Peter Singer
Không có gì bào chữa được cho sự đặt giá trị một sinh mạng cao hơn một sinh mạng khác
Theo đà tiến của cuộc chiến, những con số thương vong rõ ràng đang lên cao: sinh mạng những chiến binh Mỹ và Anh, những phóng viên Anh và Úc, những chiến binh Irak và thường dân Irak đang bị chiến tranh lấy đi. Bao nhiêu mạng người hy sinh thì biện minh được cho sự bảo vệ an ninh của chúng ta, và cho lý do giải phóng người dân Irak khỏi chế độ độc tài của Saddam Hussein ?
Vào tháng 8 năm 2001, để bảo vệ cho quyết định từ chối tài trợ các công trình nghiên cứu mà ở đó phôi bào bị biến hủy, Tổng Thống Bush đã tuyên bố cùng quốc dân Mỹ: ‘Tôi lo lắng về một nền văn hoá làm giảm thiểu giá trị sự sống, và ở tư cách Nguyên thủ Quốc gia của quí vị, tôi tin rằng tôi có một trách vụ quan trọng là khuyến khích và hỗ trợ cho sự sống tại Mỹ và khắp toàn thế giới.’
Nhưng làm sao chúng ta biết là chúng ta đang giảm thiểu giá trị sự sống hay bảo vệ sự sống khi chúng ta bước vào chiến tranh? Thực dễ dàng để nói ta quí trọng sự sống, nhưng trong thời chiến, nó thường khi liên quan đến những tính toán xơ cứng. Tại Afghanistan, để lấy một thí dụ, George Bush đã mở một trận chiến theo những ước tính tín cậy nhất đã lấy đi từ 1000 dến 1300 sinh mạng thường dân.
Giờ đây chúng ta đọc những tường thuật thương tâm về những ngôi nhà của dân chúng ở ngoại ô Bagdad bị tan nát bởi hỏa tiễn tầm xa, về bom thả xuống các khu họp chợ, về những người chồng mất vợ, cha mẹ mất con. Sử dụng vũ khí có khả năng đi lạc, giết hại dân lành vô tội như thế, chúng ta có sai trái không? Có bào chữa được chăng cho chúng ta khi đi vào một cuộc chiến tranh, nếu cuộc chiến ấy gồm trong nó một khả năng gây một tử vong lớn lao cho thường dân?
Trong cuộc xung đột tại Afghanistan, Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Donald Rumsfeld từng tuyên bố ‘chiến tranh là xấu xí ‘, nhưng nói thêm rằng chưa có quốc gia nào làm nhiều trong chuyện tránh những thương vong cho thường dân bằng nước Mỹ đã làm ở Afghanistan. Ðại Tướng Tommy Franks cũng tuyên bố : ‘Tôi không thể tưởng tượng được có một xung đột nào trong lịch sử có ít những tổn thất phụ (collateral damage), những hậu quả ngoài dự liệu, bằng (ở Afghanistan).’
Thế nhưng rõ ràng, binh lực Mỹ tại Afghanistan đã đặt sinh mệnh của dân lành bản xứ vô tội vào thế hiểm nghèo khi bắn phá những mục tiêu quân sự không mấy quan trọng. Thí dụ, vào hôm mồng 1, tháng 11, 2001, phi cơ Mỹ đã ném bom xuống làng Ishaq Suleiman bởi vì có một xe vận tải của quân Taliban đậu lại trên một đường trong làng. Chiếc xe đã rời vị trí trước khi bom dội vào vị trí, nhưng 12 dân làng bị mất mạng và 14 người bị thương. Một người phát ngôn của Ngũ Giác Ðài nói dù ấy là khu vực bên trong làng mạc, thì những xe vận tải và dụng cụ thuộc quân Taliban vẫn được xem là ‘những mục tiêu quân sự được quyền bắn vào (authorised military targets)’.
Liệu tấn công vào một xe vận tải đậu trong một căn làng có là ‘khuyến khích và hỗ trợ cho sự sống tại Mỹ và khắp toàn thế giới’ không ? Quân lực Mỹ dường như đã không huấn luyện cho các cấp chỉ huy của họ biết đặt những câu hỏi then chốt: có thể nào một chiếc xe tải lại quan trọng quá mức như một mục tiêu quân sự để sự phá hủy nó bào chữa được cho sự đặt sinh mạng thường dân vào thế tột hiểm nghèo ?
Một nguyên tắc về phép cân xứng, một thành tố trong những khâu mục khả dĩ biện hộ được cho thế nào là chiến tranh chính đáng, là tổn thất của cuộc chiến – tính theo tử vong và tàn phá – không được vượt quá kết quả phúc lợi thu gặt. Khi cân đo như thế, chúng ta phải gôm tính một sự kiện rằng trong khi tổn thất chiến tranh là chắc chắn có, mỗi một nền tảng biện luận của liên minh các nước đang tấn công Irak thực sự gồm trong đó một cuộc cờ bạc đỏ đen.
Những chính phủ phe tấn công đang đánh cuộc rằng nền an ninh toàn cầu và cuộc chiến chống khủng bố sẽ được đẩy mạnh bằng sự loại trừ vũ khí có cấp độ hủy phá lớn mà Saddam bị nghi ngờ đang có trong tay. Nhưng ông ta có thể không hề có những vũ khí ấy, và sự kiên trì xúc tiến cuộc thanh tra vũ khí của LHQ có thể giải giới Saddam mà không cần tới chiến tranh.
Cuộc xâm lăng Irak, một cách tương phản, sẽ giao vào tay những phong trào Hồi Giáo chủ chiến một dụng khí tuyệt hảo để họ lôi kéo thêm người tham gia về phía họ, và hệ qủa dài hạn có thể là thêm nhiều người sẵn sàng sử dụng khủng bố chống lại Mỹ và các nước liên minh.
Chính phủ các nước tấn công Irak cũng đang đánh cuộc rằng những tổn hại gây ra cho người dân Irak sẽ không nhiều, khiến cho đại đa số dân chúng Irak sẽ nghênh đón quân Mỹ và liên minh như những giải phóng quân. Ấy là một cuộc đỏ đen khác, một cuộc cờ ở đó thêm một người dân Irak bị thiệt mạng hay bị thương thì xác suất thắng một nhỏ dần.
Không một duyệt xét đạo đức học nào trong cuộc chiến này tránh né được những vấn đề thực sự hóc hiểm và rối rắm, cân đo giữa một bên là những mối hại cuộc chiến đem tới, và phần phúc lợi nó có thể tạo được.
Ngoài ra còn có những mối tai hại khác mà khó lòng để duyệt định. Dù là đầy cả lỗi thì LHQ vẫn là cơ chế duy nhất của thế giới có thể đem lại giải pháp hòa bình cho những xung đột quốc tế, và thẩm quyền của nó đã bị thiệt hại nặng nề bởi quyết định của Mỹ tiến hành chiến tranh không cần tới sự cho phép của Hội Ðồng Bảo An LHQ. Thêm vào đó là cuộc chiến đe dọa phá hủy những khu vực có gía trị khảo cổ vô gía của nơi được xem là chiếc nôi của văn minh Tây Phương. Dù là những cổ vật, chứ không phải là những sinh vật có cảm thức, thì những khảo cổ vật, những cổ thành, những điện đài xưa, những vùng khai quật, là một phần của di sản của toàn nhân loại, sự hủy phá chúng, sau khi chúng đã tồn tại qua hàng nghìn năm, là một hệ qủa bi đát khác của cuộc chiến này.
Nhưng điểm quan trọng nhất về mặt đạo đức học cần nêu lên trong cuộc hành sử chiến tranh là không có gì biện minh cho việc đặt giá trị sự sống của thường dân Mỹ, Anh và Úc cao hơn giá trị của sự sống con dân các nước khác. Các chính phủ có thể có một trách nhiệm để bảo vệ công dân của họ lớn hơn so với trách vụ bảo vệ công dân nước ngoài, nhưng khi đi tới chỗ tính toán tổn thất chiến tranh, quốc tịch không hề thay đổi giá trị của sinh mạng con người.
Tại Afghanistan, rõ ràng là quân lực Mỹ đã không lo liệu bảo vệ sinh mạng thường dân Afghanistan được bằng như công lao họ bỏ ra để ngăn ngừa sự tổn thất sinh mạng của người Mỹ. Giờ đây rõ ràng điều này đang tương tự xảy ra ở Iraq.
Ngay cả nếu chế độ Saddam Hussein đang áp dụng những chiến thuật cố ý đặt thường dân Irak vào thế hiểm nghèo, thì chúng ta không thể lẩn tránh trách nhiệm về những tổn thất sinh mạng, hậu quả của cuộc chiến chúng ta chọn lựa khởi tiến. Người Mỹ biết thậm rõ mức độ chế độ độc tài Baghdad chăm lo cho người dân của họ ít ỏi là dường nào, thế thì những chiến thuật thiếu lương tâm của họ là điều lẽ ra phải được trù liệu, và nó phải được tính vào như một fác-tơ trong quyết định tiến hành cuộc chiến.
Bất cứ hành động nào cuả quân lực Mỹ, Anh, Úc mà xem nhẹ sinh mạng của thường dân Irak hơn sinh mạng của thường dân Mỹ, Anh, Úc cũng đều không thể biện minh được, xét trên bình diện đạo đức.
(c) 2003 talawas
Triết gia Úc
Peter Singer hiện là giáo sư khoa đạo đức học tại Ðại Học Princeton, ông là tác giả của nhiều cuốn sách về đạo đức học ứng dụng, mới nhất là cuốn
One World: Ethics and Globalisation ( Một Thế Giới: Ðạo đức học và Toàn cầu hóa) do NXB Text Publishing ấn hành, năm 2002.
Thường Quán (1955), nhà thơ, hiện sống tại Melbourne, Úc, khởi xuớng cuộc vận động Thi Giới Chống Chiến Tranh (www.thigioichongchientranh.org)
Tác phẩm: Ngoài Giấc Ngủ, Văn Nghệ, California, 1990