trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
8.4.2003
Umberto Eco
Làm gì với những người tiền-Adam đây?
 

Tôi từng nói ngay từ lúc khởi đầu mục báo này, đã được 18 năm, rằng không nhất thiết mình sẽ bàn đến những đề tài thời sự – nghĩa là, nếu vào một buổi tối nào đó xảy đến cho tôi cái việc đọc lại một khúc của trường ca Iliade, có lẽ tôi sẽ xem những suy nghĩ mà khúc ca gợi cho tôi như chuyện thời sự.

Và thế là, trong khi cơn lốc chiến tranh đang khuấy động thế giới, tôi tìm được trong danh mục của một hiệu sách cổ, một quyển sách nhỏ mà từ lâu tôi có ý tìm và đánh giá là không thể tìm được. Không thể tìm được, bởi vì, rồi chúng ta sẽ thấy, tác phẩm này đã từng bị xử thiêu, và xử thiêu cũng là cái mà tác giả mang hiểm họa, và tôi tưởng tượng rằng cả tác giả lẫn ông chủ nhà in đã phải vội vàng biến nhẹm những ấn bản có trong tay. Tôi đã tìm được nó với một cái giá gần như không thể không mủm mỉm, chẳng phải vì người bán sách cổ không biết đến sự hiếm quí của nó, nhưng bởi đây là một quyển sách khiêm tốn với kích thước nhỏ bé, chẳng chút thú vị về khoa trình bày hình họa và sắp chọn chữ in, rồi chẳng ai (trừ vài vị học giả) phải chết mê vì cái ham muốn được tiếp đãi nó trong những kệ sách của họ.

Quyển sách là sự thu nhặt của hai bản luận văn nhỏ, “Prae-Adami-tae” (Người tiền-Adam) và Systhema theologicum ex praeadamitarium hypothesis” (Hệ thống Thần học theo giả thuyết tiền-Adam), được một người Tin Lành, Isaac de la Peyrère xuất bản vào năm 1655. Thế thì tác giả của nó đã nói lên điều gì khác thường đến nỗi ông ta phải tự buộc mình, để bảo toàn mạng sống, trở thành người Cơ Ðốc và tuân phục Giáo Hoàng?

Lúc ấy là thời đang nở rộ của những khảo cứu về một thứ ngôn ngữ mẹ ở ngọn nguồn của mọi nền văn minh, thông thường được đồng nhất với tiếng Do Thái của Adam, nhưng cùng lúc, ở thời điểm chỉ cách cái việc khám phá ra Châu Mĩ được một thế kỉ rưỡi, những tin tức về các dân tộc xa xôi kéo về ngày càng phong phú, đó là chưa kể đến những kết quả của những cuộc thăm dò và du hành khác, ngày càng thường hơn, ở những xứ sở lạ lùng khác, gồm cả Trung Quốc. Rồi trong những môi trường tư tưởng “libertini” (phóng khoáng / phóng túng) đang có sự gầy dựng một giả thuyết gắn với Epicure[1] (thư gửi Herodote[2]) và sau đó được Lucrèce[3] lấy ra dùng, ở đó ông nói rằng những danh xưng không phải được đề ra một lần cho tất cả, trong một ngôn ngữ đặc quyền vào lúc khởi đầu của thế giới, nhưng chúng tùy thuộc vào cái đa dạng mà qua chúng, các chủng người khác nhau đã phản hồi trước những kinh nghiệm hết sức riêng biệt, đích thực là của họ. Như thế, những giống người khác nhau đã khởi sinh, trong những phương thức và thời gian khác nhau, ra các hệ phả ngôn ngữ (và văn hóa) khác nhau.

Và thế là, có sự xuất hiện lời đề nghị của Isaac de La Peyrère, người phái Calvin, mà trong quyển sách của mình, khi giải thích, trong một phương thức chắc chắn là gây bàn cãi, một số văn bản kinh thánh (vì ông phải tìm cho được những mảng hỗ trợ chính thống cho luận đề của mình, dù nó có dị thống thế nào), ông đề xuất ý niệm về một tính cách đa căn nguyên cho các dân tộc và các chủng tộc. La Peyrère nhận biết là những biên niên trong kinh thánh, với khoảng thời gian từ 6 ngàn năm nay, hoặc từ thuở bắt đầu của thế giới, quả là quá bó hẹp so với những biên niên của người Caldea (thuộc Babylonia, nam Irak hiện nay – ND), của người Aztèques, của người Incas và của người Trung Quốc, đặc biệt là những cái liên hệ đến những câu chuyện kể về nguồn gốc của thế giới. Thế nên, hẳn là phải có một nhân loại tiền-Adam. Nhưng nếu sự thể là thế, nền văn minh này (mà ông đồng nhất với cái của những người Thanh lịch, nhưng có thể được đồng nhất với những chủng tộc khác) không thể đụng chạm bởi tội tổ tông, thế rồi cả tội tổ tông lẫn cơn hồng thủy là chỉ liên quan đến Adam và hậu bối trên mảnh đất Do Thái. Mặt khác, giả thuyết đã từng xuất hiện trong môi trường Hồi Giáo, và đang được xử lí một cách kĩ lưỡng trong kinh Koran, ở thế kỉ thứ mười Al Maqdisi đã nhắc đến sự tồn tại của những con người khác trên quả đất trước khi có Adam.

Người ta hiểu rằng lời đề nghị biết bao là dị giáo. Nó đặt vấn đề với cơn đại hồng thủy, vì rằng nếu trên thuyền chỉ có những người thân của Noê được cứu rỗi, thì cơn đại hồng thủy đã tiêu diệt tất cả các chủng người khác, vậy mà họ vẫn tiếp tục sinh sôi nẩy nở; nhưng lời đề nghị cũng đặt nghi vấn tính trung tâm, trước lịch sử loài người, của cuộc thương khó của Chúa Ki-Tô. Chỉ một bộ phận nhỏ của nhân loại đã phạm phải tội tổ tông cho nên, để được cứu rỗi, họ phải cứu chuộc. Ðại để, sáu ngàn năm lịch sử thiêng liêng đã được rút lại thành một tai biến nho nhỏ vùng Ðịa Trung Hải. Có gì mà phải thiêu với đốt.

Người ta có thể ghi nhận là từ luận đề của La Peyrère có ai đó có thể đưa ra một diễn giải phân biệt chủng tộc khi nghĩ rằng những người tiền-Adam của họ là những dân tộc cao đẳng so với chủng tộc Do Thái. Nhưng thật ra, La Peyrère đứng ở vị trí đối nghịch, hết sức thú vị và rộng mở mang tính cách tôn giáo toàn thế (ecumenical) so với truyền thống Do Thái. Ðơn giản, ông đang sắp sửa hoàn thành một thao tác chống-chủ nghĩa sắc tộc-trung tâm, trong lúc tìm cách chứng tỏ rằng vũ trụ-nhân gian, và nền văn minh, không chỉ là “chúng ta”, mà còn là “kẻ khác”, những kẻ mà, ngược lại, đã có nhiều lịch sử hơn nền văn minh Do Thái – Thiên Chúa Giáo.

Và thế là, cái ngẫu nhiên của sự khám phá lại nho nhỏ của tôi cũng vén mở, nếu không chút ít tình cờ, thì ít ra cũng mang ý trời nhiều hơn cái tôi tin lúc ban đầu, hôm nay, lần nữa, chúng ta lại để cho bị quáng mù bởi ý tưởng về một cuộc thánh chiến chống lại ai đó trong chúng ta (chúng ta nghĩ) có ít lịch sử và ít tước quí tộc hơn. Về những minh chứng của ông, La Peyrère hầu hết đã nhầm lẫn, nhưng, về tinh thần cởi mở trước các nền văn minh khác, con người bị hãm hại khốn đốn này, và quyển sách nhỏ bị đối xử hết sức tồi tệ của ông, vẫn khiến chúng ta phải suy nghiệm.


[1]Epicure (341-270 TCN), triết gia Hi-Lạp, sáng lập trường phái Epicure.
[2]Herodote (484-425 TCN), sử gia Hi-Lạp, được Ciceron xem là “người cha của sử học”.
[3]Lucrèce (k.98-55 TCN), nhà thơ Italia.

 
© talawas 2026