Elisabeth Schroeder-Butterfill, Ruly Marianti
Sự lão hoá dân số và hỗ trợ cho người cao tuổi đang là những đề tài ngày càng trở nên quan trọng đối với cả Châu Âu và Châu Á. Hiện tại cứ năm người Châu Âu thì có một người 60 tuổi trở lên; vào năm 2050, tỉ lệ này sẽ là hơn một trên ba. So với Châu Âu, phần lớn dân số Châu Á còn trẻ, trừ dân số Nhật Bản. Tuy nhiên, tốc độ thay đổi nhanh chóng về cơ cấu tuổi đang diễn ra; con số khổng lồ của bộ phận dân chúng cao tuổi tương phản với mức tích luỹ khá thấp về của cải và mức hỗ trợ chính thức, đã gây ra những quan ngại và đưa đến một loạt nghiên cứu về người cao tuổi ở Châu Á. Điều này đã đem lại những dữ liệu có chất lượng và thường có thể so sánh được giữa sự hỗ trợ cho người cao tuổi ở Châu Âu với điều này ở Châu Á, mặc dù có ít người tìm tòi để phát hiện những điểm tương đồng và các bài học từ những kinh nghiệm khác nhau.
Bài dưới đây cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về một cuộc hội thảo thuộc đề tài này, được tiến hành tại trường Đại học Brawijaya, Malang, Indonesia, từ ngày 08 đến 10 tháng 7 năm 2004.
*
Đáp lại thách thức chung đối với hiểu biết về tác động của sự lão hoá trong xã hội, gia đình và cá nhân, một hội thảo quốc tế được trường Đại học Brawijaya (Indonesia) phối hợp với hai trường Oxford và Amsterdam tổ chức, mang tên Những khả năng tổn thương của tuổi già: Góc nhìn Châu Á và Châu Âu. Mục đích của cuộc hội thảo này là khởi xướng những trao đổi về vấn đề lão hoá trên cơ sở một khung lý thuyết chung về khả năng tổn thương, tập trung đặc biệt vào các nhóm người cao tuổi bị thiệt thòi. Có ba lý do để tập trung vào các nhóm này:
- Những người cao tuổi dễ bị tổn thương thuộc vào diện quan tâm nhân đạo.
- Khi nghiên cứu khả năng tổn thương, chúng ta quan tâm tới quá trình hoà nhập và sự loại trừ có tính tương đối, để có thể không phải bận tâm tới những khác biệt mang tính tuyệt đối về bối cảnh kinh tế – xã hội hay chính sách.
- Đồng thời, khung nghiên cứu về khả năng tổn thương cũng khuyến khích tranh luận về những biện pháp can thiệp thực tế và đúng mục tiêu.
Khi nghiên cứu khả năng tổn thương, chúng ta tìm cách hiểu tại sao một số cá nhân lại phải chịu nhiều rủi ro hơn từ các tác động tiêu cực, trong khi những người khác lại an toàn hơn. Tất nhiên, ý tưởng này là không mới. Khả năng tổn thương lâu nay vẫn được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về thiên tai, dịch bệnh và nạn đói, nhưng hiếm khi được áp dụng một cách có hệ thống vào nghiên cứu về tuổi già. Làm như vậy đòi hỏi phải xác định các nhân tố rủi ro, những mối đe doạ, khả năng và kết quả của việc chịu đựng, cũng như xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố này theo thời gian.
Nghiên cứu về khả năng tổn thương, trước hết cần làm sáng tỏ những tác động mà người ta thường tìm cách né tránh. Nói cách khác, người cao tuổi cảm thấy dễ bị tổn thương trong những hoàn cảnh nào? Đó có thể là chết sớm hoặc cuộc sống không được đúng mức cần thiết, thiếu sự chăm sóc hoặc hỗ trợ về mặt xã hội, lẻ loi và nghèo đói, phụ thuộc, phải vào nhà dưỡng lão, hoặc sự cô đơn. Tuổi già có thể là một giai đoạn có nhiều sự gián đoạn, và thông thường những mối đe dọa hay khủng hoảng cụ thể, chẳng hạn việc mất đi người bạn đời, thời điểm ngưng việc làm, hay ốm đau, đều có khả năng tích tụ những suy sụp đáng kể, trừ khi có những cơ chế bù đắp thích hợp. Vì vậy, để hiểu được khả năng tổn thương, đòi hỏi có sự quan tâm tới những hình thức tạo ra nguy cơ tiếp xúc với rủi ro của một người trong cả cuộc đời. Ví dụ, việc không có con của một phần tư hoặc một phần năm dân số ở một số nước Châu Âu và Châu Á có thể dẫn đến sự thiếu vắng về chăm sóc lúc tuổi già; ly dị – một hiện tượng phổ biến ở Châu Âu và các nước Đông Nam Á theo đạo Hồi – có thể khiến cho những người đàn ông cao tuổi chỉ còn những quan hệ xã hội thu hẹp và đặc biệt dễ bị tổn thương khi ốm đau. Tương tự như thế, cuộc đời nghèo khổ hay bị loại khỏi thị trường lao động cũng sẽ ngăn cản việc tích luỹ của cải, tiết kiệm, hay việc hưởng lương hưu để có chỗ dựa lúc tuổi già.
Tất nhiên không phải người già nghèo, ly dị hay không con nào cũng là những người dễ bị tổn thương. Họ có thể hoà nhập trong xã hội, cộng đồng và các quan hệ họ hàng, do đó, họ chịu rất nhiều ảnh hưởng từ những nguồn lực cũng như những hạn chế của các cơ cấu lớn hơn này. Chính vì vậy, nghiên cứu về khả năng tổn thương luôn đòi hỏi lưu tâm tới những chiến lược và nguồn lực khác biệt. Đặc biệt quan trọng là bối cảnh văn hoá và xã hội định hình quá trình chuyển giao của cải theo thông lệ giữa các thế hệ và giữa hai giới, bởi không phải ai cũng có cùng các nguồn lực và chiến lược cuộc sống như nhau.
Một trường hợp ngoại lệ là xã hội mẫu hệ của người Minangkabau ở Sumatra, trong đó nam giới thường có vị trí dễ bị tổn thương lúc tuổi già, vì quyền lợi đối với tài sản và sự hỗ trợ mà họ có được là thông qua vợ hoặc các chị em gái của mình. Tại Châu Âu và các nhóm khá giả hơn ở Châu Á, những bảo trợ xã hội chính thức từ nhà nước hay thị trường có thể tránh cho người già khỏi bị bần cùng hoá hay không được chăm sóc y tế tốt khi ốm đau. Mặc dù tại Châu Á tầm quan trọng của các mạng lưới xã hội không chính thức trong các bộ phận dân chúng nghèo hơn thường được nhấn mạnh, cũng không nên đánh giá quá cao khả năng của các mạng lưới này trong việc hạn chế rủi ro và giảm nguy cơ tổn thương. Như một số bài trong hội thảo đã minh họa, người nghèo thường có các mạng lưới nghèo hơn và nhỏ hơn so với những người khá giả hơn. Nói thẳng ra là người nghèo dù có được chia sẻ thì cũng vẫn là người nghèo, và trong những hoàn cảnh hạn chế về kinh tế, hiếm khi người già được gia đình, cộng đồng và xã hội coi là ưu tiên hàng đầu. Vì vậy, một trong những điểm thảo luận chủ chốt là tầm quan trọng của các hình thức bảo trợ chính thức và được quy định bằng pháp luật đối với các tiểu nhóm dễ chịu tổn thương. Cho tới nay, nhiều nước Châu Á thường có xu hướng hỗ trợ cho các nhóm vốn đã khá được ưu đãi rồi, ví dụ nhân viên nhà nước hay những người tham gia thị trường lao động chính thức. Quan niệm về các lợi ích phổ quát vốn được thừa nhận rộng rãi ở Châu Âu (mặc dù cũng đang ngày càng bị đe doạ), mới chỉ bắt đầu có ý nghĩa quan trọng ở Châu Á. Ví dụ, Indonesia gần đây đã thông qua một luật An sinh Xã hội mới, trong đó nhắm đến những nỗ lực mở rộng dần sự bảo trợ đối với các nhóm dễ bị tổn thương, kể cả những người làm việc trong khu vực không chính thức.
Mặc dù sự nghèo khổ có nguy cơ làm tăng thêm những mối đe doạ và làm giảm đi khả năng chống chịu trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, chúng ta cũng không nên chỉ xét tới yếu tố này mà không chú ý tới các ngọn nguồn khác của khả năng tổn thương lúc tuổi già. Những mối đe dọa có tính chất xã hội và tâm lý đối với an sinh trong giai đoạn sau của cuộc đời, chẳng hạn sự mất quyền tự chủ, sự cô đơn hay cảm giác bất lực, là những vấn đề nổi trội – theo ý kiến của những người cao tuổi. Vì vậy, kể cả ở bắc Sulawesi hay Hà Lan, người ta đều lo sợ phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác, đặc biệt là phải phụ thuộc vào họ hàng xa hay những người không có quan hệ máu mủ gì, cũng như vào những dịch vụ chăm sóc vốn đã quá tải. Chính vì vậy người cao tuổi cố gắng nhiều trong việc duy trì sự độc lập của mình, bằng cách tiếp tục làm việc hay chuyển sang một công việc dễ dàng hơn, bằng cách nói nhẹ đi những băn khoăn về sức khỏe hay tình cảm, bằng cách tham gia vào những trao đổi tương hỗ quy mô nhỏ, hay thông qua việc tìm kiếm sự giúp đỡ của những người cao tuổi khác.
Hội thảo kết thúc bằng một cuộc thảo luận để nhằm đưa các ý kiến về chính sách để có thể tiếp cận gần hơn đến các nhóm dễ bị tổn thương, và để ngăn chặn việc tăng cao số người cao tuổi dễ tổn thương, cũng như ngăn chặn sự chuyển biến từ tổn thương sang những nguy hại nghiêm trọng khác. Những người tham dự hội thảo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo trợ về vật chất đúng mục tiêu, việc chú tâm chăm sóc sức khỏe về lâu dài mà không “bệnh nhân hoá tuổi già”, xét lại các yếu tố pháp lý về bảo trợ và thực thi các chính sách này, cũng như việc duy trì và củng cố sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng. Mặc dù những điểm này không có gì mới đối với những người quan tâm tới khả năng tổn thương và vấn đề an sinh cho tuổi già, việc truyền tải các vấn đề này từ các nhà nghiên cứu (những người thường nhấn mạnh tính phức tạp của chúng) tới các nhà làm chính sách (những người vốn không dễ thu hút và duy trì sự quan tâm) thường gặp vấn đề. Với sự tham gia của báo chí và các tổ chức như Tổ chức Quốc tế Trợ giúp Người cao tuổi (Help-Age International), vốn là các tác nhân có khả năng vận động trực tiếp những người làm chính sách, mong rằng đã có một đóng góp nhỏ bé nhưng có ảnh hưởng lâu dài tới việc giảm bớt khả năng tổn thương ở người cao tuổi.
Elisabeth Schroeder-Butterfill là nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm Vương quốc Anh, công tác tại Đại học St. Antony, Oxford; Ruly Marianti là nghiên cứu viên cao cấp tại Viện nghiên cứu SMERU ở Jakarta
© 2005 talawas