Cách đây hơn một năm, người quan tâm có thể thấy sự kiện thay sách giáo khoa môn Lịch sử của Nhật Bản rất ầm ĩ. Một việc như chỉ liên quan tới mấy cô cậu học trò nhỏ nhỏ xinh xinh đã ảnh hưởng tới cả quan hệ quốc gia giữa Nhật Bản và Hàn Quốc.
Nhưng đó là chuyện của xứ Nhật bản xa xôi. Bây giờ nói chuyện sách giáo khoa của Việt nam chúng ta. Ðó là chuyện mấy thầy cô giáo hễ cứ gặp nhau là lại than phiền là sách giáo khoa càng cải cách lại càng sai! Chẳng biết là có sai nhiều lắm không nhưng làm cho các thầy cô mỗi khi “không may” gặp phải một học sinh nào khá một chút thích “vặn vẹo” thì cứ lúng túng như gà mắc tóc. Nhiều thầy cô không biết giải thích thế nào cho phải, nên đành phải áp dụng “chiêu” cười cười mà rằng “thế mới tài!”. Còn giải thích cặn kẽ thì khó quá. Chả lẽ nói các tác giả sách do bị câu thúc về thời gian, cuộc sống còn nhiều khó khăn, phải đi dạy thêm nhiều, viết sách cũng chỉ như việc làm thêm thôi, cho nên sai sót là phải (xin lỗi các tác giả khác không giống trường hợp đang đề cập trong bài báo này). Còn chuyện năng lực thì khó nói lắm. Như chuyện ông Nguyễn Kế Hào*, tốt nghiệp Tiến sĩ khoa học ở Liên Xô hẳn hoi (tức là ít người nghi ngờ về chuyện có thể ông đã “mua” bằng), làm Vụ trưởng Vụ tiểu học của Bộ Giáo dục và Ðào tạo đến 10 năm mà vẫn bị một ông Thứ trưởng của Bộ này “mắng” là “kém năng lực”, mà dân ta thường nói nôm na là “dốt “.
Gần đây chúng ta đã có chủ trương lâu dài về chuyện viết sách, lại “vay nợ” được nhiều tiền để lo cho các dự án thay sách ở bậc Tiểu học và THCS. Thế mà sách viết ra vẫn không làm hài lòng những người quan tâm đến nền giáo dục của nước nhà. Ðến nỗi ông Hào phải xin từ chức để phản đối và “bị mắng” là “dốt “, mà đúng là ông “dốt thật ” về cái chuyện “chê” sách kia!
Nói sách có đôi chỗ viết sai mà không có dẫn chứng cụ thể thì thật thiếu sức thuyết phục. Nay xin nêu một vài ví dụ trong cuốn sách Vật lí lớp 6 (bản in lần đầu), được viết trong khuôn khổ Dự án Phát triển THCS.
Ðiều thấy đầu tiên là cuốn sách khá đẹp, đã tạo được một hứng thú nho nhỏ cho các em học sinh trước một môn học mới. Việc cái sự hứng thú ấy có được nhân lên hay không thì còn phụ thuộc vào chính nội dung của sách, sự hiểu biết sâu rộng ở mức cần thiết và khả năng sư phạm trong việc tổ chức giờ học của các thầy cô giáo. Ngay ở bài đầu tiên, Bài 1 – Ðo độ dài, trong mục “Thực hành đo độ dài”, các em phải đo chiều dày của cuốn sách Vật lí lớp 6. Cuốn sách dày chưa tới nửa cm, sách đề nghị cho biết nên dùng thước nào để đo chính xác. Nếu một em nào đó dùng thước vải như phần giới thiệu các dụng cụ đo của sách thì kết quả sẽ gặp sai số đáng kể và không thể chấp nhận, bởi vì chỉ cần kéo căng một chút chính cái thước ấy đã dài thêm ra vài cm. Chỉ các bà hàng xén dùng thước vải thôi, còn không ai khi cần đo những kích thước chính xác lại dùng thước vải cả. Cô giáo có thể sẽ gặp phải tình huống sư phạm đầu tiên của năm học.
Nhưng ví dụ này có lẽ cũng chẳng đáng kể gì so với một sai lầm cơ bản trong một đoạn cũng ở cuối bài học số 1 này, xin trích nguyên văn sách: “Các em có biết khoảng cách giữa Trái Ðất và ngôi sao gần Trái Ðất nhất là bao nhiêu năm ánh sáng không? Gần 4,22 năm ánh sáng.” Theo quan niệm của các em thì sao Mộc, sao Thuỷ, sao Hoả… đều là “sao” hết, mà chúng lại không cách Trái Ðất của chúng ta những 4,22 năm ánh sáng. Ðể tránh thắc mắc này cô giáo sẽ phải định nghĩa rõ “sao” chính là các thiên thể nóng sáng. Mặt Trời chính là một ngôi sao và vì thế ngôi sao gần Trái Ðất nhất chính là Mặt Trời của chúng ta. Mặt trời cách Trái Ðất 150 triệu km, nghĩa là rất gần, không thể lấy đâu ra 4,22 năm ánh sáng được. Ý tác giả muốn nói tới sao Cận tinh, nhưng ngôi sao “gần Trái Ðất” nhất thì phải là Mặt Trời, còn ngôi sao gần “hệ Mặt Trời” của chúng ta nhất mới là sao Cận tinh. Tới đây, em học sinh kiên nhẫn nhất cũng sẽ không còn tin vào sách nữa. Hứng thú ban đầu có thể sẽ tắt ngay sau giờ học đầu tiên.
Nếu vị nào thích thú thì có thể tìm thêm khoảng 46 lỗi như thế nữa. Báo Lao động vừa kể quyển Địa lí lớp 6 cũng có chừng ấy lỗi. Và còn nhiều ví dụ khác không chỉ giới hạn trong hai môn học vừa kể trên.
Ðành rằng khi viết sách phải quan tâm tới tính sư phạm nhưng đã dạy một khoa học thì kiến thức phải chính xác. Vì tính sư phạm, anh không thể nói hết vấn đề nhưng phải nói đúng. Câu chuyện “ngôi sao gần nhất” kia chắc không làm ảnh hưởng tới quan hệ quốc gia như cuốn sách Lịch sử của Nhật bản, nhưng sẽ làm mất niềm tin ban đầu của cả một thế hệ học sinh vào khoa học. Không biết cái mất này có phải là cái mất lớn không?
Việc biên soạn sách giáo khoa là một việc cực khó. Bởi lẽ tác giả không những cần hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn của mình, cũng như tinh thông về lý luận của việc viết sách, kết hợp hài hoà giữa tính khoa học và tính sư phạm, mà còn phải có cái tâm với nghề, với học trò. Ðược biết sách giáo khoa ở nước ngoài thường được viết bởi các giáo sư, viện sĩ giàu kinh nghiệm trong việc này. Thế mà vẫn thấy trong mỗi cuốn sách đó là lời cảm ơn tới hàng trăm chuyên gia đã góp ý cho sự hoàn thiện của cuốn sách. Vậy nhưng đôi khi vẫn còn có những sai sót nhỏ. Thiết nghĩ mỗi cuốn sách giáo khoa cho các em phải đẹp hoàn hảo như một công trình kiến trúc, là kết tinh của trí tuệ, của khoa học, của cái tâm người thầy. Công trình kiến trúc ấy sẽ phải kích thích được sự sáng tạo tiếp của các em, khiến các em muốn tự mình đặt bút vẽ thêm một nét vẽ lên đó. Những nét vẽ thơ ngây ngộ nghĩnh lúc đầu để rồi bắt đầu cho những nét vẽ đẹp làm rạng danh non sông Ðất Việt.
Ðể có được một công trình có ít sai sót nhất, phong phú về cách tiếp cận vấn đề nhất nên tổ chức các cuộc thi viết sách công bằng để tuyển chọn. Ðối tượng có thể là bất kỳ cá nhân, hay nhóm tác giả có cái tâm sáng của ông thầy, đủ năng lực, nhiệt tình và tất nhiên là phải có nhu cầu. Trong cuộc thi đó các tranh luận học thuật phải được tổ chức rộng rãi cho chính các tác giả và đông đảo người quan tâm. Biết đâu một thầy giáo “bình thường” ở một miền quê nào đó lại viết được những cuốn sách hay. Ðâu cần đến danh hiệu gì, hay ai đó phải công tác ở viện nọ, hội kia mới viết được. Không như bộ sách tiểu học năm 2000, chẳng thấy ông thứ trưởng phụ trách dự án tranh luận học thuật với ông Kế Hào mà chỉ thấy giơ các “hội đồng” ra để chứng minh sách viết hay, nên chẳng mấy thuyết phục. Ai để ý một tý chắc không mấy tin vào các “hội đồng” được. Một ví dụ vẫn là ông Kế Hào, năng lực “yếu kém” như thế nhưng chắc trong 10 năm làm Vụ trưởng đã không ít lần ngồi ghế các hội đồng rồi. Dư luận đã không ít lần đặt câu hỏi về năng lực và trách nhiệm của các hội đồng thẩm định. Xin mời hội đồng lên tiếng chứ thấy các tác giả sách cứ phải phân trần mãi về năng lực và tấm lòng với các cháu học sinh thấy tội quá.
Ðược biết Bộ Giáo dục và Ðào tạo sẽ có chủ trương cho các Viện, các Hội cùng viết sách rồi tuyển chọn. Nhưng nếu khi về tới Hội hay Viện rồi mà vẫn lại theo cơ chế “phân công” người viết như hiện nay thì chẳng hy vọng gì nhiều vào việc sách sẽ hay hơn. Rồi thì lại chuyện sách giáo khoa – nghe rồi, nói nữa, mệt lắm!
© 2003 talawas
Phụ lục
Trích thư của ông Nguyễn Kế Hào gửi các cơ quan hữu quan.
… Chính phủ dành cho ngành giáo dục nhiều dự án với nguồn tài chính không nhỏ, tạo cơ sở pháp lý và những điều kiện cần thiết để làm giáo dục (chưa bao giờ ngành giáo dục có nhiều tiền và có điều kiện thuận lợi như hiện nay). Rất đáng tiếc là Lãnh đạo Bộ Giáo dục & Đào tạo đã không đủ tinh thần trách nhiệm và thiếu năng lực nên đã không tận dụng được những điều kiện đó để đưa nền giáo dục phát triển, mà lại buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng báo cáo sai sự thật, không đầy đủ đối với cấp trên, khống chế cấp dưới, làm dối, làm ẩu, tuỳ tiện và dùng nhiều thủ thuật để đối phó, Dự án giáo dục tiểu học là một ví dụ.
Trước khi rời cơ quan Bộ giáo dục về Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi đã nói với Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển rằng, nếu Bộ mạnh dạn đề nghị cấp trên cho lùi thời gian thay sách để chuẩn bị cho đầy đủ hơn, tốt hơn thì mới chỉ là khuyết điểm, nhưng nếu cứ triển khai bằng những gì hiện có thì sẽ thất bại, sẽ là tội ác; tôi còn nói thêm là nếu tôi không nói ra lời can ngăn thì sau này chết tôi sẽ không nhắm mắt được. Trong thời gian qua cũng đã có hàng trăm bài báo phê phán, nói lên những điều chưa ổn, chưa đạt yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa mới ở bậc tiểu học và cả trung học cơ sở. Vậy mà lãnh đạo Bộ và những người làm Dự án vẫn bất chấp tất cả.
Gần đây, Thứ trưởng Lê Vũ Hùng, Chủ Dự án giáo dục tiểu học đã quyết định: bắt đầu từ tháng 9 năm 2002, học sinh lớp Một và lớp Sáu trên phạm vi cả nước sẽ học theo sách mới, trong khi mọi việc chuẩn bị còn đang dở dang. Theo tôi, đây là một quyết định liều lĩnh, sẽ đẩy nền giáo dục nước ta vào tình trạng lộn xộn, mất ổn định, số học sinh lưu ban bỏ học sẽ tăng lên, chất lượng giáo dục suy giảm, và như vậy là thế hệ trẻ và người dân lại phải trả giá đắt cho những dự án vay vốn nước ngoài…
Trích thư ngỏ của ông Nguyễn Kế Hào gửi Bộ trưởng Bộ GDĐT
…Tôi phải viết thư này vì tôi khó có cơ hội được gặp trực tiếp để trao đổi, trình bày ý kiến với Bộ trưởng. Ngày 26/3/2001 tôi buộc phải gửi đơn tới Bộ trưởng xin thôi chức Vụ trưởng Vụ Tiểu học, vì lý do duy nhất là tôi không đang tâm làm theo và chưa chấp nhận sản phẩm của Dự án chương trình tiểu học 2000 (DA CTTH-2000), vì những ý kiến đóng góp xây dựng của tôi từ năm 1997 về vấn đề này đều không được quan tâm, đều bị bỏ qua. Tuy nhiên trong năm vừa qua Bộ và DA CTTH-2000 cũng đã có một số việc làm bổ sung, điều chỉnh chương trình và sách, đầu tư thêm tiền và người làm sách, nhưng vì thiếu Tổng chỉ huy, thiếu thiết kế tổng thể nên vẫn mới chỉ kịp thay đổi một số điểm có tính hình thức đối phó, còn nhìn tổng thể và cả những sản phẩm cụ thể thì vẫn còn xa mới đáp ứng được mục tiêu và những yêu cầu về đổi mới chương trình…