Đỗ Xuân Phương
Có lẽ, bài viết trước của tôi đã không đủ sức thuyết phục một người giàu kiến thức sách vở như ông Trần Lai Khê (TLK), cho nên tôi xin viết tiếp dựa trên những gì mà ông TLK đã trình bày trong bài viết mới đây.
“Phật Giáo và nhất là Thiền Tông có chủ trương rõ ràng chống trí năng (lý trí), chống suy tư, lý luận. Sở dĩ Thiền Tông chống suy tư lý luận vì thiền định là nghỉ ngơi còn suy tư là lao động. Con người chỉ có thể ở một trong hai trạng thái, hoặc lao động hoặc nghỉ ngơi…”
Quả thực tôi sững sờ khi đọc đoạn văn trên! Thiền định thuần tuý là nghỉ ngơi ư? Tôi không hiểu lý do nào khiến ông TLK đưa ra nhận định như vậy, nhưng có lẽ, tất cả những người tu thiền sẽ phản đối nhận định này bởi vì chẳng có ai chỉ ngồi thư giãn mà đạt được mục đích Giải thoát. Nếu quan sát một người hành thiền, có khi chúng ta thấy họ ngồi buông thư, hay đi dạo một cách nhàn nhã, nhưng có phải là họ chỉ nghỉ ngơi, trống rỗng đầu óc? Kinh Quán niệm có trình bày rõ, sau những hướng dẫn về buông thư, thả lỏng, điều hoà hơi thở v.v., người tu thiền sẽ “khởi sự” quán niệm. Tôi phải gạch chân động từ “quán” vì sự quán chiếu ấy là lý do khiến tôi đưa ra nhận định: thiền quán hay thiền định là một loại hoạt động đặc biệt của trí năng. Thêm nữa, trong “bát chính đạo” của Phật Thích ca (ông TLK đọc nhiều hẳn là đã biết), có một đạo là “chính tinh tiến”, một lời nhắc nhở cho người thực hành thiền định phải dụng công phu trí tuệ, quán chiếu sự thật. Đã gọi là “tinh tiến” thì không thể là nghỉ ngơi trong mọi khía cạnh. Nếu hiểu nghỉ ngơi là nghỉ ngơi thân xác hay là một sự “dọn dẹp” về tinh thần, thì tôi đồng ý rằng: thiền định cần đến sự nghỉ ngơi, một sự nghỉ ngơi cần thiết để chuẩn bị cho người ấ́y bước vào hoạt động trí tuệ với cường độ cao – thấu triệt chân lý.
Trong bài viết trước của tôi, độc giả hẳn là nhận thấy tôi đã đề cập đến vấn đề này rồi, rằng trí năng (hay năng lực trí tuệ) theo nghĩa rộng thì không chỉ là suy tư lý trí, lý luận với những khái niệm. Con người chỉ có một bộ não và quá trình tâm lý xảy ra trong con người gắn với hoạt động trí tuệ đều gọi là trí năng hay xuất phát từ trí năng. Tâm lý học thì dùng thuật ngữ “tri giác” (nhận thức cảm tính) cho khái niệm “trực giác bình thường” mà ông TLK đã sử dụng khi dịch đoạn văn của Kant. Còn “khả năng suy tưởng” thì tương đương với thuật ngữ “tư duy” và “tưởng tượng” là những quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính. Vận dụng các thuật ngữ này cho ba đoạn trích dẫn Kant của ông TLK là phù hợp, không có sự thay đổi nào về ý nghĩa của văn bản. Còn nếu như đối lập trí năng với trực giác thì hẳn là quá máy móc, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện viết khái niệm “trí nghĩ” với “trí làm” nhưng không hề bảo “trí” chỉ là suy tư nghị luận hay tư duy lý trí.
Trở lại bài viết của ông TLK với nhiều trích dẫn từ các đạo sư nổi tiếng như Suzuki, Nhất Hạnh, Krishnamurti dễ thấy rằng ông TLK đã không hiểu hoặc không chấp nhận khái niệm trí năng rộng rãi như tôi đã trình bày. Điều này chứng tỏ ông TLK là một học giả, một nhà nghiên cứu thuần tuý mà không thực hành. Tôi tin rằng, việc nếm trải những kinh nghiệm của thực hành thiền định sẽ giúp ông hiểu rõ hơn thế nào là tri giác, thế nào là trí năng, cho tới những rung động của cảm xúc… Có thực hành, rồi đọc lại các đạo sư thì mới thấy hết cái “ý tại ngôn ngoại” của họ!
Vậy với Kant, ông có cho rằng con người không thể nhận biết chân lý tuyệt đối bất khả tư nghị chăng?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy xét về ngôn ngữ: “tư nghị” là suy tư nghị luận. Về quá trình, thì khi chúng ta suy tư nghị luận là việc chúng ta đem so sánh một đối tượng hay một khái niệm này với một đối tượng hay khái niệm khác. Sự so sánh ấy là tiền đề cơ bản của lối tư duy biện biệt mà các đạo sư đã chỉ rõ là bất khả dụng để đi đến chân lý tuyệt đối. Thêm nữa, đối tượng hay khái niệm đến với chúng ta qua các giác quan, và sẽ là “siêu hình” (hay lý trí thuần tuý) như Kant đã phê phán và ông TLK đã dịch sang tiếng Việt một cách xuất sắc:
“Ta hiểu rằng một vật không phải đối tượng tri giác, nhưng vẫn cố tạo ra khái niệm về vật ấy bằng lối trực giác (bình thường) của ta, đó là noumenon trong nghĩa âm. Nhưng nếu ta hiểu rằng vật ấy là đối tượng của tri giác siêu việt, trong trường hợp này ta cho rằng ta đã có trực giác siêu việt, cái trực giác ta chưa hề có mà cũng chẳng có ý niệm gì, đây là noumenon trong nghĩa dương”.
Kant tuyên bố:
“Tôi không biết và cũng không cần biết những vật tự thân bởi vì chưa có vật nào đến với tôi mà không là hiện tượng”.
Câu nói này của Kant không phải là từ chối việc nhận biết thế giới tuyệt đối nếu chúng ta hiểu rằng thế giới tuyệt đối hàng ngày vẫn tiếp xúc với chúng ta thông qua giác quan và hàng ngày chúng ta vẫn có những hiện tượng của nó trong não bộ! NHƯNG chúng ta không nhận thức nó một cách TRỌN VẸN, mà chúng ta thường nhận thức nó từng mảnh rời rạc, không có liên hệ gì với nhau. Chúng ta là những anh mù sờ soạng con voi “thế giới tuyệt đối”. Chỉ khi nào chúng ta mở bừng con mắt “huệ nhãn” (trực giác siêu việt) thì thế giới tuyệt đối ấy hiển hiện, không phải như một hiện tượng trong tâm trí của ta, mà là sự hoà nhập vĩ đại tất cả những hiện tượng mà ta đã có, bao gồm cả cái tôi cá nhân (Ego). Khai sáng của Kant là chỗ ấy mà Giác ngộ của Phật cũng là chỗ ấy. Danh từ phương Tây không gọi thế giới tuyệt đối là nonmenon như ông TLK đã hiểu, cũng không phải là phenomena, mà là hypermenon (siêu hiện tượng hay siêu khái niệm), một danh từ tương đương với Đạo của Lão Trang hay Bồ đề tự tính của Phật.
Còn về đoạn trích dẫn kinh Lăng Nghiêm rồi nhận định rằng Phật “duy tâm” của ông TLK, tôi xin phép không bàn kỹ hơn vì e rằng “ngôn giả bất trí”. Vị nào muốn tìm hiểu thì xin hãy đọc hiểu kinh rồi trao đổi trong một dịp khác. Ở đây, tôi chỉ muốn nhắc để quý vị liên hệ, rằng: chân tâm bất sinh bất diệt thì gần gũi với tư duy bất biệt hay trực giác siêu việt, còn vọng tâm thì chính là lối tư duy biện biệt (bao gồm cả siêu hình học mà Kant đã đả kích).
Tài liệu tham khảo:
- Nguyễn Khắc Viện
- Từ điển Tâm lý, NXB Ngoại văn, Hà Nội 1991
- Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành
- Tâm lý học đại cương, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội 1998
- Thích Nhất Hạnh
- Phép lạ của sự tỉnh thức (Cẩm nang tu thiền), NXB Lá Bối
- Skywalker,
- Phải chăng ý thức đi nhanh hơn ánh sáng, Physicsvn Community 2003
© 2004 talawas