trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
17.10.2003
Quốc Việt
Kẻ thù của nền giáo dục
 

Mấy năm trước, tất cả các phó tiến sĩ (đào tại trong nước hoặc Đông Âu và Liên Xô cũ) đồng loạt bị chuyển sang gọi là tiến sĩ. Mấy ông tiến sĩ thật toan phản đối nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ. Các ông đành chịu chấp nhận, mặc dù cá nhân tôi biết là có một số người vẫn cảm thấy ấm ức. Thực ra, có gọi là tiến sĩ thì cũng không sai lắm: một số trường ở Nga, tốt nghiệp đại học được cấp bằng thạc sĩ, vậy thêm mấy năm nghiên cứu tất nhiên phải là tiến sĩ. Với lại vấn đề quan trọng hơn cả là ở thời điểm đó, hệ thống giáo dục cao học Việt nam đối mặt với một yêu cầu mới: trong khi quay mặt lại về phương Tây, nơi người ta gọi học vị kế tiếp đại học là thạc sĩ thì Việt nam không thể một mình một khoảnh gọi phó tiến sĩ. Còn chuyện tại sao lại gọi là tiến sĩ chứ không là thạc sĩ thì chủ yếu vì vấn đề thể diện quốc gia. Không thể chấp nhận được là Việt nam lại chỉ có một ít tiến sĩ, còn lại toàn là thạc sĩ cả. Các phó tiến sĩ đã từng phải thi tối thiểu, thi triết, thi toán, làm nghiên cứu khoa học một cách gian khổ (thực sự) lại chỉ có học vị giống các cô cậu thạc sĩ trẻ măng đào tạo sau thời mở cửa ư? Nhà nước lại phải bỏ ra thêm bao nhiêu tiền của và công sức để đào tạo học vị Tiến sĩ ư? Vì vậy mà trong một đêm chúng ta có một lượng tiến sĩ đủ để sánh vai với các cường quốc trong khu vực. Mấy kẻ xấu miệng tung tin đồn rất cả tin rằng quyết định chuyển đổi cách gọi học vị ấy là kết quả vận động hành lang của Hiệp hội các nhà in danh thiếp, hoặc là sự tác động ngoại giao của Nga- chủ thể kế thừa các trách nhiệm và quyền lợi của Liên bang Xô viết cũ. Nhưng đừng tin họ. Sự không bằng nhau nếu có của sự chuyển đổi ấy là hệ quả tất yếu của sự bắt đầu những thay đổi. Mọi sự đều phải có một khởi điểm.

Thế nhưng nếu như cách gọi học vị có thể đạt được sau một đêm thì cả hệ thống giáo dục lại không đơn giản như vậy. Hệ thống giáo dục đại học của Liên Xô khi trước phân ngành hẹp đến kinh ngạc. Mỗi một bộ, ngành có một trường đại học. Thủ đô Mascow có đến dăm bảy chục trường đại học. Các trường gọi là bách khoa thường chỉ là các ngành khoa học tự nhiên cơ bản. Hệ thống giáo dục Việt Nam (và không chỉ thế) là một sự sao chép triệt để mô hình của Liên Xô. Khi Liên Xô tan rã, nhìn sang phương Tây, có lẽ mọi người bắt đầu nhận thấy rằng một hệ thống giáo dục tập trung, bao cấp như vậy rất không phù hợp với một nền kinh tế thị trường, với một nước nông nghiệp và có nền kinh tế nhỏ như ở Việt Nam. Cuộc trường chinh cải cách bắt đầu: hợp nhất trường, tập trung học đại học đại cương, thi chung, thi riêng, … Không ngạc nhiên khi cải cách giáo dục ở Việt nam lại nhộn nhịp như vậy. Sự nhộn nhịp luôn đi đôi với sự lưỡng lự và không có phương hướng rõ rệt.

Điều đó chứng minh một điều là chúng ta luôn phải chạy theo bên ngoài. So với các nước trong khu vực thì chúng ta có kém cũng chỉ kém ở chỗ xác định cái bên ngoài ấy là gì mà thôi. Khi trước chúng ta theo những chuẩn mực của Liên Xô, còn bây giờ thì chúng ta theo những chuẩn mực của phương Tây. Ít nhất thì giờ đây chúng ta cũng nói một tiếng nói có vẻ chung: đó là đã thống nhất được học vị cao học.

Một chuyện gần giống như vậy nhưng chưa được giải quyết thoả đáng như vậy là chuyện học hàm, hay chức danh khoa học, hay chức danh giáo sư, phó giáo sư. Theo tin từ Vietnamnet, từ năm 1980 đã có 6 đợt xét duyệt chức danh. Mỗi đợt xét duyệt trên toàn quốc. Từ năm ngoái thì chuyện đó đã trở thành thường niên. Trước, gọi là phong học hàm, bây giờ gọi là công nhận chức danh. “Một tiến bộ đáng ghi nhận” [1] ! Cách gọi như thế nào thì đã thống nhất, nhưng thực hiện thì bắt đầu có khác biệt vì đi vào chi tiết thì phương Tây hoá ra lại có nhiều kiểu khác nhau. Ở Việt nam không đưa ra công khai tranh luận nên chỉ khi thực hiện mới biết chúng ta theo kiểu nào hoặc là đã sáng chế được kiểu nào mà thôi. Sai đâu sửa đấy. Điều kiện Việt Nam khác các nước khác nên phải biết học và áp dụng cho phù hợp. Nửa vời hay không nửa vời không phải là tiêu chí đánh giá!

Rất khó theo dõi để biết đường hướng của hệ thống ở VN được thiết kế đi về đâu. Tuy nhiên, theo dõi tin tức và một vài ý kiến hiếm hoi, có thể đoán được hai luồng suy nghĩ về hệ thống giáo dục. Biểu hiện cụ thể qua cách nhìn đối với vấn đề chức danh GS, PGS.

Trong bài phỏng vấn trên Việtnamnet tiến sĩ Hoàng Tụy cho rằng “không ai tuyển chọn GS như ta, dựa trên cơ sở tính điểm từng công trình, từng giáo trình, v.v… rồi cộng lại đủ số điểm mới được xét”. Và ông cũng đề xuất những biện pháp cụ thể xoay quanh vấn đề chức danh này. Những ý kiến này không mới mà thực tế là kinh nghiệm xử lí của nước ngoài. Có thể nói mô hình này là mô hình Mĩ, nơi các trường có hầu như toàn quyền với chức danh giảng dạy và nghiên cứu của mình. Một giáo sư gắn liền với một trường đại học, khi rời khỏi trường hay khi không nhận lương toàn phần trong một thời gian nhất định, chức danh đó không còn. Vì vậy mà ở Mĩ, khi xưng hô, ít khi người ta dùng danh xưng Giáo Sư, trừ khi ở trong trường hoặc nhất định cần chỉ đến chức danh, công việc. Thông thường, người ta dùng học vị bởi nó không phụ thuộc vào những điều kiện bên ngoài khác.

Mô hình Việt Nam chắc chắn không phải kiểu Mĩ. PGS, GS được xét duyệt dựa trên các tiêu chuẩn có tính toàn quốc, do một hội đồng quốc gia tính điểm xét duyệt. Một ông thứ trưởng chẳng dạy ở trường đại học nào cũng có thể hãnh diện in trong danh thiếp là Phó giáo sư. Suy nghĩ này có thể đọc thấy trong bài góp ý với tiến sĩ Hoàng Tụy của giáo sư Trần Thanh Đạm [2] . Ông cho rằng cái ý “giáo sư cụ thể” của ông Hoàng Tụy chẳng có ý nghĩa gì vì tất nhiên ông Hoàng Tụy là giáo sư Toán, còn ông Trần Thanh Đạm là giáo sư Văn. Ông Đạm còn cho rằng “Hơn nữa, những người có chức quyền mà lại được có chức danh thì đúng quá đi rồi chứ sao!” !?

Vậy là tôi nghĩ rằng tôi nắm được hai luồng suy nghĩ về chức danh, suy rộng hơn là về hệ thống giáo dục. Một bên (tiến sĩ Hoàng Tụy) quan niệm chức danh giáo sư như một chức vụ khoa học gắn liền với một cơ sở đào tạo, và do vậy mà phải do cơ sở đó quyết định; dựa trên nhu cầu, khả năng, … của cơ sở đó. Chứ không phải là một chức danh “chung chung”, có tính toàn quốc, dựa trên các tiêu chuẩn đồng nhất toàn quốc và do một hội đồng toàn quốc xét duyệt. Quan niệm này đặc trưng cho đường lối xây dựng giáo dục như một hệ thống cạnh tranh, nhiều quyền độc lập hơn cho các cơ sở giáo dục. Tiến sĩ Hoàng Tụy vẫn dành cho hội đồng quốc gia một chỗ đứng, nhưng thay vì trực tiếp xét duyệt việc công nhận chức danh dựa trên một thang điểm cứng nhắc thì hội đồng này cần chuyển sang làm việc kiểm tra tư cách của ứng viên, xét duyệt sự phân bố chức danh. Tôi gọi quan điểm này là quan điểm thị trường mà mục tiêu của nó nhắm tới sự đa dạng hóa, xã hội hoá giáo dục, sự giải toả gánh nặng ngân sách và nhiệm vụ của bộ máy quản lí nhà nước. Liệu đó có phải là điều mà mọi người hiện giờ đang nói đến không?

Một bên (Giáo sư Trần Thanh Đạm), ngược lại, quan niệm chức danh giáo sư như một danh, tước dành cho những cá nhân trong ngành giáo dục thỏa mãn những yêu cầu nào đó, cần được tôn vinh. Vì vậy mà xét duyệt, bãi miễn đều thuộc về một hội đồng có tính quốc gia, dựa trên các tiêu chuẩn chung và một cơ chế xét duyệt duy nhất. Quan niệm này đặc trưng cho đường lối xây dựng một hệ thống giáo dục thống nhất, tập trung trong tay các cơ quan quản lí nhà nước, với một mong muốn (?) thiết lập một tiêu chuẩn quốc gia. Tôi gọi quan điểm này là quan điểm kế hoạch bao cấp mà vô hình chung nó bào chữa cho một hệ thống giáo dục đồng nhất toàn quốc do nhà nước quản lí một cách toàn bộ. Một hệ thống “bắt phanh trần phải phanh trần”. Rất có thể chỉ là hệ quả của cơ chế quản lí nhà nước đối với hệ thống giáo dục chứ chưa chắc đã là một quan điểm độc lập về vấn đề chức danh.

Bản tin của Vietnamnet ngày 12/10/2003 viết:

Sau hai ngày làm việc, 10 và 11/10, Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước đã xét công nhận chức danh GS cho 62 tiến sĩ và chức danh PGS cho 388 tiến sĩ hiện đang giảng dạy tại các trường ĐH hoặc công tác tại các viện nghiên cứu... đây là lần công nhận thứ 6 ở Việt nam và lần thứ 2 theo qui định mới."

"Việc xét công nhận chức danh GS, PGS ở Việt Nam tiến hành từ năm 1980 và có thêm ba đợt vào các năm 1985, 1991, 1996 với cách gọi "phong học hàm". Công việc này bắt đầu tiến hành thường niên từ năm 2002 bằng cách gọi "công nhận chức danh" với một số thay đổi trong thủ tục, quy trình và thời gian xét duyệt,"

Cũng theo bản tin này, số các giáo sư và phó giáo sư trong các trường đại học chiếm 76.2% và 71% tổng số các GS, PGS được công nhận. Con số 388 PGS phân bổ cho 26 ngành và 21 ngành có thêm GS mới. Trong số này, nhiều nhất vẫn là ngành Kinh tế – Luật với 15 GS và 63 PGS. Tiếp đến là ngành y tế với 10 GS và 61 PGS. Ít nhất là ngành luyện kim với 1 GS và 1 PGS. Như vậy, hiện nay cả nước có 1.094 GS và 4.951 PGS.

Chắc chắn là có ngành chẳng có GS và pGS, còn có ngành có thể có nhiều hơn. Nên để ý kĩ hơn đến cụm từ “hiện nay, cả nước có 1094 GS và 4.951 PGS“. Tôi dám cá rằng con số này dựa trên tổng số chức danh GS và PGS đã từng được phong, chứ không phải là con số chức danh hiện đang làm việc trong các cơ sở đào tạo. Nghĩa là chúng ta phong một lần và mãi mãi. Một khi đã là GS, mãi mãi là GS. Không quan trọng lắm việc được phong bao giờ, gắn với trường đại học nào, nhiệm vụ cụ thể của chức danh ấy là gì. Cho dù có bày đặt ra một hình thức bãi miễn có tính quốc gia thì nó cũng chỉ có tác dụng tạo thêm nhiều kẽ hở nữa mà thôi. Nó làm cho người ta liên tưởng đến chuyện thi đại học hoặc là một hình thức khác hơn của học vị cao cấp. Cho dù đa số người có chức danh GS xứng đáng là giáo sư thì điều đó cũng không thay thế được những bất cập của cơ chế quản lí và kiểm soát có tính toàn quốc đó.

Tôi tin rằng khó có một giải pháp “sốc” nào đó cho việc nâng cao chất lượng chức danh, khi mà hệ thống giáo dục thực sự vẫn là một hệ thống tập trung và bao cấp, khi tất cả các trường đại học vẫn nằm dưới một sự quản lí duy nhất về mọi mặt, từ lương bổng, nhân sự, đến chức danh và các chỉ tiêu đào tạo. Một liệu pháp cấp nhà nước có thể không giải quyết được vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo sư, bởi lẽ nhà nước có lẽ không bao giờ đủ to để có thể giải quyết được tất cả những vấn đề nhỏ như vậy. Các đề nghị cụ thể của tiến sĩ Hoàng Tụy dường như vẫn chỉ là “cho đã” (theo GS Trần Thanh Đạm). Những trường đại học tư, đại học dân lập, liên doanh, sẽ vẫn là những chủ thể “ngoài vòng pháp luật”. Việc giám định, kiểm soát chất lượng và phân bổ những ưu đãi quốc gia vẫn chỉ thuộc về ông nhà nước, cụ thể như việc thi chức danh. Như thế, những bài toán của ngành giáo dục, cụ thể và nhỏ như việc chức danh, đã không còn là của riêng ngành giáo dục. Nó đụng chạm đến toàn bộ tư duy của xã hội về xã hội phải như thế nào, và hệ thống giáo dục phải như thế nào. Thị trường hay không thị trường. Tập trung hay xã hội hoá. Kẻ thù của ngành giáo dục không nằm trong những lỗi sách giáo khoa hay cái tâm của một vài cá nhân cụ thể. Nó có lẽ nằm trong ý muốn và hình dung của xã hội về một cơ chế quản lí xã hội và giáo dục.

Trong khi chờ đợi thì có lẽ tôi nên nghe ngóng xem ai đang cần thu thập sinh viên làm tiến sĩ chăng?

© 2003 talawas


[1] www.vnn.vn/482/2003/5/12255/, các trích dẫn tiếp theo đều từ nguồn này.
[2] www.vnn.vn/482/2003/7/20957/

(Không phải có ý phân biệt, nhưng đặt trong tương quan quan điểm về chức danh tôi cho rằng sẽ phải là tương xứng khi dùng cách xưng hô Tiến sĩ Hoàng Tụy, và Giáo sư Trần Thanh Đạm. Sẽ không công bằng và hợp lí nếu như đứng trên quan điểm của tiến sĩ Hoàng Tụy để dùng danh xưng giáo sư một cách rộng rãi, và ngược lại, đứng trên quan điểm của Giáo sư Trần Thanh Đạm để dùng danh xưng Giáo sư một cách tiết kiệm).

 
© talawas 2026