trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
28.11.2003
Trần Ngọc Vương
Kẻ đốt đền:Vẽ người khác hay tự hoạ?
 

Thật là không phải với độc giả khi tôi bắt đầu bài viết bằng việc bày tỏ ngay một thái độ không mấy vui vẻ và dường như thiếu lịch sự, bởi không thể nói khác rằng trước hết chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm nặng nề một cách khá vô cớ, và sau đó tự bên trong xuất hiện một sự bất bình sâu sắc trước bản dịch bài viết của một “nhà Ðông phương học” nào đó có tên là Patrick Raszelenberg (PR) trên talawas, dẫu với một cái tiêu đề khá tối tăm trong dạng thức Việt ngữ “Nguyễn Phan Thịnh và Trần Ðình Hượu: hai lối tư duy hổ thẹn hay khiến phải hổ thẹn?”



Từ bất ngờ, kinh ngạc tới giận dữ và cuối cùng là khinh bỉ, tôi đã phải tự kiềm chế và cố gắng “khách quan hoá” tối đa bằng việc tìm được bản gốc bài viết tiếng Ðức – để nhờ một vài người bạn đối chiếu lại giùm, bởi tuy cũng dùng được vài ba thứ tiếng nhưng không may tôi lại không biết thứ tiếng này. Có lẽ, hay đúng hơn là theo lời của các bạn đối chiếu giúp ấy, một số chỗ, một số từ ngữ được chuyển ngữ không thực chuẩn xác, nhưng nhìn chung thì cả chính kiến lẫn thái độ của của tác giả này đã được bản dịch truyền đạt. Sau nhiều lần cân nhắc, tôi quyết định không ghìm nén thái độ lại cho riêng mình, mà cần nói to lên những gì mình cảm nhận thấy với bàn dân thiên hạ (của talawas).

Vả lại, tôi, dẫu muốn, cũng không thể im lặng, vì tôi là học trò của thầy Trần Ðình Hượu, một trong số những học trò thân thiết nhất, được “đồng môn” chọn làm “trưởng tràng”. PR cố tình tung ra một lời thách thức và xúc phạm tới một người quá cố, thì trách nhiệm của người đang sống là phải tự vệ giúp bậc tiền bối của mình. Ðể bạn đọc khỏi phân vân mất thời gian, tôi khẳng định rằng PR biết rõ mình đang nói tới ai, khi anh ta bàn tới cái tài liệu được anh ta nói rõ: “có trong kho lưu trữ của talawas“, bất chấp tài liệu đó đã ghi rõ rành rành “đầu đề do ban biên tập đặt. Ðây không phải là một bài viết độc lập, mà được ghép từ nhiều chuyên luận khác nhau của GS Trần Ðình Hượu (1928 – 1995) đã công bố từ năm 1986 trở về trước trong nước. Văn bản này do Trương Hồng Quang tập hợp, lần đầu đăng trên Tạp chí Ðối thoại “, số 4, 1992 Berlin và mới đây được in lại trên tạp chí Văn hoá – Nghệ thuật số 6/2001, Hà Nội“.

Bài viết của PR bộc lộ quá nhiều những sắc thái cần phải xử lý. Tuy nhiên trong khuôn khổ của một bài viết tôi chỉ có thể đề cập hay đi sâu một số điểm mà tôi nghĩ là đáng nói nhất. Tôi cũng không muốn coi bài viết của mình chỉ là một bài trả lời – có những thứ trong bài viết kia không đáng để trả lời – mà còn là một cơ hội để làm quen, để tìm kiếm bạn bầu chung tiếng nói, nghĩa là chủ yếu hướng tới độc giả.

1. Về “cảm hứng chủ đạo” trong bài viết của PR.


Cái cốt yếu của cả hai bài viết đều không phải là nội dung, mà là cái kiểu nói của chúng; kiểu nói dùng để diễn cái thái độ rất sính ở Việt Nam: lý tưởng hoá nhược điểm của mình.



Sự lý tưởng hoá này dựa trên nhiều nhận thức sai lệch cố hữu: sự lạc hậu, sự thiếu phẩm cách, mối đe doạ trường kỳ và nhu cầu tự cách biệt. Ðược diễn đạt với giọng điệu than vãn. Ý tôi không phải bảo đó là giọng điệu ai oán, song ta cứ có cảm giác lời than vãn này là một phản xạ văn hoá được lĩnh hội từ lâu.

Nhu cầu than trách không chỉ mạnh, nó còn đi đôi với một kiểu dáng thương thân trách phận mà lại không xem trọng chính mình bằng không thì người ta đã không bảo vệ một cách quyết liệt cái than vãn ấy“.

Tôi chưa được biết ông Nguyễn Phan Thịnh , nhưng nhân “vụ việc” này mà tôi đọc bài viết có liên quan tới đó của ông. Theo cảm nhận cá nhân của tôi, thì ông Thịnh chỉ làm một việc đơn giản là phiếm luận về cái gọi là “thân phận quốc gia dân tộc mình“. Nhiều chi tiết, nhiều sở kiến sở tri của ông chưa đúng hoặc chưa chắc đúng. Nhưng điều đáng trọng hay chí ít đáng đồng tình ở bài viết của ông là niềm khao khát, là ước mơ làm sao để quốc gia – dân tộc này “mở mày mở mặt” với năm châu bốn biển. Ông Thịnh đâu có “lý tưởng hoá nhược điểm của mình“, mà cũng đâu có thiếu tự trọng? PR đọc chữ mà không hiểu nghĩa bài viết của ông Thịnh, đấy là điều khá rõ. Hẳn ông Nguyễn Phan Thịnh cũng ngạc nhiên về tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt” này?

“Ðích ngắm” trong bài viết của PR trước hết là Trần Ðình Hượu. Nhưng PR không chỉ muốn “tỉa gục” Trần Ðình Hượu và Nguyễn Phan Thịnh, mà còn bộc lộ một tham vọng lớn hơn, xuất phát từ một chủ ý độc địa và ngông cuồng hơn: hạ đo ván một loạt “tên tuổi” được coi là quan trọng trong giới khoa học xã hội Việt Nam như Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn…, nhân thể, miệt thị luôn cả “những việc làm ấu trĩ của chính phủ Trung Quốc” và giới sử gia Trung Quốc. Tất cả họ, theo PR, đều can tội “lý tưởng hoá nhược điểm của mình“, đều “muốn đẩy lùi thời điểm bắt đầu lịch sử của dân tộc hoặc của quốc gia, nhà nước, bắt nguồn từ một khái niệm lịch sử không rõ ràng và một khái niệm văn hoá tạp nham“. Vậy nên phần chính yếu trong bài viết của PR đã được sử dụng để trình bày những hiểu biết – thoạt xem thì có vẻ bác cổ thông kim, nhưng xét kỹ thì hầu hết đều là những kiến thức và lập luận phổ thông trong giới nghiên cứu – mà tác giả đã huy động nhằm chứng minh cho một vài định kiến có trước.

PR chê trách Trần Ðình Hượu và Nguyễn Phan Thịnh về việc “lý tưởng hoá những nhược điểm của mình“, coi đó như điểm then chốt trong hai bài viết mà anh ta đề cập. Rất có thể anh ta cũng không biết gì nhiều hơn về hai tác giả này ngoài hai bài báo đã đề cập, vậy nhưng tôi cần khẳng định ngay rằng anh ta đã không đọc nổi chính cả hai bài viết ấy. Tôi sẽ chưa thảo luận về cả “văn phong”, “lối nói”, bởi vì với tác giả Trần Ðình Hượu, bài báo đã nói tới kia đương nhiên không phải được viết lên bằng chính ngòi bút của ông, mà là một sự lược thuật các ý tưởng của ông rồi tổ chức thành dạng những luận cương vắn tắt bởi một độc giả, một học trò tự nguyện của ông là TS Trương Hồng Quang. Giữa 30 mục được đánh số trong bài với lôgích của tư duy Trần Ðình Hượu không có mối quan hệ nào. Cả điều này, PR cũng được thông báo, tức đương nhiên phải biết. Dù đã biết vậy, PR vẫn nhơn nhơn nhận xét “Trần Ðình Hượu lập luận cũng rời rạc tương tự Nguyễn Phan Thịnh cái có lẽ gây kinh ngạc nhất trong bài viết của ông là sự thiếu hẳn kết cấu và thiếu hẳn quan hệ quy chiếu“. Tôi thì lại kinh ngạc vì một người tự đặt mình ở địa vị “mục hạ vô nhân” mà sao lại dốt nát làm vậy? Sao nền khoa học hùng hậu mà anh ta dựa dẫm để lên giọng dạy đời lại đẻ ra được một gã môn đồ “tiên thiên bất túc”, thiểu năng đến mức không thực hiện nổi những yêu cầu nhập môn tối thiểu là đọc cho thủng một văn bản, trước hết ở các lớp nghĩa đơn giản nhất của nó, các thông điệp quy ước của nó?

Có lẽ cần thiết phải nêu lên một số nhận xét về văn bản những ý tưởng của Trần Ðình Hượu do TS Trương Hồng Quang tập hợp. Trong cả 30 phiến đoạn ở đấy hầu như không có một phiến đoạn nào là trích nguyên văn, nghĩa là các phiến đoạn ấy cũng do chính TS Trương Hồng Quang tổ chức nên. Các câu trong các đoạn cũng đa phần được TS Quang diễn đạt lại, số lượng các câu nguyên văn ít. Nhưng có thể khẳng định: TS Trương Hồng Quang không đưa bất kỳ ý kiến chủ quan nào của mình vào, mà hầu như chỉ “thuật” lại những ý kiến của thầy mình. Thảng hoặc, có những câu do lược thuật đơn giản hoá nên một số sắc thái bổ túc bị cắt giảm, nói một cách nghiêm khắc thì những câu như vậy dễ bị hiểu lệch nghĩa. Tuy nhiên, tôi đã nói là hiện tượng câu như thế có rất ít. Người ta có thể làm như vậy với các công trình khoa học chăng? Theo tôi là hoàn toàn có thể. Nếu được hỏi ý kiến, rằng có nên cho công bố các văn bản được hình thành theo cách đó không, tôi cũng sẽ trả lời khẳng định. Không chỉ các thánh nhân, hiền triết cổ đại Ðông – Tây từng được đối xử như vậy mà ngay trong khoa học thời hiện đại nhiều tác giả cũng được đối xử như vậy. Ðó cũng là một cách đọc và tiếp nhận văn bản thường thấy ở những người đi học. Chỉ một điều luôn phải nhớ: đó không phải là bản gốc. Muốn tác giả nào chịu trách nhiệm thực sự thì phải quy chiếu với bản gốc của người đó.

Tham gia trao đổi “vụ”này, Tâm Nguyên lại tỏ ra võ đoán và suy diễn (không thể nói khác) vì tác giả này cũng tự bộc lộ là chưa đọc gì nhiều các văn bản gốc, cũng không biết về cách viết của GS Trần Ðình Hượu; và cùng với PR, Tâm Nguyên coi rằng chỉ có một lối viết duy nhất “đáng mặt” khoa học là “nói có sách mách có chứng“, là phải trích dẫn, phải chú thích, phải tường giải cặn kẽ mọi điều. Khoa học phải dựa trên nền tảng thực chứng, chuyện ấy ít gây bàn cãi, nhưng các loại văn bản đáng đọc và có khả năng truyền đạt chân lý, gây sức thuyết phục, tạo cảm hứng… đâu có nhất thiết chỉ theo có mỗi một lối trình bày ấy ? Mà ngay cả khoa học thuần tuý nữa, cơ man là công trình không cần chú giải, dẫn dụ, không cần thao tác chẻ sợi tóc làm tư! Ở một tác giả cụ thể, tuỳ theo yêu cầu, tuỳ theo hoàn cảnh, tuỳ theo mục đích, tuỳ cá tính nữa, vẫn có thể tồn tại nhiều phong cách diễn đạt khác nhau. Trần Ðình Hượu cũng đa phong cách như thế.

Trở lại với ý tưởng chi phối bài viết của PR, dễ dàng chứng minh rằng trong các công trình của mình, GS Trần Ðình Hượu không can dự gì đến cái “ác tật văn hoá” mà PR ít nhiều có lý khi nhận xét rằng ở Việt Nam rất sính: biện hộ, hay thậm chí lý tưởng hoá nhược điểm nào đó của mình, đúng hơn, của lịch sử dân tộc mình.

Song chẳng lẽ PR lại đọc từ những dòng này ra tật xấu ấy:


Ta thường hiểu Nho giáo đơn giản, phiến diện, sách vở, coi nó chỉ là ngoại lai, theo quân xâm lược phương Bắc tràn vào,… dường như nó là công cụ xâm lược, là chỉ có sức hấp dẫn những giai cấp thống trị cũ mà không thấy Nho giáo rất thích hợp với cuộc sống hẹp, tự nhiên, đóng kín (trong khuôn khổ – tôi thêm T.N.V.) gia đình, họ hàng, làng xã, rất thích hợp với nông thôn, với nền sản xuất tiểu nông…

Ðó chẳng phải là sự phê phán đối với cách tư duy đơn giản hoá?


Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật. ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội hoạ… phát triển rất cao, ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ (nền) văn hóa , thành đặc sắc văn hoá của dân tộc đó. ở ta, thần thoại không phong phú – hay là có nhưng một thời gian nào đó đã mất hứng thú lưu truyền? Tôn giáo hay triết học cũng đều không phát triển. Người Việt Nam không có tâm lý kiến thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học…“.

Toàn bộ các mục từ 7 đến 9; 12 đến 17; 20 đến 29 trong văn bản lược thuật của Trương Hồng Quang, nghĩa là hầu hết các mục đều đồng vọng cảm hứng tự phê phán dân tộc. Ít nhất, điều đó cũng xứng đáng để được coi là một bộ phận của ý thức dân tộc đã được trưởng thành – bởi năng lực tự phê phán, chỉ tồn tại ở các cá nhân hay cả cộng đồng đã trưởng thành mà thôi.

Nếu tôi hiểu đúng, thì có thể PR rất ác cảm – và điều đó nói riêng cũng nên coi là có lý, thậm chí có thể coi là xuất phát từ một mong muốn lành mạnh – với căn bệnh tự hào theo cách vô lối, lắm lúc lố bịch về những giá trị ảo của quá khứ, mà nhiều người cầm bút hay người có trách nhiệm phát ngôn nhân danh dân tộc ở Việt Nam từng và vẫn đang mắc phải. Cần sòng phẳng mà nhìn nhận rằng, đó là một trạng thái tinh thần gây hại cho tiến trình phát triển hơn là kích thích tiến trình ấy. Nhưng hà cớ gì, PR lại buộc cái tật quả đáng xấu hổ ấy cho một người không những không mang nó, mà còn là người từ rất sớm đã nhận diện nó, phê phán nó một cách đặc biệt can đảm? Cảm hứng phê phán quá khứ để tiến lên là một cảm hứng mạnh mẽ và thấm đẫm trong rất nhiều công trình của GS Trần Ðình Hượu. Xin trích ra ở đây một đoạn trong lời tựa do chính tác giả viết cho công trình Ðến hiện đại từ truyền thống (NXB Văn hoá thông tin, H.1996) mà không ít độc giả trong và ngoài nước đều đã chú ý tới:


Vào những năm đó (những năm 60 70 của thế kỷ XX TNV chú), cái ám ảnh tôi là chủ nghĩa Mao, là chủ nghĩa xã hội kiểu Trung Hoa. Tôi hình dung một con đường lịch sử mà bước đi ban đầu chi phối định hướng những bước sau. Con người bị điều kiện hoá trong môi trường xã hội, trong ý thức hệ truyền thống, ra sức vươn lên phía trước, có khi tưởng mình đã hết nợ với quá khứ lại đẩy bánh xe lịch sử trượt vào rãnh mòn của quá khứ! Với truyền thống văn hoá phương Ðông mà tôi xác định chịu ảnh hưởng quyết định của Nho giáo, tôi chỉ thấy sức mạnh níu kéo trở lại cho sự phát triển” (Sdd, tr.11). Rồi sau đó “với những hiểu biết ít ỏi về kinh nghiệm Nhật Bản và Triều Tiên, tôi cũng bắt đầu hiểu truyền thống văn hoá phương Ðông không chỉ là sự níu kéo, sự cản trở công cuộc phát triển, hiện đại hoá. Vấn đề là ở chỗ phải biết nhìn đúng. Tôi nghĩ rằng Nhật Bản và Nam Triều Tiên và cả Trung Quốc nữa đã thành công vì làm tốt công việc đó” (Sdd, tr.15).

Tôi không chứng minh, mà chỉ khẳng định, rằng GS Trần Ðình Hượu không hề là người dân tộc chủ nghĩa cả theo lối sôvanh lẫn theo lối philixtanh. Ông chỉ bàn tới lịch sử khi có tài liệu lịch sử chứ không bàn tới lịch sử qua chứng cớ của khảo cổ học về thời tiền sử hay qua thần thoại, truyền thuyết. Cái sự “tưng bừng tranh luận trong đường hướng của một thứ chủ nghĩa dân tộc ngốc nghếch, hẹp hòi” chẳng thể tìm thấy sự đồng vọng trong cả suy nghĩ đời thường lẫn trong các công trình mà ông đã viết ra.

Trong khoảng thời gian hơn 20 năm (1963 – 1983), Trần Ðình Hượu hầu như không thể công bố các công trình nghiên cứu của mình. Lý do: ông không phụ hoạ với “dàn đồng ca tập thể”. Ông thường có những ý kiến khác với nhiều “đồng nghiệp” lẫn nhà chức trách về nhiều vấn đề trong phạm vi các khoa học lịch sử ở Việt Nam. Các công trình chủ yếu của ông xuất hiện dày đặc lên một cách đột xuất chỉ trong khoảng 10 năm cuối đời. Ðiều ấy giải thích tại sao ông được công chúng biết đến khá muộn. Nhưng khi đã có cơ hội hơn để công bố ý tưởng và chính kiến, ông cũng không vì thế mà “tranh thủ”, ” tận dụng”. Là một người được đào tạo và tự đào tạo trước hết để làm một nhà triết học, phẩm chất cá nhân quảng trí thạc đức, đôn hậu nhưng nghiêm cẩn, ông không mấy động tâm về những thiệt thòi riêng. Nhiều người nói ông là môn đệ Lão Trang thời nay. Vậy nên, năm 1995 khi ông vừa nằm xuống, một người bạn kế cận ngay trang lứa của ông là GS Nguyễn Kim Ðính mới viết bài tưởng niệm đầy xúc động với tiêu đề mượn từ một câu thơ Ðường rất nổi tiếng “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản“. Xin được trích dẫn đôi đoạn:


Trước đây, trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, ác liệt, thậm chí có những lúc công việc tâm huyết của anh bị đánh giá, nhận xét sai lệch, bạn bè gần gũi chẳng bao giờ nghe anh thốt lên những lời ca thán. Anh lẳng lặng cần mẫn theo đuổi những gì anh nghĩ suy đằm chín với niềm tự tin sâu sắc và với cốt cách Nho phong khảng khái được hấp thụ từ nền nếp văn hoá ngang bằng sổ ngay vốn là truyền thống gia đình“… “Anh thuộc loại người ít bị chi phối bởi những thứ mốt“, những thứ thời thượngồn ào níu kéo. Là con người tôn trọng mối quan hệ giữa danhthực, anh không dễ dàng chấp nhận những gì áp đặt khiên cưỡng không phù hợp với thực tế.“, “Nỗi niềm đau đáu suốt đời của anh đối với bản sắc, truyền thống văn hoá, văn học dân tộc, hơn nữa, ở anh trở thành một niềm đam mê khoa học sâu sắc, đáng quý trọng biết bao. Anh thường tiết kiệm lời, ít trích dẫn bậcnày vịkia, nhưng tiếp xúc trao đổi cùng anh, bạn bè gần gũi đều biết anh đọc rất kỹ…” (Tạp chí Ðại học Tổng hợp Hà Nội số 24, 5.1995).

Khác với nhiều người mà lúc còn sống tiếng tăm lẫn thế lực đầy mình nhưng khi mất rồi lại không mấy ai buồn nhắc, GS Trần Ðình Hượu càng ngày càng được nhiều người tìm đọc, chia sẻ. Ðó là những dấu hiệu của nhà khoa học chân chính và từ phía khác, cũng là bằng chứng của sự trưởng thành của ý thức xã hội.

Ðến đây, chắc độc giả và cả những người liên đới đã hiểu vì sao tôi có lời trước rằng chúng tôi tức giận: PR làm ngược lại công luận của học giới ở Việt Nam.





2. Về một biến tướng “hậu hiện đại” của một thứ chủ nghĩa thực dân trong khoa học và văn hoá



Những phản vấn của PR về các vấn đề cụ thể lẫn cung cách “trói voi bỏ rọ” của anh ta đối với GS Trần Ðình Hượu, thiết nghĩ, được đáp lời thế cũng tạm đủ. Vậy nhưng cắc cớ hơn, thậm chí đáng cảnh giác hơn, là thái độ của anh ta đối với văn hoá Việt Nam, đối với những gì thuộc về lịch sử Việt Nam và rộng hơn đối với khu vực Ðông á – Ðông Nam á, bao gồm cả Trung Quốc, đối với cả các “chính phủ” lẫn giới khoa học.

Diễn đạt ý tưởng của mình bằng một lối văn luận chiến – tuy rằng qua bản dịch cũng khá biểu cảm, với những nhận xét, bình luận cục bộ đôi chỗ dí dỏm và cay độc, nhưng cũng không ít chỗ tỏ ra khống luận kiểu “Ðôn Kihôtê tiến công vào cối xay gió”, PR không che giấu thái độ miệt thị đối với toàn bộ – người và việc – thuộc đối tượng mà anh ta đã “hạ cố” chọn để nghiên cứu.

Cứ nhìn vào danh mục trích dẫn của PR ngay cuối bài viết này cũng rõ. Dẫn để khẳng định, có các tác giả Whitmore J., Woodside A., Fawcett, Claine & Kohl, Philip,… nghĩa là các nhà Ðông phương học Âu Mỹ hoặc đã, đang làm việc ở Âu Mỹ. Dẫn để chê trách, để châm chọc, ngoài hai “đối thủ chính thức“, còn có Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Ðảng Cộng sản và “các chính phủ” Trung Quốc và Việt Nam. Cũng bị PR chê trách còn có cả những tác giả sống ở các thế kỷ trước nữa.

Thật không sao hiểu nổi ngay từ thời chủ nghĩa thực dân đang làm mưa làm gió trên khắp thế giới mà ở phương Tây đã có những nhà Ðông phương học trân trọng, thậm chí đến mức tối đa, những giá trị văn hoá của “bọn người bản xứ” chúng tôi như H. Maspéro, L.Cardière, P. Schneider, M.Colanie, J. Cusinier,… rồi muộn hơn như Haudriourt, G. Condominas hoặc như M. Granet, J. Needham với những giá trị Trung Quốc, hoặc nữa C. Levis – Strausse đối với “những vùng nhiệt đới buồn” và những tộc người có “tư duy hoang dã”… mà ở thời điểm đầu thiên niên kỷ thứ ba này sau khi chúng tôi đã “giải thuộc địa hoá” từ lâu lại có một gã học phiệt thực dân trẻ ngạo nghễ và trịch thượng đến vậy? Ðể khăng khăng nói cho bằng được ý mình, PR đã thậm chí bất chấp luật chơi, mang cả những lời “trao đổi riêng” đâu đó ra làm bằng cứ. PR khẳng định “chủ tịch hội Sử gia cũng đã công nhận là phải bịa ra những dữ kiện vì phía chính trị muốn thế“, kèm lời chú thích nguyên văn (bản dịch):


Trong buổi nói chuyện với Phan Huy Lê tháng 3 năm 1996. Hãy so sánh câu dưới đây trong lịch sử Việt Nam, tập I, NXB Ðại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội 1991, tr.54, mà ông cùng soạn thảo Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước. Câu nói của Hồ Chủ tịch dưới mái đền Hùng 1954 trở thành phương hướng suy nghĩ, tìm tòi của các nhà nghiên cứu về quá khứ xa xưa của dân tộc“.

Ðọc đoạn này, tôi chợt thấy lạnh gáy thay cho GS Phan Huy Lê! Vì nhiều chuyện quả là khó tin, nên tôi phải tìm hiểu kỹ hơn “sự vụ” này. Tôi cũng có quen với GS Phan Huy Lê từ lâu, và tuy thuộc thế hệ học trò, nhưng một đôi ý kiến của giáo sư, tôi cũng không đồng ý, cũng đã viết, in ra thành giấy trắng mực đen hẳn hoi. Song như tôi nhận thấy, GS Phan Huy Lê là người cẩn thận, chín chắn, điềm đạm và mô phạm, sao lại có thể, vào năm 1996, “tâm sự chân thành” với một thực tập sinh trẻ người nước ngoài, mới tập nói tiếng Việt, một chuyện động trời đến vậy? Chỉ một câu “bịa ra những dữ kiện vì phía chính trị muốn thế” đã có thể đánh đổ hoàn toàn nhân cách và sự nghiệp khoa học của một người, dù người đó là ai! Tôi thấy đa phần những lệch lạc, nếu có, của các công trình khoa học là do sự giải thích khiên cưỡng, áp đặt đối với các dữ kiện, chứ hiếm ai được coi là nhà khoa học thực thụ lại bịa ra các dữ kiện. Thâm tâm, tôi không tin rằng GS Phan Huy Lê nói thế, càng chưa thấy ông làm thế. Hay bảy năm trước PR “nghe không thủng”, như bây giờ, trên văn bản, có thời gian tự do để ngẫm ngợi, anh ta vẫn “đọc không thủng”? Nội một cái chú thích của PR mà tôi vừa dẫn, đã gây nghi ngờ: năm 1991, ở Hà Nội làm gì có NXB Ðại học và Giáo dục chuyên nghiệp? Chỉ có NXB Ðại học và Trung học chuyên nghiệp hoặc NXB Giáo dục thôi, đó là hai NXB khác nhau và khi nhập lại (do nhập lại hai Bộ) thì mang tên là NXB Giáo dục. Ðoạn trích mà PR dẫn ấy, dù từ cuốn sách mà GS Phan Huy Lê cùng biên soạn, có phải là sản phẩm ngòi bút của ông? Vả lại, không thể suy từ câu văn ấy ra tội lỗi “bịa đặt dữ kiện” được! “Phương hướng suy nghĩ, tìm tòi của các nhà nghiên cứu về quá khứ xa xưa” do một lãnh tụ chính trị gợi ý tự thân nó là vô tội. Nhà chính trị ở đâu và thời nào thì cũng mong muốn và gợi ý rất nhiều điều có hay có dở, còn giới chuyên môn thì tuỳ theo bản lĩnh, năng lực và nhân cách của mình, mà có thể đáp ứng hay không, đến mức nào, đấy lại là chuyện khác. Cũng cần lưu ý một sự thật: niềm tự hào về bề dày và các phẩm giá truyền thống “ảo” ở Việt Nam đang được chính công luận trong nước lẫn các sử gia điều chỉnh. Một ví dụ: trong một chương trình phổ biến kiến thức phổ thông và thi tìm hiểu lịch sử trên truyền hình năm vừa rồi, câu trả lời “ăn điểm” của một học sinh phổ thông về bề dày của lịch sử Việt Nam là con số từ 2500 đến 2700 năm.

Không biết GS Phan Huy Lê có rùng mình về một người mà mình đã từng giúp đỡ lại “đáp nghĩa” cho mình theo lối đó? Phần tôi, cầu trời để đừng bao giờ xuất hiện những người “tri kỷ” như vậy.

Còn nhiều chuyện khác trong bài viết của PR, tỷ như định kiến về “tính vô bổ của sự sáng tạo“, tỷ như câu chuyện “các tập thể không thể nào tồn tại mà không có cái dấu nhẹm và không có những huyền thoại” rồi lại “giản dị” lược quy “những cái dấu nhẹm và huyền thoại” vào sọt “những rác rưởi nhảm nhí“, lời khiêu khích liên quan tới sự đánh giá của ai đó về tiềm năng quân sự Việt Nam sau chống Mỹ (một ví dụ về sự non kém trong nhận thức về bản chất của các đối cực bạo lực trên thế giới thời hiện đại!), những đoạn lập luận đầu Ngô mình Sở, những sự lỗ mỗ trong kiến thức… Nhưng thôi, cãi sao xuể với những định kiến và cố chấp, vả lại bài viết cũng đã dài. Hẹn gặp lại bạn đọc trong dịp khác.

Hà Nội, 11.2003

© 2003 talawas

 
© talawas 2026