trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
10.3.2004
Đỗ Xuân Phương
Khai sáng hay Giải thoát, Trí năng hay Thiền định – Trao đổi với các ông Phạm Minh Ngọc và Trần Lai Khê
 

Tôi cảm thấy rất thú vị khi được đọc hai bài viết mới đây trên talawas của các ông Phạm Minh Ngọc (PMN) và Trần Lai Khê (TLK), bởi vì đây sẽ là nguồn kích thích cho một cuộc thảo luận dài hơi vì phạm vi rộng lớn của vấn đề: Khai sáng hay Giải thoát và Trí năng hay Thiền định.

I.



… Kant chỉ ra rằng việc “vùng thoát” là đặc trưng của “khai sáng”, một quá trình giải phóng chúng ta khỏi trạng thái “vị thành niên”. Ông quan niệm “vị thành niên” là do không có ý chí nên ta khuất phục một quyền uy nào đó và cho phép nó dẫn dụ ta trong những lĩnh vực mà lẽ ra ta phải sử dụng lí trí của chính mình. Kant đưa ra ba thí dụ: chúng ta ở trong tình trạng “vị thành niên” khi có một cuốn sách giữ giùm tri thức cho ta, khi có một đạo sư giữ giùm lương tâm cho ta, khi có bác sĩ coi giùm chế độ dinh dưỡng cho ta …

Chúng ta hãy thử chiết giải thí dụ thứ nhất của Kant: cuốn sách giữ giùm tri thức cho tôi!

Đúng quá đi chứ? Làm sao người sinh viên y khoa có thể phẫu thuật cơ thể con người nếu không đọc ít nhất một cuốn sách giải phẫu học, làm sao người kỹ sư điện có thể chế tạo loại đèn halogen nếu không đọc một cuốn giáo khoa vật lý, làm sao chúng ta biết được Kant nếu không có những trang giấy trên đó có tiểu luận Khai sáng là gì?… Sách không chỉ mở mang đầu óc chúng ta, sách còn giữ giùm tri thức cho chúng ta. Mỗi khi quên mất điều gì đó, chúng ta lại lần tới giá sách, thư viện hay chiếc máy computer, bởi vì trí nhớ của chúng ta đâu phải là vô hạn. Nếu không chấp nhận, học mót theo những điều viết trong sách và các vật liệu thay thế sách, loài người chúng ta có lẽ chẳng khá hơn lũ đười ươi Phi châu.

Thế thì tại sao tôi là “vị thành niên” chỉ vì tôi thường xuyên tra cứu cuốn Bách khoa toàn thư? Chẳng lẽ muốn “trưởng thành” tôi phải hiểu, phải nắm lấy, phải thấu suốt từng mục, từng phần nhỏ nhất trong cuốn sách nặng tới 10 kilôgam đó? Hay là Kant “quên” không đính kèm tiểu luận “Khai sáng là gì?” danh mục tất cả những cuốn sách xấu xa ở mọi ngôn ngữ, mà tôi không nên đọc?

Nhất quyết không phải vậy. Kant muốn nói đến sự “vùng thoát” nào khác, chứ không phải việc sử dụng lý trí “tự do và chính mình” để nắm lấy toàn bộ những tri thức khoa học của nhân loại trong những cuốn sách!

Đến ví dụ thứ hai: đạo sư giữ giùm lương tâm cho tôi.

Nên quá đi chứ? Hãy thử tưởng tượng Âu châu mà không có đức tin vào Chúa Trời, hay Trung Hoa, Việt Nam không có lòng từ bi bác ái của Phật. Nếu chúng ta không có những con người có lương tâm dẫn dắt thì chúng ta sẽ ra sao? Dám chắc là chúng ta lại giống lũ đười ươi Phi châu, hoặc tệ hơn, đã tuyệt chủng sau vài cuộc chiến tranh. Các vị đạo sư đã đại diện cho lý trí của nhân loại mà giữ cho chúng ta không làm những điều nguy hại cho người khác và cho bản thân mình.

Vậy tại sao tôi lại “vị thành niên” chỉ vì tôi nghe lời người thầy mà thực hành sự trung thực và liêm khiết. Chẳng lẽ muốn “trưởng thành”, tôi phải trốn lánh thật xa hay giết chết vị đạo sư đang khuyên nhủ lương tâm cho tôi? Hay Kant “quên” phụ lục đính kèm tiểu luận “Khai sáng là gì?” danh sách các thày tu phá giới ở tất cả các châu lục?

Nhất quyết không phải vậy. Kant muốn nói đến một sự “vùng thoát” khác, chứ không phải việc sử dụng lý trí tự do để nghi ngờ hay xét lại đạo đức thông thường!

Ví dụ thứ ba: Bác sĩ coi giùm chế độ dinh dưỡng cho tôi.

Cần quá đi chứ. Nếu bác sĩ không khám bệnh định kỳ cho ta, không có lời khuyên hay kê đơn thì làm sao ta có được sức khoẻ này. Hãy nhìn những đứa trẻ suy dinh dưỡng vì ăn uống không hợp lý, hay người bị bệnh béo phì vì bất tuân chế độ ăn kiêng do thày thuốc quy định. Xác thân này tồn tại không thể thiếu được sự chăm sóc y tế, dù là rất nhỏ như một bữa ăn đủ chất.

Nhưng tại sao tôi lại “vị thành niên” khi tuân theo toa của thày thuốc để chữa bệnh đau dạ dày? Chẳng lẽ muốn “trưởng thành” tôi phải tự kê đơn cho mình trong khi chẳng biết chi về y học? Hay Kant “quên” phụ lục đính kèm tiểu luận “Khai sáng là gì?” danh sách các lang băm trên thế giới?

Nhất quyết không phải vậy. Kant muốn nói đến một sự “vùng thoát” khác chứ không phải việc sử dụng lý trí tự do để soi xét vấn đề sức khoẻ của thân xác!

Thế nhưng, Kant kêu gọi mỗi người phải tự chịu trách nhiệm khai sáng bằng cách phá bỏ sự lệ thuộc vào những vật, những người đã gắn bó, tạo dựng nên con người mình. Chúng ta tự do tư tưởng, nhưng tư tưởng mới là gì đây sau khi đã từ bỏ những chân lý về tri thức, lương tâm và xác thân v.v. mà mỗi chúng ta thu thập được từ khi còn trong bụng mẹ?

Chỉ có một cách “vùng thoát” duy nhất khỏi tất cả những chân lý ấy: đó là nhìn nhận chúng là những chân lý tương đối, và như thế, Khai sáng khởi đầu từ sự nghi ngờ tất cả, rằng: Tôi có đúng là tôi hay không?

II.




… Kant, khi nói đến tình trạng vị thành niên, đã đưa một mệnh đề: hãy vâng lời và đừng tranh luận nữa, theo ông đấy chính là hình thức thực hiện kỉ luật quân sự, quyền lực chính trị và quyền uy tôn giáo. Loài người thành nhân không phải khi không còn phải tuân thủ nữa mà là khi được bảo rằng: “muốn bàn luận bao nhiêu cũng được, nhưng hãy vâng lời”….

Tôi muốn nói ngay rằng, vì đã hiểu sai cơ bản: thế nào là Khai sáng, nên rất nhiều người, trong đó có ông Michel Foucault, đã bỏ sót ít nhất là một nửa ý nghĩa trong tiểu luận của Kant. Đúng là ở phần tiếp theo, Kant đã diễn tả hệ quả của khai sáng đối với cá nhân, cộng đồng và cả quốc gia. Ông kêu gọi sự công khai tranh luận khi con người ở tư cách thành viên của “nhân loại” và coi đó là nền tảng cơ bản của khai sáng ở tầm mức xã hội. Ông cũng nói đến sự hạn chế tự do khi con người ở tư cách một bộ phận của guồng máy thể chế, vì đó là cái phanh hãm cho xã hội khỏi sự rối loạn, một sự rối loạn có thể phá huỷ chính con người.

Nhưng chỉ có thế thôi sao?

Nếu như đã thừa nhận Khai sáng bắt đầu từ sự nghi ngờ tất cả, như tôi đã trình bày ở phần I, thì chúng ta sẽ phát hiện được ẩn ý: Khai sáng hay Tinh thần tự do, như mầm sống nằm trong lớp vỏ cứng, cần được chăm sóc, tưới bón để có thể nảy mầm. Sự nảy mầm ấy, chính là bước vượt qua sự nghi ngờ tất cả để tìm tới chân lý tuyệt đối. Còn sự công khai tranh luận, tự do tư tưởng ở phạm vi xã hội mà ông hô hào trong đoạn sau của tiểu luận, chỉ là quá trình chăm bón cho hạt giống đó. Nói cách khác, Khai sáng là mục đích mà một cá nhân cần vươn tới, còn việc được công khai tranh luận hay tự do tư duy chỉ là phương tiện đưa tới mục đích ấy.

Vậy tại sao Kant không tiếp tục dẫn dắt người đọc đến cái thay thế cho chân lý của tri thức, lương tâm hay xác thân v.v. mà ông đã kêu gọi “vùng thoát” khỏi chúng? Tại sao ông không chỉ rõ cái đích đến của Tự do? Tại sao ông không giải quyết cho sự nghi ngờ tất cả mà ông đã khơi dậy? Chỉ có một cách giải thích là: cái thay thế đó không thể diễn tả bằng lời, nó bất khả tư nghị, nó là chân lý tuyệt đối, chỉ hé lộ cho người nào tự mình đi đến đó. Kant không muốn và cũng không thể mô tả nó, ông khuyến khích mọi người tìm đến nó bằng cách khởi sự nghi ngờ, rồi sau đó ông vạch ra đường hướng mà một con người, với tư cách cá nhân hay với tư cách một nhân vật có chức phận, nên làm theo để xã hội phát triển theo hướng nhân văn. Sự hoàn thiện của những con người sống trong xã hội vừa là nguyên nhân, vừa là động lực, vừa là mục đích của sự phát triển xã hội ấy. Tôi tin tưởng rằng như thế mới là đầy đủ ý của Kant trong tiểu luận nổi tiếng ấy. Nếu không phải thế thì ông cũng chỉ là một triết gia loại tầm tầm, và không thể được tôn vinh như một trong những nhà tư tưởng lớn của nhân loại.

III.


Khi Phật nói với Ananda: “Này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, chớ y tựa người khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp là chỗ tựa” thì chính là Ngài nhắc nhở Ananda phải “tự lực cánh sinh”, kiên trì tu tập theo đạo của Ngài, nghĩa là nhận chân các chân lí Khổ, Tập, Diệt, Đạo, ngăn chặn mọi dục vọng khi nó chưa phát ra và trừ bỏ mọi dục vọng khi nó đã phát ra. Nhưng đấy vẫn là dogma, vẫn là doctrines; vẫn phải y tựa vào lời dạy của Phật chứ đâu phải hoàn toàn tự do tranh luận về bất cứ vấn đề gì, tranh luận bao lâu tùy thích như Kant nói. Nên biết rằng đức Phật cũng gọi những người không theo giáo lí của Ngài là kẻ ngoại đạo.

Ông PMN đã nói đúng về nét giáo lý cơ bản của Đạo Phật, nhưng hẳn là vì ông không phải là người thực hành Phật pháp nên ông đã không nhận ra cái ý ẩn đằng sau lời của Phật, giống như ông đã không nhận ra cái ẩn ý của Kant. Có thể ông PMN đã quên hoặc chưa biết đến câu nói này của Phật: “Ta thuyết pháp trong 50 năm, nhưng chưa hề nói câu nào!”. Giáo lý của Phật không phải là học thuyết hay chủ nghĩa cứng nhắc, nó lại càng không bắt buộc người ta phải làm theo lễ pháp. Phật chỉ gợi mở để người Phật tử dựa theo những lời Ngài nói mà tự mình suy nghĩ hầu đi đến chân lý tối cao – Giải thoát, như thể theo ngón tay mà nhìn thấy mặt trăng. Bởi vậy, học Phật trước hết là học cách tự do suy nghĩ, kể cả tự do bài bác giáo lý Phật ghi trong sách vở và lời dạy của các đạo sư. Một chút khác biệt với Kant là ở chỗ: Kant hô hào “hoàn toàn tự do tranh luận về bất cứ vấn đề gì, tranh luận bao lâu tùy thích” vì đối tượng cho tư duy tự do, vào thời gian và không gian của Kant, chưa được vạch rõ cho quảng đại quần chúng biết đến. Cứ xét những ví dụ về sự cấm đoán trong tiểu luận của ông thì có thể thấy, nước Phổ thời bấy giờ chưa hội đủ thuận lợi để diễn giảng sâu xa hơn về mục đích của Khai sáng. Phật Thích ca thì lại có hoàn cảnh thuận lợi hơn về tư tưởng bình đẳng (truyền thống Upanisad của Ấn độ bấy giờ) cũng như bề dày thời gian để giáo lý của Ngài được bổ túc phong phú gấp nhiều lần Kant.

Bàn thêm một chút về “kẻ ngoại đạo”, theo Phật ranh giới giữa chính đạo và tà đạo chỉ là ở một chỗ: chính đạo lấy tinh thần bình đẳng và vô tư, còn tà đạo thì phân biệt đối xử và cầu lợi. Vì vậy để xét xem một giáo lý, một học thuyết, một hành vi… là chính hay tà thì chỉ cần tìm hiểu mục đích cuối cùng của nó. Một tên giết người có thể là chính đạo, nếu như kẻ mà hắn giết là nguồn gốc gây đau khổ cho người khác, ngược lại một nhà từ thiện có thể là tà đạo nếu ông ta cho tiền người nghèo để mong có ngày người ta báo đáp lại. Kant có thể chưa bao giờ đọc kinh Phật, thậm chí có thể không hề biết đến phương Đông, nhưng dưới con mắt của Phật thì Kant không phải là ngoại đạo hay tà đạo. Bởi vì qua tư tưởng mà Kant đã trình bày thì ông là một con người có tấm lòng quảng đại và tôn trọng con người.

Tôi cũng xin lập ra một bảng để độc giả tiện so sánh:

No. Vấn đề Theo Phật Theo Kant
1 Mục tiêu của quá trình phấn đấu Giải thoát khỏi đau khổ do vô minh gây ra (vô minh là sự nhìn nhận thế gian như sự thật tuyệt đối) Khai sáng bằng phá bỏ sự lệ thuộc vào chân lý tương đối của thế gian
2 Phương pháp thực hiện Thiền định, hay sử dụng trí tuệ của mình nhằm thấu triệt chân lý một cách tự thân, không lệ thuộc giáo lý hay chịu áp lực chính trị, xã hội Tự mình thực hành tự do tư tưởng, tự do ngôn luận mà không bị ảnh hưởng của quyền uy nào hay chịu sự dẫn dắt nào.
3 Hệ quả xã hội Hoà bình, bất bạo động Xã hội tự do, bình đẳng.

IV.



Trong bài viết của ông TLK, người đọc thấy rõ quan điểm phân chia rõ rệt giữa hai khái niệm trí năng và thiền định. Nhưng khi một người thực hành thiền định, thì chẳng khó khăn gì để thấy được rằng thiền định không phải là cái gì đó xa lạ với trí năng, mà chính là một trạng thái đặc biệt của trí năng. Hành thiền không phải là bất động trí năng mà trái lại, người hành thiền phải sử dụng trí năng rất mạnh để thấu triệt tính chất “vô thường, vô ngã” của vũ trụ sự vật, trong đó có con người. Hoạt động trí năng mạnh mẽ lại đòi hỏi sự tập trung chú ý cao độ, và về kỹ thuật sự chú ý đó nên hướng vào bên trong, như hơi thở chẳng hạn. Sở dĩ thiền định có vẻ tĩnh lặng, là vì giống như con quay gỗ đồ chơi của trẻ con, khi nó đạt tới vận tốc quay cao nhất thì người ta lại thấy nó bề ngoài giống như đang đứng yên trên mũi đinh của nó. Thêm nữa, mục đính của thiền định rất rõ ràng, đó là đạt tới trạng thái Nirvana (Niết bàn), một cánh cửa trực giác vào thế giới tuyệt đối với những hệ quả tâm lý rất đặc biệt làm thay đổi cả nhân cách người thực hành thiền định. Sự cao cả trong nhân cách của Phật và các vị Bồ Tát là lý do để chúng ta mạnh bạo mà nói rằng thiền định đem lại một bước phát triển cao về chất (nếu không nói là cách mạng giải phóng con người) sau một quá trình tích luỹ về lượng của trí năng.

Theo quan điểm của ông TLK và các học giả như ông Phan Khôi, trí năng chỉ nhận thức được thế giới tương đối từ kinh nghiệm do giác quan mang lại, và có giới hạn nhất định. Với định nghĩa này thì trí năng có phạm vi hẹp hơn khái niệm “trí năng thiền định” nêu ở trên, nó không bao gồm tính trực giác của thiền định. Xét về hình thức thì có thể nói rằng “trí năng” mà ông TLK đề cập đến dựa trên cơ sở của tư duy biện biệt (Ta khác với Phi ta), còn trí năng thiền định dựa trên tư duy bất biệt (không có cái Ta lẫn cái Phi ta). Tư duy biện biệt đưa đến cái gọi là chân lý của thế gian, nhìn nhận sự vật hữu hình, hữu danh, hữu thường tại. Còn tư duy bất biệt đưa đến cái gọi là chân lý tuyệt đối, nhìn nhận sự vật vô hình, vô danh, vô thường tại.

Thế “trí năng” nào là đúng?

Thực ra, đúng hay sai không quan trọng giữa hai khái niệm trí năng nói trên. Chúng ta hãy nhìn vào sự vận dụng hai khái niệm này trong thực tiễn. Nếu chỉ sử dụng trí năng biện biệt, chúng ta vẫn có thể biết được rất nhiều điều về thế giới sự vật mà tri thức khoa học là một chứng minh. Với tư duy ấy, chúng ta giống như một người quan sát bên ngoài, lạnh lùng và chỉ tin vào những số liệu, những sự kiện do máy móc và giác quan đem lại. Nhưng đến một mức độ nào đó, máy móc cũng không thể phản ánh chính xác sự vật được nữa (ví dụ khi muốn xác định đồng thời cả vận tốc và vị trí của hạt cơ bản – particle), thì khoa học vật lý hay tư duy biện biệt hoàn toàn bế tắc. Mặt khác, tư duy biện biệt có hệ quả đến cảm xúc, tình cảm… vốn là những nhân tố cấu thành nhân cách và đạo đức của con người. Theo triết lý của Phật, có một chuỗi dài nguyên nhân và hệ quả bắt nguồn từ tư duy biện biệt: “… vì có ngũ căn nên có lục nhập, vì có lục nhập nên sinh thất tình, hỉ nộ ái ố đảo điên, khổ đau mãi không chấm dứt…”.

Vậy chẳng lẽ sự biện biệt là hoàn toàn sai lầm? Đạo Phật đã trả lời câu hỏi này bằng khái niệm Trung đạo (Middle Way). Nguyên thuỷ đó là câu trả lời của Phật Thích ca cho câu hỏi của một đạo sĩ khổ hạnh, rằng: Chân lý nằm ở trung đạo, giữa một bên là chủ nghĩa khoái lạc và một bên là chủ nghĩa khổ hạnh. Mở rộng ra, Trung đạo là sự chấp nhận hay bao gồm cả hai lối biện biệt và bất biệt trong tư duy, một hình thức tương tự như “Thái cực gồm cả lưỡng nghi, lưỡng nghi âm dương mâu thuẫn….” của Lão Tử. Khi chưa thành đạo, Phật bỏ nhà đi tu vì còn phân biệt giữa Tu và Đời, thành đạo rồi lại quay trở về với nhân quần xã hội để giáo hoá dân chúng trong bộ áo cà sa, đó là đã vận dụng cả hai, Tu – Đời làm một. Đức Phật không phải là một chính trị gia, nhưng ảnh hưởng chính trị của Ngài là không thể chối cãi được, vậy thì không phải là Ngài không coi trọng chính trị mà chính là Ngài đã nhận thức và sử dụng chính trị nhằm phục vụ cho hạnh phúc của nhân dân. Vị nào không tin, xin hãy đọc lại kinh Phật, những đoạn nói về việc Ngài thuyết pháp và dẫn dắt tư tưởng cho các vị vua Ấn độ thời đó.

Đối với Kant, tình hình có vẻ phức tạp hơn vì bối cảnh văn hoá xã hội khi ông đang sống có nhiều cái khác biệt với Phật. Đó là chưa kể đến sự méo mó do ngôn ngữ, do dịch thuật và nhiều nguyên nhân khác cản trở việc chúng ta thấu hiểu hết tư tưởng của Kant. Song chúng ta hãy thử điểm qua vài ý như sau:

  • Kant cổ vũ cho việc người ấy phá bỏ sự lệ thuộc váo định kiến có sẵn trong sách vở, đạo đức và thể xác… Điều này có đồng nghĩa với việc người ấy phá bỏ cái tôi cá nhân? Nếu đúng thì luận đề đó tương tự con đường “vô ngã tướng” của Phật.
  • Kant chỉ ra giới hạn của trí năng, vậy có phải là ông muốn bác bỏ sai lầm của giới trí thức hồi đó muốn dùng tư duy biện biệt để tìm biết chân lý tuyệt đối? Nếu đúng thì giống như sự phê phán của Phật đối với người đòi Ngài phải giải thích xem Tự tính Bồ Đề là gì.
  • Ông “thán phục và khiếp sợ” bầu trời sao, vậy có phải vì ông đã thấy được tính chất vĩnh cửu mà bầu trời sao là biểu tượng? Nếu đúng thì đó là quan điểm về Tự tính bất sinh bất diệt của Phật.
  • Ông “thán phục và khiếp sợ” quy luật đạo đức trong lòng, vậy có phải là ông nhận thấy mối liên quan mật thiết giữa con người với bản thể Tự nhiên bất tử? Nếu đúng thì điều đó giống như lý do cho đức đại từ đại bi của Phật.

Tôi không có đủ tài liệu về toàn bộ cuộc đời và sáng tác của Kant để trả lời chắc chắn những vấn đề trên. Nhưng theo logic của dữ kiện thì sự tương đồng tư tưởng giữa Kant và Phật là có thật. Hãy thử coi Kant như là một vị Phật và những bông hoa trên mảnh đất của ông tuy có khác với những bông hoa trên đất của Sakyamuni, song chúng đều được sinh ra từ một nguồn ánh sáng mặt trời trí tuệ.

Còn bàn về bốn thầy trò Đường tăng đi thỉnh kinh trong con người Việt Nam thì đây là một câu chuyện dài chưa có hồi kết. Song tôi đồng ý với ông TLK về việc Việt Nam đang quá thiên về “Tôn Ngộ Không” trong giáo dục và đào tạo con người. Tôn Ngộ Không không có Đường Tăng thì chỉ là trí năng lầm lạc, theo đuổi giàu sang và danh vọng hão huyền của Tề Thiên đại thánh và rốt cuộc là bị đè dưới ngũ hành sơn trên có dán câu thần chú Ommani patme hum. Vấn đề đưa giáo dục đạo đức như thế nào để hoàn thiện nhân cách thanh thiếu niên, theo tôi, không thể bỏ qua được phương pháp sử dụng trí tuệ tự soi sáng mình. Chúng ta cần tạo cho các em năng lực tư duy tự do như Kant đã kêu gọi, từ độ tuổi 10 – 14, để sau đó các em sẽ tự phát triển mình với một chút dẫn dắt về mục tiêu và kỹ thuật thực hành. Trong tương lai gần, hy vọng các nhà giáo, các nhà quản lý, lý luận phê bình sẽ sửa chữa, bổ túc, xây dựng cho vấn đề này không chỉ có tính khả thi mà còn được hiện thực hoá trên phạm vi rộng.

03.03.2004

© 2004 talawas

 
© talawas 2026