Đỗ Minh Tuấn
Trong bài "Cái bệnh hòn non bộ" (Thể thao-Văn hoá ngày 13.09.2002, Talawas đăng lại ngày 20.09.2002) Thảo Hảo phê bình phim Vua bãi rác. Ngày 24.09.2002, Thể thao-Văn hoá đăng bài của Đỗ Minh Tuấn, đạo diễn bộ phim này, trao đổi với Thảo Hảo. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
Lâu nay, người ta cứ có thói quen đọc tên phim để đoán nội dung phim. Cái tên phim trở thành cái bị để đựng ý tưởng phim.Vì thế, thấy tên phim là Vua bãi rác, Thảo Hảo vội bám vào đó để nằng nặc đòi phim phải đi sâu vào ý nọ tứ kia, nào là làm-vua-trên-đống-rác, nào là triết lý về người-trong-rác v.v.
Thực ra, cái đầu đề chỉ là một cái quai để xách nội dung phim. Ðã có lúc, cũng vẫn là ngần ấy thông tin, vốn sống, ý tưởng, mồ hôi, bộ phim kia suýt được đặt tên là Con chim xanh thay vì Vua bãi rác. Sở dĩ có cái tên này vì trong phim có bài hát Con chim xanh anh xẩm hay hát, lại có con vàng anh tiếng hót bắt chước chuông điện thoại di động làm thằng bé thích. Con vàng anh cũng là một kiểu rác văn hoá vì tiếng hót tự nhiên đã bị ô nhiễm văn minh. Nhưng việc những người bới rác trong phim góp tiền mua con vàng anh về để dỗ trẻ con là chi tiết khắc hoạ tình thương đầy nhân bản. Ðến khi anh xẩm mù làm triển lãm sắp đặt lại xuất phát từ tình người với chị bán chuối để chỉ đạo hoạ sĩ kết một con chim xanh khổng lồ bằng lá chuối. Từ bài hát chim xanh cổ lỗ sĩ, đến con chim vàng anh thời thượng và cuối cùng tới con chim nghệ thuật tết bằng lá chuối là sự bập bềnh, lặn ngụp, cộng sinh của biểu tượng chim thuần khiết giữa bao nhiêu rác rưởi và ý tưởng. Ðó là cái tứ khác gợi ý một tên phim khác. Cũng may, nếu đặt tên là Con chim xanh thì chắc Thảo Hảo sẽ lại dè bỉu là phim về chim mà chỉ có tý chim mỏng dính, lẽ ra phải nhiều chim hơn, chim dày hơn, như bộ phim Tây kia làm về chim thật đã đời, lẽ ra phải khai thác cái tứ chim-trong-người, chim-báo-bão v.v..(!)
Thảo Hảo lên lớp dạy nghệ sĩ trình bày thật nhiều chất liệu cuộc sống. Thật chẳng khác nào căn cứ vào khối lượng đồng của dàn nhạc nhà binh để đánh giá bản hoà tấu kèn đồng. Ðó là tư duy của các bà đồng nát. Thực ra, những người làm phim Vua bãi rác đã tước bỏ rất nhiều chất liệu “dày”, ” thực” về cuộc sống nơi bãi rác như cảnh ruồi bâu kín tivi, mỗi lần xem mặt các vị nguyên thủ quốc gia, các ca sĩ ngôi sao hay các cô hoa hậu các cư dân bãi rác lại phải “vén” ruồi ra, cảnh người bới rác nhặt được chiếc gối bẩn thỉu của một ông già bị bệnh con cháu vứt đi sau khi chết, mở ra thấy đầy tiền v.v. Một tác phẩm hay không phải là khúc dồi nhồi nhét chật căng vốn sống mà là sự sáng tạo ra những trật tự mới, những lô gích mới, có thể chỉ là những nét chấm phá theo kiểu phương Ðông để gợi ra cái thần của hiện thực. Trong Vua bãi rác, rác không phải là mục tiêu nghệ thuật mà chỉ là chất liệu như gỗ lũa hay gốc sắn vậy thôi. Một bức tượng bằng gỗ lũa hay gốc sắn bao giờ cũng có một phần gốc cây rễ cây để nguyên dạng. Ðó là 20 phút đầu phim. Người biết thưởng thức nghệ thuật không ai lại dí mắt vào gốc sắn để tiếc rẻ rằng giá mà những phần đã gọt tỉa để thăng hoa khỏi chất liệu thành bức tượng kia cũng đầy đủ gốc rễ như thế này thì hay quá.
Tác phẩm nghệ thuật giống như một khối rubích, có người xoay được một hai mặt, có người khác lại xoay đủ sáu mặt sáu màu, có người không xoay được mặt nào thì bĩu môi chê cái rubích là tý xanh, tý đỏ, tý trắng, tý đen, người có máu văn phiệt hay thi phiệt thích áp đặt ý tưởng thì lại lớn tiếng phán rằng lẽ ra cái rubích phải có thêm mặt Y, màu Z. Cái đáng buồn cười của những văn phiệt này là họ luôn luôn có thái độ của người nghĩ rằng mình đã nắm được chân lý trong tay, rằng cách đọc, xem, nghe, thấy của mình là duy nhất, là chuẩn xác. Vì thế nên Thảo Hảo mới hồn nhiên khoe rằng mình nắm được ý tưởng của phim Chiến hữu nhưng giữ bí mật không nói cho người khác (!). Khi khuyên độc giả đi thuê băng Chiến hữu về xem (chứ không phải vào rạp mà xem), Thảo Hảo đã để lộ văn hoá màn ảnh nhỏ đằng sau những động tác ăn theo áp đặt kia. Người xem băng video thường không chịu ngồi yên cho hình tượng điện ảnh tác động theo cách của nó như khi xem phim trong rạp, mà luôn luôn can thiệp vào tác phẩm (điều chỉnh màu sắc và ánh sáng, tắt tiếng để vừa xem vừa tiếp khách, bật tiếng oang oang để ngồi trong toa-let theo dõi tiếp chuyện phim, tua ngược để xem thêm đoạn nọ, tua nhanh đi để bỏ qua đoạn kia). Nói theo cách làm xiếc chữ nghĩa của Thảo Hảo thì đây cũng là một kiểu khán-giả-non-bộ : tý toa lét, tý giường ngủ, tý chủ nhà, tý đầu bếp, tý bệnh nhân, tý người hâm mộ… Hắn ta cầm cái điều khiển như cầm que chọc rác, chọc kênh này một tý, chọc kênh kia một tý, chọc vào màu sắc, chọc vào âm thanh, bới ngược bới xuôi để nhăm nhăm khều lấy những thứ mà mình thích.
Bản chất của kiểu khán-giả-chọc-rác này là hắn ta không thể xem đến nói đến chốn một bộ phim mà luôn ngọ nguậy muốn phá nát bộ phim để áp đặt ý mình. Với đại chúng, điều ấy là bình thường, tiện lợi vì thực ra ti vi cũng chỉ như cái chuồng nuôi gà vịt tinh thần trong nhà để vặt lông, cắt tiết hàng ngày. Nhưng nếu ai đó ảo tưởng rằng mình có thể đem bộ phận điều khiển ti vi và cái cốt cách xem đĩa xem băng vào rạp xi-nê để sáng tạo lại bộ phim nhựa đang chiếu trên màn ảnh rộng thì đó là một hội chứng vĩ cuồng của nghệ sĩ Ka ra ô kê, ngồi trong rạp xem nhạc sống vẫn cứ đòi tắt lời ca của ca sĩ đi để ông ổng hát theo nhạc đệm và lấy đó làm hãnh diện.