trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
23.10.2006
Cao Việt Dũng
Lời giới thiệu tác phẩm “Những cuộc đời song hành” của Plutarque
 

Sự hiện diện của văn hóa Hy Lạp – La Mã ở Việt Nam

Những ngôi nhà với hàng cột khía cạnh, những mái vòm oai nghiêm đang trở nên phổ biến không chỉ ở những công trình công cộng, mà còn xuất hiện cả ở nhà riêng của không ít người Việt Nam. Đó chính là di sản của hai nền văn hóa mà chúng ta đang nói đến ở đây: cột là phát minh của người Hy Lạp, trong khi mái vòm là thành tựu độc đáo của nền kiến trúc La Mã. Những câu thành ngữ “Ta đã đến, đã thấy và đã chiến thắng” (Veni, vidi, vici), “Chân lý nằm trong rượu vang” (In vino veritas) được nói rộng rãi mà người nói nhiều khi không biết nguồn gốc xa xôi của chúng; hay trong các văn bản khoa học, những từ quy ước như sic, nota bene… cũng đều là những di sản của tiếng Latin, một thứ ngôn ngữ đặc biệt hàm súc.

Điện ảnh là một nguồn khác đem lại những hiểu biết (dĩ nhiên vụn vặt). Người Việt Nam từng say mê với mối tình César – Cléopâtre, từng sửng sốt trước sự tàn bạo và hoành tráng của những trận tỉ thí mà người hùng của phim Gladiator do minh tinh Russell Crowe đóng (phim của đạo diễn Ridley Scott, năm 2000) phải trải qua, rồi gần đây hơn cả là hai bộ phim lớn: Troy (của đạo diễn Wolfgang Petersen, năm 2004) và Alexander của đạo diễn Oliver Stone (2004). Lịch sử Hy Lạp, nhất là La Mã, đã trở thành đề tài khai thác truyền thống của các nền điện ảnh lớn trên thế giới, chẳng hạn Hollywood. Thời phim còn chưa có tiếng (phim câm), Stuart Blackton đã làm phim Thésée và quái vật Minotaure (năm 1910) và chỉ từ năm 1907 đến năm 1917 đã có chín bộ phim César. Sergio Corbucci làm bộ phim nổi tiếng nhất về Romulus, Romulus và Rémus, vào năm 1961. Đạo diễn nổi tiếng Terrence Young cũng không bỏ qua mảng văn hóa phong phú này: năm 1973 ông làm bộ phim Các nàng Amazone.

Tuy nhiên phim của Hollywood thường xuyên theo những đường mòn đã được định sẵn: cho mãi đến những năm 1970 người ta vẫn coi César là người đối đầu với Cléopâtre, vì Cléopâtre là người tình của Antoine, đối thủ của César; cách diễn giải này không thật sự đúng với lịch sử, mà chỉ căn cứ theo Shakespeare (Shakespeare bắt đầu sáng tác những vở kịch lấy các nhân vật La Mã như Coriolan hay Julius César làm nhân vật chính sau khi đọc Plutarque, nhưng cách diễn giải của ông nhiều khi khác với nhà văn Hy Lạp). Bộ phim Alexander của Oliver Stone có lẽ là phim độc đáo hơn cả, khi vị đạo diễn nổi tiếng “cả gan” coi Alexandre là một người đồng tính; thêm vào đó vị hoàng đế tiến đánh không ngừng về phía Đông không hẳn vì ham mê đất đai mới mà vì những nỗi sợ hãi bắt nguồn từ thời bé, hòa lẫn với mặc cảm Oedipe, khiến ông không bao giờ muốn trở về quê hương để gặp lại mẹ mình (Alexandre trong bộ sách của Plutarque cũng là một trong những tác phẩm bề thế nhất và hay nhất, không những thế lại trình bày đầy đủ quan điểm viết tiểu sử của nhà văn; điều này đã được nói ở phần trước).

Ở một cấp độ cao hơn, sinh viên Luật ở Việt Nam được tiếp xúc với bộ luật La Mã, nền tảng của ngành luật học châu Âu. Nhưng chẳng nhẽ sự hiện diện của hai nền văn hóa vĩ đại ấy tại Việt Nam chỉ bó gọn trong đó? Nhất là khi ta biết tổ hợp hai nền văn hóa này chỉ có thể được so sánh với hai nền văn hóa rực rỡ khác là Trung Quốc và Ai Cập, những hiểu biết nhỏ bé đó càng trở nên khó hiểu, nhất là khi giữa Việt Nam và phương Tây đã có tiếp xúc văn hóa từ không dưới một thế kỷ rưỡi nay. Để hiểu văn hóa châu Á, nhất là vùng Đông Á, không thể không biết về Trung Quốc, để hiểu văn hóa phương Tây, đặc biệt khu vực Tây Âu, hiểu biết về Hy Lạp – La Mã đã trở nên một nhu cầu thực sự. Chúng tôi sẽ cố gắng trình bày những hiện diện mang tính chìm hơn những biểu hiện vừa nêu, theo hướng bám sát những nghiên cứu hàn lâm và đại học ở Việt Nam.

Có thể nói rằng trong số các trí thức Việt Nam Tây học từ đầu đến khoảng giữa TK XX (Tây học ở đây chủ yếu là Pháp học), rất nhiều người có vốn hiểu biết phong phú về văn hóa Hy Lạp – La Mã, nhưng gần như không có chuyên gia thực thụ về lĩnh vực này. Có lẽ người được đào tạo gần chuyên ngành này hơn cả là Phạm Duy Khiêm (1908-1974). Ông theo học ban Văn chương cổ điển (Lettres classiques) của trường Sư phạm phố Ulm, Paris và sau này dạy tiếng Latin ở Việt Nam, song song với công việc viết văn bằng tiếng Pháp [1] . Ngoài ra, bản dịch Tuyển tập kịch Xôphôclơ [2] năm 1985 được thực hiện thông qua bản tiếng Pháp và có đối chiếu với nguyên bản tiếng Hy Lạp với sự giúp đỡ của Nguyễn Mạnh Tường và Phan Ngọc (căn cứ vào lời chú của nhà xuất bản Văn học); điều đó chứng tỏ công việc nghiên cứu hai nền văn hóa này từng được đặt ra hết sức nghiêm túc. Cũng trong tuyển tập này, nhà xuất bản thông báo trước là sẽ tiếp tục giới thiệu bi kịch của Euripide, hài kịch của Aristophane và tác phẩm Énéide của nhà thơ vĩ đại La Mã Virgile. Sau này công trình dài hơi đó chỉ được thực hiện một phần, nhưng phần làm được đó đã đặt một nền móng quan trọng cho ngành nghiên cứu Hy Lạp – La Mã tại Việt Nam.

Theo chúng tôi được biết, ngoài các nghiên cứu về luật pháp và kiến trúc, văn hóa Hy Lạp được giới thiệu ở Việt Nam theo ba hướng chính: thần thoại Hy Lạp, bi kịch Hy Lạp và trường ca Homère; văn hóa và lịch sử La Mã không được nghiên cứu nhiều bằng, có lẽ chỉ có một vài cuốn sách nhỏ về thần thoại La Mã [3] . Ở mảng Thần thoại Hy Lạp, người có công lớn nhất là Nguyễn Văn Khỏa [4] : những tập sách đầy cảm hứng của ông đem lại niềm say mê cho nhiều lứa độc giả, đặc biệt là độc giả nhỏ tuổi. Mười hai vị thần trên đỉnh Olympe, những cuộc chiến giữa các Titan, rồi những người anh hùng Héraclès, Thésée, Jason…, tất cả đều nhờ nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Khỏa mà đi vào tâm tưởng của biết bao đứa trẻ mê đọc sách. Những hiểu biết đó sẽ càng phát huy thế mạnh khi những đứa trẻ lớn lên và có điều kiện đi học ở các nước phương Tây, khi đó một sự tương đồng văn hóa nào đó sẽ giúp các du học sinh hòa nhập tốt hơn và hiểu cặn kẽ hơn không chỉ chuyên ngành của mình mà còn cả cuộc sống và cách vận hành của xã hội nước đó.

Mảng bi kịch Hy Lạp tập hợp được nhiều nhà nghiên cứu và dịch giả hơn cả. Ngoài Tuyển tập kịch Xôphôclơ đã nói ở trên, nhà viết kịch, tác giả của khoảng 120 vở kịch (ngày nay còn lại chưa đến 10 vở) còn được dịch Êđip làm vua [5] , bản của Hoàng Hữu Đản, một vở kịch được giới thiệu và chú thích hết sức nghiêm túc. Ngoài ra, hai kịch tác gia nổi tiếng nữa của Hy Lạp là Eschyle và Euripide đều có tác phẩm được dịch ở Việt Nam [6] . Cũng trong dòng nghiên cứu kịch phương Tây, một công trình nữa xứng đáng được kể tên: Bi kịch cổ điển Pháp [7] của Tôn Gia Ngân, vì về cơ bản bi kịch cổ điển Pháp là bước tiếp nối bi kịch Hy Lạp, khi mà về mặt lý thuyết, các tác gia Pháp buộc phải tuân theo nguyên tắc mimèsis (mô phỏng, sao phỏng các kiệt tác) do Aristote đưa ra; trên thực tế Racine cũng viết kịch Iphigénie giống như Euripide; đó chỉ là một trong số rất nhiều ví dụ thuộc dạng này.

Rõ ràng là vào những năm 1980 có một sự nở rộ nào đó về nghiên cứu và dịch thuật văn hóa và văn chương Hy Lạp. Tuy nhiên cần nói rõ một điểm: các nhà nghiên cứu giai đoạn đó có cách hiểu và cách định giá nhiều khi rất khác với ngày nay. Xin lấy một ví dụ: trong lời giới thiệu của tuyển tập Kịch Ơripit, sau khi giới thiệu tiểu sử của Euripide, Nguyễn Trác viết: “Cuối cùng, nói kịch Ơripit là kịch về con người có nghĩa là kịch phản ánh được ít nhiều hiện thực về cuộc sống con người. Nó phản ánh hiện thực chưa phải là nó đạt tới chủ nghĩa hiện thực, một trình độ phải hơn hai nghìn năm nữa nghệ thuật mới đạt được. Thời Ơripit, người Hy Lạp chưa thể quan niệm nghệ thuật phải phản ánh hiện thực. Việc Phrinicox phải nộp phạt vì đã cho diễn vở Milê thất thủ y như thật là một dẫn chứng có ý nghĩa [8] ”. Khi đó, cách nhìn văn học gần như được uốn nắn hoàn toàn theo một số học thuyết của Đông Âu, trong đó có thuyết của Georg Lukács, theo đó văn học chỉ có giá trị khi nó phản ánh hiện thực, càng phản ánh hiện thực một cách chân thực nó càng có giá trị; đó là một cách nhìn thiên về xã hội học, lấy xã hội học làm thước đo văn học, và qua đó mặc nhiên không thừa nhận giá trị tự thân của văn học, và do đó nhiều khi có những đánh giá hết sức cực đoan.

Mảng thứ ba mà chúng tôi muốn đề cập là hai trường ca của Homère. Ở thế giới phương Tây, Iliade và Odyssée được coi là khởi thủy của văn học. Trong rất nhiều năm, và cả đến bây giờ, nhiều nhà nghiên cứu vẫn dành toàn bộ sự ngưỡng mộ cho hai vở trường ca đó và cho rằng đó là hai kiệt tác vĩnh viễn không thể vượt qua. Không thể tính nổi có bao nhiêu công trình khoa học về và liên quan đến hai bản trường ca bất hủ kia. Việc James Joyce sử dụng chất liệu của Odyssée để viết nên tác phẩm Ulysse của mình (cuốn tiểu thuyết được viết từ năm 1914, chỉ diễn ra trong một ngày duy nhất: ngày 16/6/1904, thường được các sử gia văn học gọi là Bloomsday, theo tên nhân vật chính) có ý nghĩa vô cùng to lớn. Homère mở đầu lịch sử văn học bằng trường ca, còn Joyce có tham vọng mở ra nền văn học hiện đại (hoặc hậu hiện đại, tùy cách hiểu), chính vì thế mạch ngầm của tác phẩm Ulysse là Odyssée, kết cấu (ban đầu) của tiểu thuyết cũng theo đúng trình tự của bản trường ca, mãi sau này Joyce mới quyết định bỏ đi tên các chương vì chúng gợi ra quá rõ tác phẩm của Homère.

Ở Việt Nam trước tiên đã có hai cuốn sách nhỏ: Iliat và Ođyxê ở dạng rút gọn [9] . Được dịch từ Pháp văn, hai cuốn sách này chỉ tóm tắt những chi tiết quan trọng nhất, và cũng không quan tâm đến hình thức thơ của nguyên bản (cả hai bản dịch đều thành văn xuôi, giống như những câu chuyện kể). Với nỗ lực phi thường, cả về trí tuệ lẫn việc tìm nguồn in ấn, gần đây nhà nghiên cứu Hoàng Hữu Đản đã cho ra mắt bạn đọc Việt Nam hai bản dịch đầy đủ, theo đúng thể thơ của nguyên bản [10] . Đây là những nỗ lực có thể so sánh với nỗ lực dịch Faust của Goethe và Thần khúc của Dante, những thành tựu độc đáo của nền dịch thuật Việt Nam. Sau gần 3.000 năm tồn tại, cuối cùng Homère đã có mặt ở Việt Nam ở dạng toàn vẹn nhất.

Trước đó, Nguyễn Văn Khỏa đã có một công trình đầy đặn mang tên Anh hùng ca của Homerơ [11] . Trong Lời nói đầu Nguyễn Văn Khỏa có nhắc đến hai bản trích dịch I-li-át và Ô-đi-xê do NXB Văn học ấn hành năm 1966, nhưng rất tiếc chúng tôi không tìm được. Những nghiên cứu của Nguyễn Văn Khỏa, được trình bày trong Lời nói đầu, chủ yếu dựa trên Marx, Engels và Gorki, ngoài ra “chúng tôi còn sưu tập những ý kiến về loại hình anh hùng ca của ba nhà nghiên cứu – lý luận xô viết: L. I. Ti-mô-phi-ép, G. L. A-bra-mô-vits và A. Ph. Lô-sép [12] ”. Giá trị lớn nhất của chuyên luận của Nguyễn Văn Khỏa là trình bày theo tiến trình thời gian một cách kỹ càng, dựa trên những kết quả nghiên cứu mới của thế giới khi đó, nền văn minh Hy Lạp và phát triển lịch sử của nó. Lần này, khi giới thiệu trước tác của Plutarque, chúng tôi chủ trương nhìn ông dưới khía cạnh tổng hợp và tiếp xúc của hai nền văn hóa, nên không thể sử dụng được cách giới thiệu của Nguyễn Văn Khỏa.

Điều đáng tiếc nhất của ngành nghiên cứu Hy Lạp – La Mã ở Việt Nam là chưa thật sự quan tâm đến trước tác của các triết gia Hy Lạp. Cho đến giờ, gần như chưa hề có bản dịch hoàn chỉnh nào các tác phẩm của Platon, Aristote hay Xénophon, ngoài một bản dịch khá tóm lược “Nghệ thuật thơ ca” của Aristote [13] . Nói đúng hơn là cho đến giờ chúng ta quan tâm hơn đến mặt tiểu sử, giai thoại, các mối quan hệ cá nhân giữa các triết gia mà chưa bao giờ thực sự đi sâu vào triết lý của họ. Chúng ta cũng còn thiếu những công trình nghiên cứu về lịch sử Hy Lạp – La Mã; kể cả bản dịch các tác phẩm nghiên cứu về lĩnh vực đó (từ các thứ tiếng khác) vẫn vô cùng hiếm hoi.

Chúng tôi muốn dừng lại lâu hơn ở một học giả Việt Nam có công lớn trong công việc khảo cứu, hơn thế lại thuộc vào lứa trí thức đầu tiên tiếp xúc với văn hóa phương Tây, đó là Phạm Quỳnh. Ông chủ bút tờ Nam Phong là một người cựu học, nhưng những nghiên cứu bền bỉ và có chiều sâu đã đưa ông vào hàng những người truyền bá văn minh Tây phương đầu tiên ở Việt Nam, đại diện tiêu biểu cho truyền thống “điều hòa tân cựu, thổ nạp Á Âu”, tiêu chí của chính tờ Nam Phong, một trong hai tờ báo quan trọng đầu tiên của nền báo chí Việt Nam (tờ kia là Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương) [14] . Khoan nói đến những công trình về văn hóa Việt Nam như “Chữ Nho với văn Quốc ngữ”, “Mĩ thuật Việt Nam”, “Truyện Kiều” hay “Phật giáo lược khảo” và “Khổng giáo luận” với những ý kiến từ lâu nay bị đem ra tranh luận rất nhiều, trong đó có không ít những lời phản đối từ phía rất đông các học giả, chúng tôi đặc biệt chú ý đến một số khảo luận của Phạm Quỳnh về văn hóa phương Tây, nhất là khi ông bàn đến văn hóa Hy Lạp và La Mã, thời mà người ta vẫn gọi Athènes là “thành Nhã điển” [15] .

Hai bài tiêu biểu cho sở học của Phạm Quỳnh về các văn hóa xa lạ này là “Bàn về diễn thuyết” [16] (1921) và bài “Khảo về diễn kịch (Lối diễn kịch của Âu châu)” [17] (1921). Không hài lòng với những kiến thức đương thời, Phạm Quỳnh đã truy nguyên đến nguồn gốc của diễn thuyết (tức khoa hùng biện) và nguồn gốc diễn kịch (kịch nghệ). Trước tiên ông nhận định “Cứ thực thời nghề diễn-thuyết ở nước ta xưa nay hầu như không có” [18] , và coi đó là điểm khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng nhất là với “các nước Thái Tây”: “Các nhà tây-học ta chắc ai cũng biết Démosthène ở Hi-lạp, Cicéron ở La-mã là hai tay biện-sĩ trứ-danh của Âu-châu đời xưa, dẫu ngày nay cũng vẫn lấy phép biện-thuyết của hai ông làm khuôn mẫu vậy [19] ”. Rồi Phạm Quỳnh dẫn De Oratoire của Cicéron: “Mục-đích nhà diễn-thuyết có ba điều: một là thuyết-minh, hai là khoái-trá, ba là cảm-động người ta”, và quy về ba khái niệm: “lý”, “tính” và “tình”. Phạm Quỳnh còn đi sâu vào kỹ thuật diễn thuyết, trình bày các bước mà các nhà lý thuyết đã đưa ra: “sáng-ý” (invention), “bố cục” (disposition), “lập-từ” (élocution) và hai bước phụ: “ký-ức” (mémoire) và “cử-động” (action).

Cho đến nay, sinh viên khoa văn chương ở Pháp vẫn được yêu cầu viết các bài luận theo đúng trình tự này, coi như là những kỹ thuật nền tảng để viết văn chính luận và bình luận. Tiếp đó, Phạm Quỳnh đi sâu vào phần quan trọng nhất, “bố cục” và theo đúng truyền thống tu từ học phương Tây mà trình bày các bước nhỏ cần theo: “khai-mào” (exorde), “lập-luận” và “phân-đoạn” (proposition và division), rồi “tự-thuật” (narration), “dẫn chứng” (preuve hoặc confirmation), “biện bác” (réfutation) và kết thúc bằng “kết-luận” (péroraison). Thực ra lối dịch của Phạm Quỳnh không hoàn toàn chính xác (chẳng hạn “péroraison” khó có thể hiểu là “kết luận” mà có thể coi là phần tán thêm ra), nhưng về đại thể bố cục đó rất chính xác. Toàn bộ lý thuyết về diễn thuyết tiếp tục được Phạm Quỳnh chỉ ra với các loại phong cách (mà ông gọi là các “lối”): “văn giản dị” (style simple), “văn bình-hòa” (style tempéré) và “văn cao-nhã” (style sublime). Để kết thúc, ông cũng không bỏ quên “các lối diễn thuyết” (ngày nay hay gọi là các thức): “chỉ-biện” (genre démonstratif), “nghị-biện” (genre délibératif) và “án-biện” (judiciaire). Cách giải thích của Phạm Quỳnh có khi còn không thật sự chính xác, vì vốn ông không phải chuyên gia về mảng này, nhưng khó có thể nói là khảo cứu của ông không có tính khoa học, rõ ràng và rành mạch.

Bài “Khảo về diễn kịch” cũng rất hấp dẫn vì lối trình bày đầy khúc chiết, khảo từ nguồn gốc kịch nghệ ở Hy Lạp (chia thành “bi-kịch” và “hí-kịch”), nhắc đến bộ ba Eschyle, Sophocle và Euripide, cùng với những thay đổi về cách trình diễn: đưa thêm “ca-viên” (le choeur, tức dàn đồng ca) vào để giảm bớt sự nhàm chán của sân khấu, tăng thêm tính đối thoại. Các nguyên tắc về tính thống nhất của kịch cổ điển châu Âu cũng được bàn đến, và nhắc nhở đến tác phẩm “Thi nghệ” của Horace, nhà thơ La Mã. Nhà khảo cứu cũng lại biên hết sức chi tiết từng bước, từng đặc điểm của sân khấu kịch, kể cả các đặc tính “thắt nút”, “mở nút”, nghĩa là hoàn toàn có thể coi là một bài giáo trình dạy cho sinh viên khoa văn chương tổng quan về nghệ thuật kịch.

Nhắc đến trường hợp Phạm Quỳnh, chúng tôi muốn lưu ý rằng cách đây gần 100 năm, đã có những học giả nghiên cứu cặn kẽ các nền văn minh phương Tây, đã manh nha được một nền học thuật có chiều sâu theo hướng điều hòa Đông Tây, coi trọng truyền thống nhưng không quên tích cực học hỏi từ những nguồn khác. Điều đáng tiếc là trong vòng 100 năm ấy, các ngành nghiên cứu khoa học xã hội của Việt Nam không phát triển được tương xứng với cái nền tảng đó, nhất là công việc dịch thuật bị bỏ bê, nghiên cứu loanh quanh theo vài học thuyết lỗi thời, các bậc trí thức vướng bận vào nhiều chuyện khác ngoài khoa học; thật là một cơ hội bị bỏ lỡ đáng tiếc cho trí tuệ Việt Nam.

Trong tình hình nghiên cứu Hy Lạp – La Mã như vậy, thái độ của chúng tôi, những người làm công việc dịch thuật đi sau, như thế nào? Với ý thức tiếp tục truyền thống nghiên cứu đã được định hình như vừa trình bày, quan điểm của chúng tôi là tận dụng tối đa những gì những người đi trước đã làm được, nhưng không tránh khỏi những chỗ khác biệt để hướng tới sự đúng đắn cao hơn về mặt khoa học và tính hợp lý của sự tiếp nối, những khác biệt mà chúng tôi sẽ trình bày dưới đây và cả những khác biệt thể hiện trong bản dịch của mình.

Vì không phải là các chuyên gia về Hy Lạp – La Mã, và cũng không tự coi là chuyên gia về Hy Lạp – La Mã, chúng tôi tuyệt đối tránh những nhận xét mang tính chất định giá. Mong muốn duy nhất của chúng tôi là đóng góp một phần vào ngành nghiên cứu đã từng tập hợp được không ít trí thức Việt Nam nhưng hiện nay có phần hoang vắng. Đóng góp đó có lẽ chỉ nằm ở chỗ cung cấp công cụ làm việc, và phần nào đó truyền cảm hứng cho những nhà nghiên cứu tương lai, khi ngành Hy Lạp – La Mã thực sự trở thành một ngành nghiên cứu được nghiêm túc nhìn nhận và đào tạo được các chuyên gia thực thụ.

Tinh thần tiếp nối được thể hiện rõ nhất thông qua việc chúng tôi cố gắng, trong chừng mực có thể, giữ được cái tinh thần dịch thuật của những người đi trước. Do có một đặc điểm là tuyệt đại đa số các dịch giả chuyên làm về mảng Hy Lạp – La Mã từ trước đến nay đều sử dụng văn bản nguồn tiếng Pháp, rất tự nhiên mà tên địa danh và các nhân vật được người Việt Nam quen gọi theo lối Pháp. Chúng tôi quyết định tiếp tục truyền thống đó, bằng cách viết tên danh từ riêng theo tiếng Pháp, có thêm phiên âm ở những từ quan trọng, và thêm từ tương ứng bằng tiếng Anh ở phần chỉ dẫn. Dù rằng trong nhóm dịch, số người sử dụng thành thạo tiếng Anh đông nhất, chúng tôi vẫn cố gắng giữ tối đa cách đọc theo tiếng Pháp đã trở thành quen thuộc với người đọc Việt Nam. Ý thức tiếp nối còn thể hiện ở chỗ chúng tôi cố gắng thống nhất hết sức có thể cách dịch tên các tác phẩm văn học cũng như các câu thơ từng được dịch ra tiếng Việt, hoặc có khi chỉ đơn thuần được nhắc đến trong các công trình nghiên cứu và dịch thuật trước đây. Chúng tôi cũng quay trở lại sử dụng một số cách dịch theo truyền thống: chẳng hạn từ “Fortune” sẽ không được dịch là “May mắn” hay “Thần May mắn” mà được dịch thống nhất là “Số mệnh”.

Ngoài ra, sự kế thừa còn được thể hiện ở tinh thần và cách thức làm việc: cố gắng chú thích cặn kẽ tối đa, đi kèm với những bản đồ, niên biểu, giải thích về địa danh v.v… Mục đích cuối cùng là khiến người đọc cảm thấy thuận lợi và dễ dàng một cách tối đa. Tuy nhiên, trong tình hình mới, chúng tôi không phiên âm tên riêng như trước, mà viết nguyên bản bằng tiếng Pháp để tiện việc tra cứu. Mỗi tác phẩm đều được đánh số đoạn (chương) theo quy ước chung của thế giới. Nhiều khái niệm cũng được dịch khác so với trước. Về những điểm cụ thể, xin xem thêm phần Ghi chú dịch thuật và chú thích đặt ở tập 1 này.

Plutarque

Chúng tôi dành phần cuối của Lời giới thiệu này để nói về “nhân vật” chính của cuốn sách, Plutarque.

Có nhiều khía cạnh con người và cuộc đời Plutarque mà chúng ta có thể nói đến khi muốn giới thiệu ông, vì Plutarque quả là một con người đặc biệt, phi thường ở nhiều điểm, nhiều lĩnh vực. Không chỉ là một nhà trước tác, ông còn từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng cả về chính quyền lẫn tôn giáo. Nhưng với tư cách là tác giả bộ sách Những cuộc đời song hành, có lẽ nên chủ yếu nhìn nhận nhà văn Hy Lạp dưới góc độ con người của hai nền văn hóa, con người hội tụ được tinh hoa của một “tổ hợp văn hóa hai thành tố” đã có tiếp xúc từ cách thời ông sống trên dưới hai thế kỷ và cho đến thời ông đã có những thành tựu to lớn (xem thêm về những phân tích phía trên về hai nền văn hóa Hy Lạp và La Mã ở thời điểm giao nhau ở các phần trước).

Plutarque là một nhà văn Hy Lạp nhưng không giống như các nhà văn, nhà triết học khác được sống ở thời kỳ văn hóa Hy Lạp ngự ở đỉnh vinh quang (TK V), ông sống ở thời thế giới Hy Lạp đã lụi tàn, văn minh Hy Lạp bị văn minh La Mã lấn lướt, thời mà người ta đã bắt đầu xét đến các di sản mà Hy Lạp để lại. Ông là nhà văn Hy Lạp nhưng biết rõ Rome, lại biết đến cả bộ máy chính trị và văn hóa ở đỉnh chóp của tôn ti xã hội đó. Tuy không phải là một người uyên thâm về tiếng Latin [20] nhưng ông có nhiều tiếp xúc, nhiều quan hệ trong thế giới La Mã, lại thêm hiểu biết kỳ đặc về văn hóa Hy Lạp của dân tộc khiến ông có thể nhìn nhận lịch sử theo con mắt hết sức độc đáo, con mắt chứa đựng sự so sánh. Có nhiều lúc Plutarque tỏ ra tiếc nuối vì đã không thực sự chuyên tâm học tiếng Latin trong những kỳ lưu lại ở Rome. Một ví dụ cho vốn tiếng Latin khiêm tốn của Plutarque nằm ở Numa, XIII ở tập 1, khi nhà văn hiểu sai cụm từ vetus memoria.

Một đặc điểm nữa không thể bỏ qua khi nói đến Plutarque là ông là công dân của một nơi không mấy khi được nhắc đến trên bản đồ văn hóa của Hy Lạp cổ đại. Ông không có quê hương là một Athènes, một Sparte hay một Syracuse lẫy lừng, mà chỉ là công dân thành phố nhỏ Chéronée [21] . Vùng đất Béotie nơi có thành phố Chéronée cũng không có tiếng tăm gì vang dội lắm, nhưng nó lại nằm gần mấy địa danh hết sức huy hoàng: thành Thèbes, nơi vào năm 379, Pélopidas và Épaminondas dẫn đầu dân chúng lật đổ sự chiếm đóng của quân Sparte. Không xa đó là đền Delphes linh thiêng bậc nhất thế giới cổ đại (có lẽ được xây dựng từ trước TK VIII) và ngọn núi Parnasse, ngọn Thi Sơn lừng lững, nơi ở của các nữ thần Nghệ thuật. Nhiều người sống ở các giai đoạn sau này tưởng tượng một cách hợp lý cảnh ông già Plutarque đi từ nhà ở Chéronée, theo những con đường mòn của vùng núi Parnasse, nơi còn để lại những dấu chân của Oedipe khổ đau và lưu lạc, để sang đền Delphes thực hiện nhiệm vụ của một thầy tế mẫn cán.

Có lẽ đặc điểm của người “tỉnh lẻ” là sự gắn bó với quê hương. Chúng ta đã biết ông ưu ái thế nào với hai người anh hùng Thèbes, về lý thuyết là cùng quê hương Béotie với ông, và rộng hơn thế, trong những bài so sánh đặt sau chuyện mỗi cặp nhân vật, thường thì bao giờ nhân vật Hy Lạp cũng được nhìn nhận với con mắt cảm thông và trọng thị hơn nhiều so với nhân vật La Mã.

Gắn bó với quê hương và với văn hóa Hy Lạp như vậy, nhưng Plutarque không hề có cái nhìn quốc gia chủ nghĩa cực đoan (chẳng hạn giống như nhân vật Caton Già của La Mã, người quyết liệt phản đối mọi ảnh hưởng ngoại lai, nhất là Hy Lạp và phương Đông, đến sự thuần khiết của La Mã). Hồi trẻ Plutarque từng sang Athènes (năm 65-67), cùng với một hậu duệ của Thémistocle (người anh hùng chiến thắng quân Ba Tư – xem Thémistocle) theo học các lớp của một triết gia dòng Platon, Ammonios. Với ông Athènes là thành phố luôn sản sinh “vô số những bằng chứng về tính nhân đạo và rộng lượng của mình” (Aristide, XXVII), thành phố vĩ đại và vĩnh hằng, nhưng Rome cũng thu hút ông không kém. Khoảng những năm 75-79, ông đến Rome với những nhiệm vụ chính trị và các bài giảng của riêng mình. Dưới thời hoàng đế Domitien, ông còn quay lại Rome một lần nữa, lần này vì có nhiều thời gian hơn nên ông đi thăm thú thành phố, chiêm ngưỡng các công trình và gây dựng tình bạn với nhiều nhân vật có thế lực: nhờ người bạn Lucius Mestrius Florus mà ông có được quyền công dân của Rome (ở điểm này người La Mã khá khác người Hy Lạp: quyền công dân La Mã được trao một cách dễ dàng hơn; hoặc giả người La Mã luôn dành rất nhiều kính trọng cho người Hy Lạp, nhất là các học giả tầm cỡ như Plutarque); cùng với Florus ông đi thăm chiến trường cũ của trận đánh Bédriac nằm ở xứ Gaule Cisalpine, nơi quân đội của Othon và Vitellius từng chạm trán nhau năm 69, và phần thắng đã không nghiêng về nhân vật Othon thuộc cặp cuối cùng của Những cuộc đời song hành. Toàn bộ bộ sách Những cuộc đời song hành cũng được đề tặng cho một người La Mã: Sossius Sénécion (xem Thésée, I kèm với chú thích để biết về Sénécion).

Các chi tiết cuộc đời của Plutarque chủ yếu được chính ông trình bày một cách rải rác trong các tác phẩm. Ngay trong Những cuộc đời song hành cũng có thể tìm ra những dấu vết tự thuật đó: chẳng hạn trong Antoine (LXVIII), ông kể chuyện cụ mình là Nicarchos từng tận mắt chứng kiến sự nghèo khổ của các thành phố Hy Lạp khi đó trở thành chiến địa cho các trận nội chiến của người La Mã. Cũng trong Antoine (XXVIII) ông kể chuyện người ông Lampias của mình từng đến xem những công trình sơ thảo của Antoine ở Alexandrie.

Ngoài đó ra, chúng ta biết được rất ít về cuộc đời riêng tư của Plutarque, về người vợ và những đứa con của ông. Kể từ khi bắt đầu lui về quê Chéronée (đầu những năm 90), những chi tiết tiểu sử Plutarque giảm đi đáng kể. Cũng ít có thông tin về những chuyến đi đến các xứ trên đất Hy Lạp, trừ chuyến đi Athènes khi ông còn trẻ (chỉ có thể chắc là ông từng đi đến Sparte để thu thập thông tin). Ông lại càng ít nói về rất nhiều chức vụ mà ông từng kinh qua, kể từ các chức vụ liên quan đến thần linh (thầy tế ở đền Delphes) cho đến các chức vụ hành chính ở xứ Béotie quê nhà, kể cả có thể là cả xứ Achaïe [22] (theo yêu cầu của Hadrien). Những vinh dự mà hoàng đế Trajan dành cho ông, chúng ta cũng không thể hoàn toàn chắc chắn. Nhưng tầm vóc con người ông hẳn là rất lớn, nên khi viết Hồi ký Hadrien [23] , cuốn tiểu thuyết dưới dạng những bức thư hoàng đế gửi cho người con nuôi Marc-Aurèle, vị hoàng đế La Mã tương lai và đồng thời là triết gia khắc kỷ nổi tiếng, có một lúc nữ nhà văn Marguerite Yourcenar đã “cho” hoàng đế Hadrien đến thăm nhà Plutarque khi ông sang Hy Lạp, như một địa chỉ văn hóa khó có thể bỏ qua đối với một vị hoàng đế nổi tiếng học rộng hiểu nhiều như Hadrien.

Plutarque từng đến Ai Cập nhưng không thấy nói gì về những gì ông đã nhìn thấy và biết được ở đó, dù ông viết một bài luận mang tên Về Isis và Osiris (tên hai vị thần quan trọng nhất trong hệ thống thần thoại Ai Cập), một bài luận về tôn giáo Ai Cập rất phong phú và chặt chẽ. Chỉ có thể chắc chắn là ông không biết tiếng Ai Cập. Trong số những người Plutarque trích dẫn trong bài luận vừa nói trên, có những người nổi tiếng vì vốn hiểu biết về Ai Cập, chẳng hạn Hécatée xứ Abdère và Manéthon xứ Sébennytos, tác giả cuốn Aegyptiaca nổi tiếng thời Cổ đại, và Euxode xứ Cnide. Manéthon là người Ai Cập và là thầy tế, cố vấn của Ptolémée Philadelphe; Hécatée và Euxode đều từng ở Ai Cập và có quan hệ với các thầy tế ở đây.

Với những trường hợp không để lại nhiều chi tiết khả tín về mặt tiểu sử như Plutarque, văn bản tác phẩm cần được đặc biệt lưu ý. Nếu không có những chi tiết, thì con người tác giả, dù muốn hay không, cũng sẽ biểu hiện ở đâu đó trong những gì họ viết ra. Đọc Những cuộc đời song hành cũng giúp chúng ta biết rõ hơn về Plutarque dưới khía cạnh tinh thần và ý hướng. Đoạn đầu tiên của Timoléon đặc biệt quan trọng:

“Khi bắt tay viết những Cuộc đời này, chủ đích của tôi là viết cho người khác; nhưng khi đã say sưa hoàn toàn trong công việc này, giờ đây tôi viết cho tôi. Trong mắt tôi lịch sử như một tấm gương, nhờ nó, theo cách nào đó, tôi tìm cách tô điểm cho cuộc đời của chính tôi, tìm cách đưa cuộc đời tôi lại gần với đức hạnh của những con người vĩ đại kia. Tôi thực sự có cảm giác mình đang ở, đang sống với họ; nhờ lịch sử mà tôi có thể nói mình tiếp đón họ ở nhà, lần lượt từng người một, thết đãi họ và có họ ở gần bên.” (Timoléon, I).

Chắc chắn có những lúc Plutarque tự đồng hóa với các nhân vật của mình, và hẳn là cũng có những lúc ông uốn nắn nhân vật của mình theo những lý tưởng riêng. Cách đọc Những cuộc đời song hành tốt nhất, vì thế, có lẽ là tùy vào sự nhạy cảm của mình mà mỗi độc giả xây dựng một hình ảnh Plutarque cho riêng mình, căn cứ vào những gì ngòi bút của ông viết ra.

Xét về tư tưởng triết học, một trong những đối thủ của Plutarque là các nhà khắc kỷ chủ nghĩa; Aristote thì được coi là đồng minh tự nhiên của Plutarque chống lại những người kia. Có một điều đặc biệt là khi Hy Lạp sụp đổ, triết học của nó lại gây ảnh hưởng lớn hơn cả ở thời vĩ đại của Platon và Aristote: đó là vai trò của triết học Khắc kỷ. Môn triết học này có rất nhiều yếu tố Alexandrie: những nhà khắc kỷ đầu tiên đến từ phương Đông, Zénon người thành lập trường phái là một người Phénicie đã được Hy Lạp hóa, gốc đảo Chypre, đến từ Cilicie. Ông đến Athènes vào cuối TK. IV và ở đó với tư cách người nước ngoài.

Theo triết lý khắc kỷ, vũ trụ là một thể thống nhất có thể dùng lý trí mà xâm nhập; niềm tin của Khắc kỷ vào một thế giới-nhà nước là một biểu hiện chính trị của quan điểm triết học chung của họ. Ở thần linh cái Lý trí là tối cao, là bản thể, còn ở con người lý trí chỉ là những mảnh vỡ, nhưng những phân mảnh đó lại chính là cái hướng dẫn, đưa đường. Hai nguyên lý chính của Khắc kỷ: một xã hội duy nhất phổ quát, nằm trong một Nhà nước duy nhất bao trùm toàn bộ thế giới; một luật lệ tự nhiên mà tất cả mọi người đều phải đồng phục theo. Zénon cũng từng viết một cuốn Cộng hòa [24] , trong đó ông chối từ lẽ tồn tại của đền thờ, tòa án, tiền bạc, hôn nhân và cả hệ thống giáo dục, tức là khá gần với chủ nghĩa Vô sỉ (Cynisme).

Những quan điểm này bị Plutarque, người hết sức tôn trọng các thể chế, phản đối rất nhiều, đặc biệt trong các bài luận triết học của bộ Moralia [25] . Tuy nhiên có một nghịch lý là khi viết các Cuộc đời, rất nhiều khi Plutarque lại tỏ thái độ đồng tình với những biểu hiện của khắc kỷ, chẳng hạn như thái độ bàng quan của Fabius Maximus trước những lời đả kích của người La Mã. Rất có thể Plutarque chống Portique (tên khác của chủ nghĩa Khắc kỷ) ở mặt lý thuyết, vì ông là môn đệ của Platon, nhưng những biểu hiện thực tế của triết học này lại không hoàn toàn nằm trong phạm vi đối tượng phê phán của ông. Ngay cách sống của Plutarque cũng thiên về khắc kỷ, lấy thanh bạch làm vui, và ông cũng ca ngợi vua Numa vì đã chọn cách sống đó (xem Numa).

Plutarque còn khá gần với Aristote chứ không chỉ Platon. Cả hai đều nghĩ một thành phố có hai lối sống: hoặc hướng đến phúc lợi công cộng, hoặc chỉ chăm chăm quan tâm đến quyền lợi của những kẻ cai trị, và qua đó mà có chế độ quý tộc hay chế độ dân chủ, có vương quốc hay có chế độ bạo chúa. Con người chịu ảnh hưởng của quy định tự nhiên, giáo dục, di truyền, nhưng vẫn có khả năng lựa chọn, và thông qua lựa chọn đó mới trở thành con người mà anh ta trở thành, nghĩa là con người phải chịu trách nhiệm về hành động của anh ta, không thể có thái độ “ngụy tín”. Đọc các phần so sánh của Plutarque trong Những cuộc đời song hành, ta sẽ thấy quan điểm này được thể hiện rất rõ.

Tác phẩm lớn thứ hai của Plutarque ngoài Những cuộc đời song hành và cũng tương đương về tầm vóc với tập tiểu sử là Moralia (Tác phẩm Luân lý) tập hợp các bài luận của Plutarque, danh sách thứ tự do Henri Estienne lập ra vào năm 1572 khi học giả người Pháp san định, chỉnh lý tác phẩm của Plutarque, trong đó có 78 bài luận gồm nhiều loại, mà Konrat Ziegler đề nghị chia thành 11 mục, số lượng lớn nhất thuộc mục các tác phẩm có tính luân lý – giáo dục (33 bài, trong đó có Về giáo dục trẻ con, Làm thế nào để tự coi trọng mình…); chiếm số lượng lớn nữa còn có các tác phẩm về chính trị, triết học và thần học. Ước tính ông đã viết tất cả các bài luận này trong vòng nửa thế kỷ, từ năm 72, dưới thời hoàng đế Vespasien, cho đến năm 126, thời Hadrien.

Trong phạm vi khảo sát Plutarque với tư cách một nhân vật dung hòa hai nền văn hóa Hy Lạp và La Mã, chúng tôi chỉ đặc biệt lưu ý bạn đọc hai bộ phận của Moralia: những bài luận được xếp dưới cái tên Những lời dạy chính trị với những bài như Làm thế nào để phân biệt kẻ phỉnh nịnh và bạn bè (bài 4), Làm thế nào để thu lợi từ kẻ thù (bài 6) hay Dành cho nhà cai trị ít học (bài 50). Đây là một bộ giáo khoa thư đầy tính thực hành về các hoạt động chính trị, thể hiện sự hiểu biết sâu sắc đời sống chính trị La Mã của một người Hy Lạp. Bộ phận thứ hai của Moralia quan trọng theo cách nhìn này là hai tập sách nhỏ Những câu hỏi Hy Lạp và Những câu hỏi La Mã. Cả ở đây nữa, Plutarque cũng đặc biệt quan tâm đến những chi tiết vụn vặt. Ông tự đưa ra những câu hỏi rồi trả lời luôn về phong tục tập quán Hy Lạp và La Mã, từ chuyện tại sao phụ nữ La Mã bị cấm uống rượu vang cho đến chuyện tại sao người ta lại bắt phụ nữ La Mã khi lấy chồng phải chạm tay vào lửa và vào nước, hoặc tại sao các cô gái trẻ vùng Bottie lại có tục nói “Đi đến Athènes thôi” khi họ nhảy múa. Cách trả lời những câu hỏi này của Plutarque cũng hết sức độc đáo, nhiều khi ông không trả lời trực tiếp mà chỉ đặt ra những giả thuyết khác nhau, dưới dạng những câu hỏi nhỏ.

Một người Hy Lạp quan tâm nhiều đến chi tiết hơn toàn cục như vậy là một sự lạ, mà theo chúng tôi là kết quả của quá trình tiếp xúc sâu sắc với văn hóa La Mã, bởi chúng ta đã biết tinh thần duy lý của người Hy Lạp thường hướng họ suy nghĩ đến những vấn đề phổ quát, nền tảng hơn là đến chi tiết vụn vặt. Chúng tôi cũng nghĩ qua những gì thể hiện ở văn bản như vậy, Plutarque có phẩm chất của một nhà văn lớn hơn rất nhiều so với phẩm chất của một triết gia hoặc sử gia, hay thậm chí nhà luân lý. Không khó hiểu khi sau này, Montaigne, nhà văn Pháp kiệt xuất, sẽ xem Plutarque là thầy của mình và sẽ học cách viết về những điều nhỏ bé, suy tư từ những chi tiết của đời sống hoặc của lịch sử (với trường hợp Montaigne, ảnh hưởng của Moralia rõ ràng lớn hơn ảnh hưởng của Những cuộc đời song hành). Lý do này cũng khiến chúng tôi tìm ra điểm tương đồng ở chiều sâu giữa Plutarque và Jean-Jacques Rousseau, người mà chúng tôi trích dẫn một đoạn văn trong tác phẩm Tự thú ở ngay đầu Lời giới thiệu này. Vì coi Plutarque trước hết là một nhà văn như vậy, chúng tôi chủ trương dịch Những cuộc đời song hành với ý thức bảo vệ tối đa giọng văn của ông, hành văn của ông, vì di sản quý giá nhất của nhà văn để lại không hẳn là nội dung tác phẩm của họ, mà có lẽ quan trọng hơn cả là một giọng điệu, một phong cách, một quan điểm văn chương.

Có một thời gian dài ở quãng “đêm trường Trung Cổ”, tác phẩm của Plutarque rất hiếm khi được đọc (đó cũng là tình hình chung của các trước tác Hy Lạp – La Mã, trong hoàn cảnh Giáo hội Thiên chúa đang khẳng định sự tồn tại và lớn mạnh của mình, không chấp nhận chia ảnh hưởng với các nguồn văn hóa, văn minh khác). Nhưng kể từ khi sách của Plutarque được dịch ra các thứ tiếng khác (bản dịch Những cuộc đời song hành quan trọng đầu tiên là bản tiếng Pháp của giám mục Amyot; Amyot năm 1559 cũng chính là người sau đó sẽ dịch Moralia), người ta bắt đầu nhận ra tầm vóc của một nhà văn lớn đang bị lãng quên. Kể từ TK XVI, ở trường học người ta dạy tác phẩm của ông, và ông nhanh chóng trở thành một tác gia kinh điển. Bộ Những cuộc đời song hành được đánh giá cao vào thời này còn vì nguyên nhân truyền thống giáo dục của thời Phục Hưng là truyền thống nhân văn, sử dụng cổ văn học (humanités), cho học sinh đọc sách cổ bằng nguyên bản, nhất là đọc về các tấm gương, để rồi sau đó học tập về đức hạnh và tránh xa những thói xấu; những tấm gương, bài học như thế hoàn toàn không hề thiếu trong tác phẩm của Plutarque.

Việc phổ biến Plutarque còn được hưởng lợi từ các trường học thuộc dòng Jésuite, những người xây dựng nên cả một tập hợp trường trên phạm vi quốc tế hồi cuối TK XVI, dù đó không phải là ý muốn của Ignace de Loyola, người sáng lập dòng tu. Ngay trong chương trình học đầu tiên của phái Jésuite, Ratio studiorum, ấn định năm 1586 và in năm 1599, Plutarque có vị trí chính thức trong chương trình giảng dạy, và ông cũng thuộc các tác giả trong danh sách rút gọn cho lớp đệ nhị, gọi là lớp “cổ văn học”. Nhưng thời đó ông không có tên trong chương trình giảng dạy của Đại học Paris cải cách, năm 1598.

Vào TK XVII, Plutarque vẫn nhận được sự ưu ái của phái Jésuite. Ở lớp cổ văn học, Fontenelle đã đọc Plutarque và trước đó, Corneille (đều ở trường dòng Rouen). Thời Louis XIII và Louis XIV, thời có bầu không khí anh hùng và tiểu thuyết đậm nét, Plutarque rất nổi tiếng, chẳng hạn Madame de Scudéry, nhà văn diễm tình, là độc giả hết sức say mê ông. Sang thế kỷ Ánh sáng, dù tiếng Latin thắng thế, và tiếng Pháp được đưa vào dạy, Plutarque vẫn có tên trong chương trình của phái Jésuite. Các trường khác cũng nhanh chóng bắt chước, và Plutarque được đọc trên diện rất rộng.

Rồi Plutarque dần xâm nhập đại học: bắt đầu có mặt lẻ tẻ ở TK XVII, sang TK XVIII tác phẩm của ông đã chính thức có tên ở vị trí quan trọng trong chương trình học của đại học Paris. Mãi đến TK XIX, Michelet, sử gia nổi tiếng của Pháp, còn viết luận án về Plutarque.

Để tìm xem dấu vết của Plutarque ở thời đại của chúng ta, không gì hơn là đọc ý kiến của các sử gia hiện đại. Chẳng hạn sử gia nữ Mona Ozouf của Pháp trong công trình tập thể Những di chỉ của ký ức [26] viết bài “Pathéon (sic), trường sư phạm của những người chết” [27] có viết một đoạn về Plutarque, mà ta có thể coi là cách đánh giá hàn lâm hiện đại về nhà văn Hy Lạp, khi Ozouf bàn về ký ức về các vĩ nhân, sau khi dẫn lời nhà văn Madame de Staël rằng tất cả các vĩ nhân “đều là đồng bào”: “ Nếu nội hàm hiếu cổ vẫn luôn luôn rất đậm trong các định nghĩa ấy thì Phutarque (sic), như La Font de Saint Yenne [28] đánh giá, thừa đủ để nuôi cảm hứng cho “tất cả các cây bút vẽ của châu Âu”. Người ta sẽ thấy nẩy nở những “Phutarque (sic) Pháp”, Voltaire khi viết Adélaide du Guesclin [29] , đã tuyên bố rằng ông đề cập một đề tài Pháp, Louis XVI tán thành ý muốn của D’Angivillier [30] cho thực hiện “những hình ảnh các người Pháp (sic) lừng danh thuộc các loại (sic)”.

*

Jean-Jacques Rousseau không phải là người duy nhất ngưỡng mộ Plutarque. Denis Diderot, một người bạn lớn của Rousseau, cũng là một trong những nhà tư tưởng chuẩn bị cho Cách mạng Pháp 1789, từng viết: “Khi tôi chạm tay vào những mảnh tro tàn của ông già Plutarque, có một hòn than dịu dàng sưởi ấm tôi”. Plutarque lay động, sưởi ấm và thúc giục người đọc của ông; người ta không thể đọc ông mà không thấy bầu nhiệt huyết dâng trào. Không chỉ ngưỡng mộ suông, Diderot còn muốn biến tác phẩm của Plutarque trở thành sách giáo khoa cho học sinh, để lan rộng hơn nữa sức ấm áp của hòn than đó; khi lập dự án giáo dục cho Nữ hoàng Nga Catherine II, Diderot đã đưa Plutarque vào chương trình học “lớp tám” (tác phẩm Dự án một trường đại học).

Quay trở về với Rousseau và Diderot cũng đồng nghĩa quay về với truyền thống nhân văn chủ nghĩa bắt đầu từ thời Phục Hưng. Tuy rằng chủ nghĩa nhân văn không phải là nguồn duy nhất của văn học, nhưng văn học theo chủ nghĩa nhân văn luôn mang trong mình giá trị tự thân, luôn lấy mục đích hướng tới chân-thiện-mỹ làm trọng. Và ở ngọn nguồn của chủ nghĩa nhân văn Tây phương đó là một chùm những vì tinh tú thời Hy Lạp – La Mã, những vì sao không ngớt truyền thêm ánh sáng cho hiện tại. Trong chùm sao đó, dĩ nhiên có ngôi sao hiền hòa Plutarque, nhà hiền triết xứ Chéronée.

Tháng Tám năm 2005


[1]Phạm Duy Khiêm là người Việt Nam đầu tiên đỗ bằng tú tài ngành văn chương cổ điển (bac classique). Ông nhận học bổng sang Pháp học dự bị tại trường Louis-le-Grand trong ba năm, sau đó thi đỗ vào trường Sư phạm phố Ulm, và cũng là người Việt Nam đầu tiên vào được trường này. Năm 1935, ông nhận bằng thạc sĩ giáo dục ngành ngữ pháp học (agrégation de grammaire). Tác phẩm chính: Việt Nam văn phạm (cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, Tân Việt 1941), Légendes des terres sereines (Huyền thoại vùng thanh lãng, Taupin 1943) và Nam et Sylvie (Nam và Sylvie, Plon 1957).
[2]Kịch Xôphôclơ, tuyển tập, NXB Văn học, 1985, Nguyễn Giang dịch, Hoàng Trinh giới thiệu, gồm ba vở Antigone, Oedipe vua và Électre. Dịch theo bản Théâtre de Sophocle của Robert Pignarre, Garnier Frères, 1958, bản song ngữ Hy Lạp – Pháp.
[3]Trong dòng này có lẽ nên kể đến tiểu thuyết Xpác-ta-cút của Ra-pha-en-lô Giô-va-nhô-li do Phan Ngọc dịch từ bản tiếng Nga kèm với một lời giới thiệu khá tỉ mỉ của dịch giả – NXB Lao động, 1982.
[4]Lần in đầu tiên của Thần thoại Hy Lạp, bản Nguyễn Văn Khỏa có lẽ là vào năm 1983 – NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Trong điều kiện ngành văn bản học và lưu trữ Việt Nam chưa thực sự phát triển, chúng tôi không dám hoàn toàn chắc chắn về thời gian ra đời của một số bộ sách.
[5]Êđip làm vua, Xôphôclơ, NBX Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1984, Hoàng Hữu Đản dịch, Nguyễn Văn Khỏa giới thiệu.
[6]Có thể kể cuốn Kịch Ơripit, NXB Văn học, 1986, Nguyễn Giang và Nguyễn Trác dịch, Nguyễn Trác giới thiệu, gồm ba vở: Iphigénie ở Aulis, Iphigénie ở Tauride và Médée.
[7]Tôn Gia Ngân, Bi kịch cổ điển Pháp, NXB Văn hóa, 1978, gồm hai bài nghiên cứu của Tôn Gia Ngân mở đầu, phần sau là bản dịch hai vở kịch của Corneille (Le Cid và Horace) và hai vở kịch của Racine (Andromaque và Britannicus), với sự cộng tác về dịch thuật của Hoàng Hữu Đản. Hoàng Hữu Đản cũng là người dịch Tuyển tập kịch P. Cornây, NXB Sân khấu, 1987, gồm Le Cid, Horace và Polyeucte.
[8]Sđd, tr. 10.
[9]Cả hai đều của NXB Văn học, 1982. Phan Thị Miến dịch từ bản tiếng Pháp của Eugène Lasserre, Hoàng Thiếu Sơn giới thiệu.
[10]Anh hùng ca Iliade, NXB Văn học, 1997, 2 tập, Hoàng Hữu Đản dịch, chú thích và giới thiệu toàn văn; Anh hùng ca Odyssée, NXB Văn học, 2000, Hoàng Hữu Đản dịch toàn văn, chú thích và giới thiệu. Trong lời giới thiệu bản dịch Iliade, nhà nghiên cứu Hoàng Hữu Đản đã kể lại “hành trình Odyssée” để tìm cách in được bản dịch đồ sộ của mình. Ông đã đi khắp các nhà xuất bản tại Việt Nam nhưng không nơi đâu muốn nhận làm cho ông. Thật trớ trêu và nghịch lý vì một cuốn sách quan trọng và cần thiết cho Việt Nam như vậy lại phải nhờ đến một vị Mạnh Thường Quân người Pháp làm giám đốc một hãng nước ngọt ở Việt Nam bỏ tiền cho in, trong khi tất cả các nhà xuất bản khác đồng loạt nhắm mắt làm ngơ.
[11]Nguyễn Văn Khỏa, Anh hùng ca của Homerơ, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1978.
[12]Sđd, tr. 6.
[13]Ở Sài Gòn trước năm 1975, công việc nghiên cứu và dịch thuật trước tác của Platon và Aristote được thực hiện tốt hơn. Chúng tôi được biết sự tồn tại của hai bản dịch tác phẩm Platon, Gorgias hay kháng biện luận về tu từ pháp, Bộ Quốc gia Giáo dục, 1960 và Phédon hay khảo về linh hồn: theo thể luân lý, Trung tâm học liệu, Bộ văn hóa giáo dục và thanh niên, có lẽ cũng năm 1960; cả hai cuốn sách này đều do dịch giả Trịnh Xuân Ngạn dịch. Về phần Aristote, đã được dịch ít nhất cuốn Đạo đức học của Nicomaque, không rõ NXB, 1974, Đức Hinh dịch. Thực ra có thể hiểu tên sách của Aristote theo hai cách: nếu coi Nicomaque là người san định sách này thì nó sẽ có tên Đạo đức học của Nicomaque, nhưng nếu coi đây là cuốn sách mà Aristote tặng lại cho con trai Nicomaque của mình thì sách phải tên là Đạo đức học cho Nicomaque.
[14]Tài liệu mà chúng tôi sử dụng là bộ sách Thượng Chi văn tập gồm 5 tập, do Bộ Quốc gia Giáo dục tái bản lần thứ nhất năm 1962 (bản đầu tiên in năm 1943), tập hợp các bài báo mang nhiều tính học thuật đã được Phạm Quỳnh đăng trên Nam Phong từ năm 1917 đến năm 1922.
[15]Sđd, tập I, bài “Hội Hàn lâm nước Pháp”, trong đó (tr. 109) Phạm Quỳnh viết “Người Hy-lạp ngày xưa, nhất là người thành Nhã-điển (Athènes), rất ham văn-chương, mà văn-chương của họ sáng-sủa mát-mẻ như khí trời đất Hy-lạp. Văn-chương nước Pháp ngày nay cũng có cái khí-vị đó, và người Pháp thường được gọi là người Nhã-điển thời nay. Người Pháp lại còn giống người Nhã-điển về cái thói-cách phong-nhã nữa, mà thói-cách phong-nhã ấy tức là kết-quả của văn-học nước Pháp.” Rõ ràng là với phong thái của một nhà bác học ưa tìm hiểu vấn đề đến tận gốc rễ, Phạm Quỳnh luôn hướng sự khảo cứu của mình đi ngược thời gian xa nhất có thể được, để tìm nguyên nhân của vấn đề ở trong lịch sử.
[16]Sđd, tập IV, từ tr. 255 đến tr. 283.
[17]Sđd, tập V, từ tr. 55 đến tr. 81.
[18]“Bàn về diễn thuyết”, tr. 258.
[19]Bđd, tr. 258, 259.
[20]Bạn đọc sẽ dần nhận ra, trong bản dịch, những chỗ Plutarque thể hiện khả năng hạn chế về hiểu biết tiếng Latin.
[21]Chéronée là thành phố nhỏ ở phía Tây Béotie; theo người địa phương thành phố được các di dân người Thessalie lập ra. Hai trận đánh lớn từng diễn ra ở đây: năm 340 giữa Macédoine và Athènes xảy ra chiến tranh, Démosthène lôi kéo được Thèbes làm đồng minh cho Athènes và năm 338 trận đánh nổ ra ở quê hương Plutarque: Philippe và Alexandre khi đó chỉ huy kỵ binh chiến thắng vang dội, được coi như là thời điểm bắt đầu của sự thống trị Macédoine tại Hy lạp; sau đó bốn thế kỷ, vào năm 86 tr. CN, có trận đánh giữa Mithridate, vị vua Hy Lạp cuối cùng mà quân đội có thể cầm cự được với người La Mã, nhưng danh tướng Sylla La Mã đã giành chiến thắng. Như vậy quê hương bé nhỏ của Plutarque từng phải chứng kiến hai thất bại thảm hại của người Hy Lạp.

[22]Cái tên “Achaïe” về đại thể là tên tỉnh thuộc La Mã, gồm toàn bộ Hy Lạp.
[23]Marguerite Yourcenar, Mémoires d’Hadrien: viết năm 1951, Hồi ký Hadrien là một tác phẩm độc đáo về thời kỳ huy hoàng bậc nhất của Đế chế La Mã. Chính đề tài thuộc loại “nghiêm túc” và khó khăn, cùng cách xử lý vấn đề lịch sử tài tình đã khiến Yourcenar được coi là nhà văn hàng đầu của Pháp, và trở thành thành viên nữ đầu tiên của Viện Hàn lâm Pháp (năm 1980).
[24]Dĩ nhiên là rất khác so với tác phẩm Cộng hòa của Platon, người thầy mà Plutarque ngưỡng mộ.
[25]Xem đoạn sau để biết thêm về tác phẩm Moralia.
[26]Nguyên bản: Les Lieux de mémoire, do Pierre Nora chủ biên, thực hiện từ 1981 đến 1992, tập hợp hơn 50 nhà sử học hàng đầu của Pháp, viết về ký ức của dân tộc, với sự phân biệt giữa ký ức và lịch sử. Bản dịch tiếng Việt: Những di chỉ của ký ức, NXB Đà Nẵng, 2003 (trích dịch một phần), Vũ Cận, Nguyễn Kiên, Mai Luân, Đỗ Ngọc Quỹ dịch, Đào Hùng hiệu đính.
[27]Nguyên bản tiếng Pháp: “L’École Normale des morts”. Đây là một sự chơi chữ khá tinh tế: sở dĩ Mona Ozouf viết như vậy là vì trường Sư phạm phố Ulm nằm ở phố Ulm đâm vào hông điện Panthéon; trong Panthéon lại quàn rất nhiều người là cựu học sinh của trường; thêm vào đó, ý bài này của Ozouf là muốn chỉ ra điện Panthéon mang nặng ý nghĩa giáo dục cứng nhắc (didactique) chứ không thật sự là đại diện cho trí tuệ Pháp. Bản dịch tiếng Việt gần như không có chú thích nên rất nhiều chỗ gây khó hiểu một cách không cần thiết.
[28]Nhà văn TK XVIII, đồng thời là nhà phê bình nghệ thuật, chê trách sự suy đồi của hội họa thời đó, muốn hướng các họa sĩ Pháp về với truyền thống nghiêm túc của lịch sử.
[29]Vở bi kịch năm hồi của Voltaire; trong bản dịch không in nghiêng với tư cách tên một tác phẩm.
[30]Có lẽ là d’Auvigny, người vào năm 1739 cho in ở Amsterdam một cuốn sách mang tên Đời các nhân vật kiệt xuất của Pháp.

 
© talawas 2026