucydide cũng là người phân biệt nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân và nguyên cớ. Hérodote thì chủ trương đặt trọng tâm vào con người, coi thần linh chỉ đóng vai phụ, theo đúng nguyên lý của Protagoras: “con người là thước đo của tất cả”.

Cần nhấn mạnh rằng các sử gia Hy Lạp luôn phát ngôn với tư cách cá nhân, không đại diện cho bất cứ thể chế nào – đặc điểm này khiến họ khác về căn bản với các sử gia cổ Trung Quốc. Sau này Tacite, sử gia La Mã, sẽ chê trách các sử gia Hy Lạp chỉ thích kể chuyện mà không quan tâm đến niên đại – Tacite là cha đẻ của truyền thống Biên niên sử. Thời Plutarque sống có đến mấy sử gia nổi tiếng, ngoài ông còn có Suétone tác giả bộ Mười hai César, sử gia vĩ đại Tite-Live với bộ sử về Đế chế La Mã, và Tacite, với hướng đi biên niên. Rất có thể vì phải ở trong thế “cạnh tranh” đó mà Plutarque buộc phải tìm ra hướng kể cuộc đời các nhân vật và so sánh Hy Lạp với La Mã, nhằm tránh những đường mòn đã quá nhiều người đi. Sau này, nhất là kể từ thời Phục Hưng, các bộ sử vĩ đại về Hy Lạp, và nhất là La Mã, không hề ít. (( tiếp trang sau)

Hai bộ sách cần kể đến hơn cả là Lịch sử suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mã (History of the Decline and Fall of the Roman Empire) của học giả Anh Edward Gibbon (1737-1794), lấy mốc khởi điểm là thời huy hoàng của các vị vua dòng Antonin vào TK II s. TC, bắt đầu xuất bản từ năm 1776. Cuốn sách này đưa ra một luận điểm sẽ thống trị cách diễn giải sự sụp đổ của La Mã suốt mấy thế kỷ ở Tây phương: luận điểm về sự suy đồi (décadence); tuy vậy, đến lượt nó, sự suy đồi sẽ trở thành cả một trào lưu văn học nghệ thuật sáng chói của TK XIX; Nietzsche sẽ khẳng định tính hiện đại bắt nguồn từ sự suy đồi này. Chỉ một chút hồi quang của La Mã cũng đủ sức tạo dựng rất nhiều tác phẩm có giá trị bất hủ.

Bộ sách lớn thứ hai là Lịch sử La Mã đồ sộ của Theodor Mommsen, học giả người Đức. Là một sử gia, nhưng Mommsen sẽ được nhận giải Nobel văn học vào năm 1902, vượt qua cả đại thi hào Nga Lev Tolstoi, chính nhờ bộ sách này – trường hợp khá giống với nhà văn nữ Marguerite Yourcenar trở thành Viện sĩ Hàn lâm Pháp năm 1980, mà chúng tôi sẽ nói đến trong phần sau. Tuy nhiên, trong mạch nghiên cứu song song hai nền văn hóa, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến bộ sách vô cùng hấp dẫn mang tên Di sản Hy Lạp và La Mã (Héritage de la Grèce et de Rome, Robert Laffont/Bouquins 1992, dịch sang tiếng Pháp: Geneviève Ladjaj-Koenig), tập hợp của hai cuốn sách của các học giả người Anh, quyển The Legacy of Rome in lần đầu năm 1923 dưới sự chủ trì của Moses I. Finley và The Legacy of Greece dưới sự chủ trì của Cyril Bailey, cả hai đều được chỉnh sửa rất nhiều lần.
[8]Trích theo Finley, Dẫn nhập của Di sản Hy Lạp và La Mã, sđd, tr. 17.
[9]Theo Lịch sử Hy Lạp cổ đại (Histoire de la Grèce ancienne, Jean Hatzfeld, Petite Bibliothèque Payot, 2002, bản in lần thứ ba với sửa chữa của André Aymard; lần in đầu tiên: 1926, tr. 60).
[10]Sđd, tr. 67.
[11]Trích từ mục “Suy tàn/Suy đồi” (Déclin/Décadence) trong “Từ điển” đặt ở cuối bộ sách Vies parallèles, Gallimard/Quarto 2004, Anne-Marie Ozanam dịch, bản thảo được thực hiện dưới sự chủ trì của François Hartog.
[12]Tác phẩm độc đáo hơn cả của văn học La Mã là Satiricon của nhà văn Pétrone (tức Caius Petronius Arbiter, sống ở TK I s. TC, nghĩa là cùng thời với Plutarque). Lần đầu tiên có một giọng văn đầy mỉa mai, châm biếm chĩa mũi dùi vào thói xa hoa của giới quý tộc La Mã, mở ra một truyền thống của văn học, sẽ nở rộ với những nhà văn như Voltaire và nhất là Rabelais. Pétrone bị kết tội đồng mưu trong vụ Pison chống hoàng đế Néron và bị ép phải chết. Một ví dụ khác là nhà thơ Catulle (Caius Valerius Catullus, sống ở TK I tr. CN), tuy là bắt chước các nhà thơ Hy Lạp nhưng đã động đến những điểm nhạy cảm rất khác biệt trong dòng thơ trữ tình, đặc biệt với những bài thơ ca ngợi Lesbie, tên thật là Clodia, người tình của ông. Ngoài ra, Lucrèce (tức Titus Lucretius Carus, 98?-55? tr. CN), mà tác phẩm lớn nhất (chưa hoàn thành) là De natura rerum (Về các sự vật của tự nhiên), tập thơ mang nhiều yếu tố khoa học; ông cũng được xem là người vượt được các ông thầy Hy Lạp.
[13]Ở Hy Lạp cổ, một người đàn ông có danh phận và của cải thường là người tình của một hoặc một số thiếu niên xinh xắn, đáng yêu. Xem thêm Lycurgue về giáo dục ở Sparte để thấy rõ hơn vai trò của những vị bảo trợ này. Một ví dụ nổi tiếng về mối quan hệ gây rất nhiều bối rối cho các nhà nghiên cứu sau này, đặc biệt các nhà nghiên cứu phương Đông, là quan hệ giữa Socrate và Alcibiade, người được coi là đẹp trai và hấp dẫn nhất của Hy Lạp, tiền thân của don Juan sau này.
[14]Di sản Hy Lạp và La Mã, sđd, tr. 617.

 
© talawas 2026