(Viết thay cho Trần Ðình Sang, một chiến binh nằm xuống ngày 13.12.1973. Xác nhận thấy được khi người ta đào móng xây nhà mới, hài cốt thuộc loại vô thừa nhận, đang đựng trong một cái hủ sành tại nhà 4/5 C Chu Văn An, phường 26, quận Bình Thạnh, Sài Gòn.)
Dạo ấy, người ta biến mất mỗi ngày với 1001 lý do xảy ra, kể cả việc đào ngũ. Ngoài cuộc thiên hạ nhíu mày xót xa/cười khẩy với các kiểu vắng mặt không rõ lý do trong chiến tranh, còn thân nhân của những lính trận mất tích thì choáng váng trong âu lo, đó là một điều chắc chắn. Sau Mậu Thân 1968, một lần nữa tiếng súng bắt đầu nổ quanh Gia Ðịnh, sát đô thành Sài Gòn. Tôi đã chiến đấu và ngã ngựa tại xã Bình Hòa, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Ðịnh. Xác tôi nằm lại ngay trên trận địa Ðông Bắc Sài Gòn và chẳng được đưa về nghĩa trang quân đội. Tôi mãi là một gã đàn ông hơn 30 tuổi, bạn với một số tay già tuổi 63 hôm nay. Vào một ngày không đẹp trời: 13.12.1973, thời gian đã chết khi một viên đạn AK xuyên cuống họng tôi. Phút vĩnh biệt đã điểm, nhiệm vụ một chiến binh đã kết thúc.
Gần 30 năm sau, chiến tranh Việt lại là một đề tài lớn trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ 2004. Cuộc chiến này chưa thể thành quá khứ. Có cái gì đó đổ vỡ trong lòng người tham chiến, trên đất Việt này mà chưa bao giờ được thực tâm sòng phẳng giải quyết. Một số không nhỏ vội đẩy mọi chuyện vào quá khứ, nơi có những bóng ma, một khi không ai có ý tìm cho những bóng ma ấy một nơi ngủ yên. Những khập khiễng trong cách đối xử về thương phế binh tử sĩ giữa các bên tham chiến sẽ đọng lại như một vết dơ trong lịch sử. Kẻ chiến thắng không bao giờ thực lòng làm huề, hoặc sử dụng sự hòa giải như một luận điệu dụ khị hòng hốt tiền đô. Còn phe thua trận thì lòng người ly tán, không ít kẻ nghiến răng… để chửi nhau, thuận đà chẳng tiếc lời mạt sát cả những người đã xả thân vì dân tộc này. Ðây là chưa kể có dăm anh ngớ ngẩn vuốt đuôi chủ trương hòa hợp, trong khi không có gì hơn ngoài hai bàn tay trắng và một cái mồm ngoác tới mang tai.
Tôi có thể là một chiến binh thiếu quả cảm, song không thể kết án hèn nhát cho một người lính đã hoàn thành trách vụ của mình ngay trên mặt trận. Trước mặt chúng tôi ngày hôm đó là Ðồng Ông Cộ, phía sau lưng tôi là dân lành và thủ đô, anh em chúng tôi sẽ tiến lên hoặc gục chết tại vị trí đó. Ðầu hàng/đào ngũ không phải là danh từ quen thuộc với tất cả những người lính. Siết chặt cò khẩu M-16, tôi tin như vậy. Bầu trời Gò Vấp vàng vọt ánh hỏa châu. Lạnh lẽo và lấp lánh. Chúng tôi nằm thành từng tốp lẻ, án ngữ con đường xâm nhập của những toán Cộng quân đến và đi từ Ðồng Ông Cộ. Sẵn sàng chạm súng xáp lá cà, chúng tôi không được phép lùi. Lửa đạn sẵn sàng phụt ra bất cứ lúc nào từ những bụi dừa nước ven rạch, các ngôi mả đá ong quanh Ðồng Ông Cộ. Cộng quân lúc thì sàng qua Thạnh Mỹ Tây, lúc thì dịch xuống Bình Hòa, Lò Vôi. Cuộc đàm phán kéo dài 5 năm (15/03/1968 – 27/01/1973) đã kết thúc bằng một hiệp định tại Paris là thái độ phủi tay của người Mỹ đối với chính nghĩa dân chủ và tự do; giải Nobel Hòa bình 1973 như trò hề được Hàn lâm viện Na Uy đưa ra làm cho tình hình thêm nực cười. Nhưng nhiều người yêu tự do không buông súng. Chẳng phải người lính nào khi nằm xuống cũng có hàng chữ Tổ Quốc Ghi Ơn với lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ ngang chiếc quan tài – đúng như nghi lễ quân cách, tôi là một trường hợp như vậy. Ðã trở về cùng hồn thiêng sông núi, buồn vui chỉ còn là những ký ức. Thời gian đã ngưng lại, tôi vẫn phơi phới tuổi 30. Ðêm thức cùng bầu trời tĩnh lặng, nằm bên ao rau muống mà nghe mát lạnh khắp người, tấm poncho liệm theo sao mà mỏng quá. Có hôm nhìn sao băng xẹt rơi ngập trời, chẳng biết anh em còn mấy thằng trụ được, cuộc chiến này quả thật khốc liệt. Phía Sài thành vẫn rộn rã ánh đèn. Những người lính trận cũng có gia đình. Ngày tôi ra đi, mẹ tôi không còn trẻ nữa. Tôi nhớ mẹ tôi lắm.
Tôi đã chiến đấu và gục xuống giữa sa trường, bỏ lại sau lưng những ngày tươi đẹp nhất cùng những chao đảo của đời. Tôn trọng lời thề quân nhân, tôi đã phục vụ Tổ Quốc và chính nghĩa với trọn danh dự bản thân. Việc tri ân xin để lại cho những người còn sống, như chỉ có những người đang sống mới thưởng thức được thời gian. Là một tử sĩ, tôi xin phép lên tiếng: nhiều anh em chúng tôi đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng với đầy đủ bổn phận công dân VNCH của mình. Chúng tôi không bao giờ là những oan hồn uổng tử, đoạn kết đời chúng tôi là chút tình xin dâng sông núi Việt. Cuộc triệt thoái để cuối cùng thành rút chạy hỗn loạn trong tháng 04/1975 không nói thay cho tất cả.
Ðã nhiều ngày trôi qua, tin nhắn của tôi xuyên tường lửa trên trang web không có hồi âm. Tôi chẳng buồn chi, làm sao nỡ trách những ông già xấp xỉ tuổi 63… Ðược mấy người lên internet và đọc rõ được con chữ trong mạng lưới, hỡi các đồng đội của Sang tôi… Hãy cho tôi một cơ hội được yên nghỉ trên đất mẹ Việt Nam, dẫu không hề được nhắc đến, dù chỉ một vài dòng trong hồ sơ POW/MIA. Bây giờ, tự tôi không thể làm được việc này mà.
Ðể chết như thế nào cho Tổ Quốc là việc cần suy nghĩ và cắn răng dám sống để có một Tổ Quốc là điều luôn cần suy nghĩ hơn. Ngày còn nhỏ tôi được dạy về lễ nghĩa, đến trường thầy cô cho tôi con chữ, tôi được học bắn và chiến đấu ở quân trường. Hơn 30 năm trời, tôi được nghe nói nhiều thứ khác. Nhưng tôi chưa được ai tử tế bảo ban về việc đón nhận cái chết và nền dân chủ trong một nước cộng hòa. Cái chết, tôi đã đón nhận dẫu rất miễn cưỡng và ngỡ ngàng; còn nền dân chủ trong một nước cộng hòa là ra làm sao, hả trời?! Mọi thứ trên đời này thật là khó biết chắc được, nếu không được dạy và học. Kể cả thế nào là dân chủ. Không thể có một thứ tự do dân chủ trên trời rơi xuống/ban phát, càng không thể nảy ra từ những bãi nước bọt của các nhà lý thuyết suông. Hình như mọi cơn chuyển mình của Cộng hòa Việt luôn phải trả giá bằng máu của các chiến binh và nước mắt dân tộc này chăng.
- Tại sao ông không đăng mẩu tin này lên các phương tiện thông tin đại chúng? Sẽ có người đọc và giúp cho gia đình tôi, tôi nhớ mẹ tôi lắm!
- Liệu tụi nó có chịu đăng lên báo cái tin tìm thân nhân một thằng lính ngụy mất tích như ông? Hay tụi nó sẽ hỏi căn cước, rồi đem gông cổ luôn cái thằng nhờ đăng?!
- Vậy ông cũng là một thằng sợ chết! Ông cũng có mẹ mà?
- Tôi chẳng sợ chết, bởi… tôi sống dai hơn ông có gần 2 năm… Tôi đang là một cái xác tồn tại và chỉ sống trong những trang viết của mình. Và thực ra ông muốn cái gì?
- Lịch sử vẫn còn để ngỏ, dầu có muốn hay không. Dẫu đành thời gian của tôi đã chết, song mỗi ngày vẫn trôi qua trong cuộc đời này. Những người đang sống chẳng lẽ không nhận ra điều này, tại sao ông cứ ngồi yên? Mấy ông đang trông mong vào cái gì, hãy tự cứu chính mình đi, chẳng lẽ đợi những thằng đã chết như tôi đi làm thay cái sứ mạng chưa hoàn thành cho các ông?!
- …
Có một gã đàn ông bật khóc, đi soạn lại bộ quân phục rách bươm của mình.
Sài Gòn, ngày 23/11/2004
© 2004 talawas