Giữa những năm 50 thế kỷ trước, ta thường chiếu phim Trung Quốc. Nhõn một bộ Bạch Mao nữ đem lại chút thương cảm, tạm chấp nhận được, mặc dù vẫn chưa phải là phim ảnh đúng đẳng cấp. Ngoài ra, chẳng có phim nào đáng là phim. Nói thật lòng, thấy xấu hổ khi coi những phim đó là nghệ thuật xã hội chủ nghĩa. Hồi đó có câu chuyện rất thú vị về bộ phim chiếu đi chiếu lại tên là Nam chinh Bắc chiến.
Chuyện thế này. Đoàn chiếu phim lưu động phục vụ bà con bộ phim Nam chinh Bắc chiến. Bà con khoái lắm, cứ thấy “bộ đội” bắn súng là vỗ tay hoan hô rầm rầm. Ông thuyết minh đã phải hướng dẫn như sau: “Đồng bào chú ý, quân địch đội mũ sắt, quân ta đội mũ vải, đồng bào không được hoan hô bọn mũ sắt.” Đến giữa buổi, thuyết minh như sau: “Đồng bào chú ý, quân địch đội mũ sắt, quân ta bây giờ thắng lớn cũng đội mũ sắt, đồng bào cẩn thận đừng nhầm, tôi bảo hoan hô mới được hoan hô.”
Xong buổi chiếu phim, trẻ em cả xã rủ nhau ngủ lại bãi chiếu phim, dưới chỗ căng màn hình. Cán bộ đến bảo các em về nhà ngủ kẻo sương gió, thì các em từ chối. Gặng mãi, các em mới nói: “Ngủ lại để sáng mai nhặt cát tút, bây giờ tối quá không nhìn thấy gì cả”.
“Cát tút” nghĩa là vỏ đạn!
*
Chuyện đó cơ hồ như đã thành “ngày xưa”. Cái hiểm hoạ của sự ăn uống xam xưa mang lại hậu quả trong khẩu vị công chúng. Truyện trên có thể rất tiếu lâm. Nhưng sau đây là một chuyện có thật. Đầu năm 2000, một cô nghiên cứu sinh sắp nhận bằng tiến sĩ khoa học xã hội và nhân văn hỏi tôi như sau: “Phim tâm lý xã hội là gì?”
Tôi nói không có khái niệm đó, nhưng cô không nghe. Tôi phải cố giải thích cho cô bạn sắp đỗ tiến sĩ kia, giải thích như thế này, xin bà con kiểm tra lại xem có đúng không. Dạo mới giải phóng thủ đô năm 1955, thành phố vẫn còn những rạp chiếu phim tư nhân. Và dĩ nhiên trong kho của họ cũng còn sót lại những bộ phim mùi mẫn như Đồng lương khủng khiếp, An-na, Gia đình ruồng bỏ… hoàn toàn khác với Nam chinh Bắc chiến. Chả lẽ vứt đi à? Nhưng chiếu cách gì đây? Họ nghĩ ra một mẹo. Ở chỗ này, nếu tôi giỏi bằng chị bằng em, hẳn là sẽ có một trích dẫn Karl Marx hết sức đúng chỗ về tài năng làm sinh lợi của nhà tư bản. Các ông chủ rạp đã nghĩ ra cách gọi tên những bộ phim “lưu dung” kia là “phim tâm lý xã hội”.
Người duyệt chiếu những phim kia vào thời đó hẳn là đã được thuyết phục rồi chân thành hiểu như vậy; hoặc có khi cũng ngậm chút đạn bọc đường rồi nhắm mắt làm ngơ cũng nên; hoặc cũng rất có thể là đã xem phim trước rồi giả vờ để mình bị bịp một cách cũng chân thành? Chuyện cũ cho qua, vì cuối cùng thì cô bạn sắp đỗ tiến sĩ cũng nhận thấy rằng, có bộ phim nào thực sự hay mà lại không có tâm lý người? Và liệu có cái tâm lý người nào lại không mang tính xã hội? Bây giờ, nói đơn giản lắm: phim Mỹ, phim Đài Loan, phim Hàn quốc…
*
Thời kinh tế thị trường, cho ăn kẹo không ai dám kinh doanh chiếu phim kiểu Nam chinh Bắc chiến nữa. Tôi có lạc quan quá chăng? Rồi còn việc làm phim, liệu còn có ai đủ thông tuệ và dũng cảm để tiếp tục làm phim kiểu Nam chinh Bắc chiến? Hay là tôi vẫn còn lạc quan quá chăng?
Dẫu sao, thật đáng trân trọng và đáng nghĩ ngợi lời một người nói tới bộ phim Lọ Lem hè phố rồi gửi gắm Lê Hoàng những điều cẩn thận, gượng nhẹ, tốt đẹp: “Chúc anh cũng như các đạo diễn ta có nhiều phim thành công về mọi phương diện. Và biết lắng nghe mọi ý kiến một cách có chọn lọc để con đường mình đi sẽ nhanh chóng đến đích!” (Lao động, Chủ nhật 15-2-2004).
Chỉ có một chỗ sai trong lời chúc kia. Sai do cái nhược điểm chung của người Việt ta. Ấy là cứ nghĩ rằng hễ đã đi là một lần đến ngay đích. Quên mất rằng, vừa đi đường vừa đến đích mới là đặc trưng của loài người. Con sư tử – lấy ví dụ cho oai, thực ra con nào cũng vậy cả – cứ mỗi lần đói và gặp con mồi thì có ngay chỉ một mục đích. Con người thì khác, cái đích không hoàn toàn vì bụng đói, cái đích bao giờ cũng nhởn nhơ vẫy gọi ở cuối đường chân trời, và thường thì ta mất hút cái đích và chết dọc đường.
Cái đích của cánh khoa học tự nhiên thì rõ ràng rành mạch. Đây là một trong nhiều thí dụ. Vào tháng 11 năm 1919, Vật lý học nằm ở hàng tít lớn các tờ báo khắp thế giới. Báo Times tuyên bố: “Cách mạng khoa học – Lý thuyết mới về vũ trụ – Các tư tưởng của Newton đã bị lật nhào”. Chi vậy? Có hai đoàn nghiên cứu Anh đã đến Tây Phi và Brazil chụp ảnh nhật thực để thử nghiệm lý thuyết tương đối rộng của Einstein. Theo Einstein, trọng lực không phải là một lực xảy ra tức thời kiểu quả táo rơi xuống gốc như Newton vẫn nghĩ, mà đó là kết quả của đường cong không gian-thời gian. Những vật thể lớn, như các hành tinh, làm cho tính hình học của không gian bị vênh. Năm 1911 Einstein bảo các nhà thiên văn hãy nhân hiện tượng nhật thực để thử nghiệm điều ông kết luận, “các tia sáng đi ngang gần mặt trời sẽ bị trường trọng lực làm cho thiên lệch đi”. Người Anh vào ngày 6 tháng 11 năm 1919 đã công bố được rằng ánh sáng từ những ngôi sao bị mặt trời làm cong đi: thế là lý thuyết của Einstein đã đúng. Để chứng minh chỉ một bước đi gần đến đích của Einstein, các nhà bác học mất gần chục năm, dẫu sao vẫn vừa đi vừa đến gần tới đích. Tám năm còn hơn không bao giờ.
Tôi không dám hỗn với Einstein, và không thể và cũng không bao giờ đem Lọ Lem hè phố của Lê Hoàng đọ với thuyết tương đối. Nhưng có thể đọ cái tinh thần tự do trong ý chí của hai kẻ dám làm một công việc sáng tạo. Để chứng minh Einstein đúng, cần gần chục năm. Để chứng minh Lọ Lem không sai, cần bao nhiêu thời gian?
*
Mà hà cớ gì phải chứng minh Lọ Lem không sai? Lọ Lem hè phố đem đến cho công chúng một cảm nhận về cuộc đời. Khác với chân lý khoa học, cảm nhận chủ quan có thể rất khác nhau giữa mọi con người, và đó cũng là cái tạo nên sức mạnh của nghệ thuật.
Rất nhiều khi, cùng xem một chi tiết, mà vẫn cứ có những cảm nhận khác nhau. Chẳng hạn, khi cô bé giả nai không biết đi giày cao gót, có nhiều “nhà” dè bỉu là “không thật”, ấy vậy mà có người lại bênh rằng thì là nó đóng vai không biết đi giày thế mới khéo chứ? Chuyện khác nữa, như cá nhân tôi đây thật chẳng có chút phản ứng gì về việc anh ca sĩ trên phim ký tặng “ăn-bom” của chính anh ca sĩ ngoài đời; chi tiết sơ xuất ấy không tác động gì hết đến cái tình tiết không thể thiếu của tác phẩm là cảnh đăng quang của anh ca sĩ trẻ. Chưa kể là xem phim không giống đọc sách, có bao nhiêu người cần giở lại trang trước xem tên tác giả “ăn-bom” là ca sĩ nào?
Điều quan trọng ở tác phẩm là cái thông điệp toát lên từ ẩn dụ. Muốn tìm thông điệp, hẳn là không bao giờ chỉ thấy những hình ảnh trên phim (trong tác phẩm nói chung) là những cái có thật trần trần. Chẳng ai non nớt đến thế nữa. Riêng tôi khi xem Lọ Lem hè phố thấy rờn rợn khi nhìn cái cô gái gì đó trên màn hình cãi cọ với đồng nghiệp rồi chỉ tay nói lớn điều gì đó đại ý “Ta là điếm đấy, và mi cũng là điếm kém gì”… Đại khái thế thì phải, và thế mới chính là thông điệp, vì nó bất chợt buộc ta giật mình. Cái chữ “điếm” ở đây đã được định nghĩa lại: sự thiếu chân thành, sự giả dối, sự thiếu liêm sỉ. Chả biết trong đời mình có lúc nào không yêu vẫn cứ nói yêu, căm ghét vẫn xưng xưng những chung thuỷ suốt đời mãn kiếp không nhỉ?…
Các nghệ sĩ, những người sáng tạo ra những thông điệp chủ quan trong lòng người, cần con đường dài hơn so với những nhà khoa học tự nhiên. Để mình được rèn giũa cách biểu đạt. Vì con đường đi tìm cách biểu đạt của nghệ sĩ thực quả có gian khổ hơn các nhà khoa học tự nhiên. “Hoàn cảnh” lắm đấy!
Tôi biết rõ nhà văn Nguyễn Xuân Khánh vẫn tiếc rẻ rằng, giá như Hồ Quý Ly của anh in ra trước đây mười năm thì chắc chắn anh sẽ có những tập tiếp theo đẹp hơn tập thứ nhất đó. Song với nghệ sĩ thì trong cái dở đôi khi cũng có cái hay: Nguyễn Xuân Khánh đang viết lại bộ tiểu thuyết Làng nghèo mà cách đây bốn chục năm cứ bị một bạn đọc đầu tiên tinh nghịch trêu hoài… Trong lúc chờ đợi viết xong bộ ba kia, anh đã gửi dự thi tiểu thuyết viết xong từ giữa những năm 1980 có tên Trư cuồng với một niềm tin thành thực: nhà văn, nghệ sĩ cần đem tác phẩm vào đời càng nhanh càng tốt. Mỗi lần cho tác phẩm mình ra mắt công chúng, là một lần vừa đi vừa đến đích.
Cầu trời cho mình không ngã gục trước khi đến chốn xa xăm đầy ảo ảnh ấy.
Biệt thự Thu Trang, 17.2.2004