trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
27.4.2004
Paul Redding
Kant với cuộc Cách mạng Copernicus trong triết học, và Hegel với Chú giải học
 

Triết học Copernicus chủ nghĩa và chú giải học

Có vẻ là triết học theo đường hướng Copernicus thời hậu Kant cần tiếp cận đến bản chất của chủ thể nhận thức mà Kant đã thiếu vắng – sự tiếp cận mà chú giải học có thể đáp ứng. Với việc liên kết những vấn đề khoa học mang tính Copernicus và tính liên chủ thể, tôi cho rằng chiều hướng chung của tư tưởng đằng sau khẳng định này ít nhất phần nào đó đã trở thành tiêu điểm. Tư tưởng cơ bản là như thế này: thích hợp cho một người trong việc để mở đối với những khẳng định kinh nghiệm của người khác – vốn được xem là kinh nghiệm hóa thế giới từ một tổng thể những điều kiện khác biệt phần nào với chính mình – người đó phải có khả năng lĩnh hội người khác cả với tư cách chủ thể hướng đích mà đối với anh ta là một thế giới theo cách nhìn riêng (hay nói khác đi, tiếp nhận thế giới như cái có được từ quan điểm khác), và cũng với tư cách một “sự vật” đã biểu hiện ra và định vị trong thế giới, và chủ quan đối với những điều kiện của nó. Nhưng trong suy nghĩ của ông về sự chủ quan này, Kant có vẻ quá “Descartes” để có thể đối xử công bằng với quan niệm này về người khác.

Đối với Descartes, đương nhiên, một người được phân chia thành hai thành phần, một là tinh thần và một là thể xác, cái trước thì giải thích cho cuộc sống có mục đích, cái sau là cho sự tồn tại trong thế giới. Khăng khăng giả thuyết về tuyến yên, Descartes gặp khó khăn lớn trong việc giải thích quan hệ giữa thể xác và tinh thần. Nhưng trong quan niệm Descartes, không như thể là thể xác và tinh thần không quan trọng đối với nhau. Về mặt nhận thức, sự tồn tại và ảnh hưởng của thể xác rất quan trọng, nhưng nó đã được xem như thế theo cách thức rất thiên về tiêu cực. Triết học đã phải đối mặt với việc giải phóng tinh thần khỏi những ảnh hưởng của hiện thân mà nó phụ thuộc, một công việc vốn đã chuyển thành vấn đề tiếp nhận của một người những tư tưởng “rõ rệt và khác biệt”.

Trong so sánh, bằng việc làm cho tri thức con người thực chất phụ thuộc vào đóng góp của nội dung trực giác được tiếp nhận một cách thụ động, và trong việc loại trừ khả năng ứng dụng của một kinh nghiệm lý tưởng được giải phóng từ nó bằng cách phê phán tư tưởng về “trực giác thông thái”, Kant đã đi đến quan niệm mà trong đó thể xác và điều kiện tính của nó có tầm quan trọng nhận thức luận tích cực hơn. Tuy thế, dường như trong triết học Kant vẫn không có cách thức mà một người có thể thực sự xem xét người khác cả như sự tồn tại thân xác trong thế giới cùng với phần còn lại của những khách thể của nó, và cả như việc đưa ra những khẳng định về thế giới đó với tư cách một chủ thể nhận thức. Với tư cách khách thể trong thế giới, người khác này có thể được hiểu trong bộ khung của các khoa học tự nhiên, tức là, như một bộ máy đã xác định. Và, theo quan niệm về người khác theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa như vậy, một nhận thức có thể thông truyền qua giao tiếp – ở dạng ngầm ẩn, về chủ quan tính tiên nghiệm, có thể sẽ không bao giờ được phát triển.

“Hình ảnh khoa học” tự nhiên chủ nghĩa này về con người không đặc trưng hóa cách thức chúng ta nghĩ về nhau trong cuộc sống hàng ngày [2] . Ở đó, ta có quan hệ phi suy nghĩ với người khác khi bằng cách nào đó thể hiện thể xác và cả tinh thần, và bằng cách nào đó ta cho phép những khía cạnh này gắn bó với nhau theo cách thức nguyên sơ sẵn có. Nhưng “tâm lý học dân gian” ở đây dường như xung đột với cách nhìn khoa học về thế giới mà ta thừa hưởng từ thế kỷ 17, dù có những mô tả công phu và những thay đổi cách mạng bên trong cách nhìn này.

Vì thế, không có gì ngạc nhiên là từ thế kỷ 17 đã phát triển những quan điểm đa dạng mong muốn duy trì quan niệm nhân bản hơn về cuộc sống hàng ngày, và kháng cự trước sự phê phán khoa học kiểu tự nhiên chủ nghĩa [3] . Tại Chương 1 và 2, tôi sẽ phác thảo vài khung nền tương phản với điều đã nổi lên của quan niệm về “chủ quan tính khách quan” – quan niệm chú giải về chủ quan tính. Chú giải học, bộ môn thuộc khoa học nhân văn xuất hiện trong lĩnh vực đã rõ ràng có những thuận lợi trong việc nhận thức người khác: phát triển tự phát từ việc diễn dịch và bình giải bản văn kinh thánh, mà môi trường của nó chính là tính liên chủ thể thông truyền được trung gian theo bản văn. Nhưng nó đã chỉ xuất hiện khi có sự phát triển của một khung nền thần học khác biệt với cái được tiền giả định từ quỹ đạo Descartes-Kant: truyền thống nội tại luận, hay phiếm thần luận. Vào đầu thế kỷ 19, chú giải học đã kết nối với những lý luận này, tiếp nhận sự tồn tại và hoạt động của con người như những đối tượng đặc thù của chúng. Và từ cuối thế kỷ 19, những nỗ lực có tính hệ thống hơn đã được thực hiện để hiện đại hóa chú giải học thành một học thuyết nhận thức luận chuyên biệt, phi tự nhiên chủ nghĩa, phù hợp với tính chuyên biệt logic và phương pháp của “khoa học nhân văn”.

Tôi cũng sẽ nói thêm về đặc điểm của hình thức tư tưởng này và cả những chuyển đổi nội tại, những phê phán mà nó gánh chịu đến ngày nay. Dù vậy, tạm thời ta hãy lưu lại với vấn đề quan hệ của nó với chủ nghĩa duy tâm của Kant. Tôi đã nói đến bế tắc gặp phải trong quan niệm của Kant về chủ quan tính. Điều đó, tôi sẽ lập luận (trong Chương 3), đã được Hegel nhận thức rõ ràng là một trong những điểm yếu then chốt, nếu không phải là một điểm yếu hoàn toàn xác định, của chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Kant. Trong thực tế, phê phán này đã được kết nối rõ ràng trong tác phẩm triết học công bố đầu tiên của Hegel, “Sự khác nhau giữa hệ thống triết học Fichte và hệ thống triết học Shelling” (The Difference Between Fichte’s and Schelling’s System of Philosophy), nơi mà Hegel đã lý giải điều này như vấn đề trung tâm trong công việc của người kế tục Kant, J. G. Fichte. Hegel cho rằng Fichte đã thành công phần nào trong mô tả đặc điểm của chủ thể người như nó thể hiện, tức như một thực thể vừa khách quan vừa chủ quan. Nhưng ông đã chỉ có thể nói về “chủ quan tính” từ quan điểm đạo đức; và cái cần đến là quan niệm khách quan về một thể “khách quan-chủ quan”, để bổ sung cho thực thể người chủ quan của ông.

Trong tác phẩm này, Hegel cho rằng một phát triển như vậy đã được đem lại từ đồng nghiệp của ông, F. H. Schelling, triết gia mà cho đến thời điểm đó còn là môn đệ của Fichte trong nỗ lực hoàn thành chủ nghĩa Kant. Schelling, dù vậy, đã khởi sự theo đường hướng có vẻ như là phản đề của triết học phê phán của Kant, khi ông cố gắng xem xét lại siêu hình học tư biện, đặt biệt là triết học tư biện về tự nhiên đặc trưng của những thời kỳ trước. Với nhiều người, mặt này của nền triết học Đức trong những thập kỷ kỳ quặc sau Kant, sự quay trở lại của Schelling đã chắc chắn được xem như một phương cách thụt lùi, đưa đến triết học giáo điều hay bất phê phán, là điều mà Hegel cũng thường bị cáo buộc. Theo giải thích của tôi, Schelling đã đem lại chính cái mà Hegel cần để đoạn tuyệt với những tàn dư siêu hình học giáo điều trong triết học Kant. Điều này đặt trên cơ sở phê phán theo kiểu Schelling trước đó của Hegel đối với Fichte. Nó giúp Hegel có thể trình bày tường tận cách giải thích về chủ quan tính khách quan, và đã cho phép ông theo đuổi khía cạnh Copernicus toàn vẹn hơn là Kant hay Fichte có thể làm [4] . Trung tâm của vấn đề này là sự phát triển của Hegel trong “Hiện tượng luận tinh thần” về một khái niệm đã được Fichte xây dựng – khái niệm “sự nhìn nhận” hay “sự thừa nhận” (Anerkennung) đối với người khác với tư cách một chủ thể. Đối với Fichte, đây là khái niệm có tính thực tiễn vượt trội, nhưng Hegel đã thêm vào đó sự phát triển có tính nhận thức. Sự nhìn nhận của một người về hướng đích tính của người khác sẽ vẫn vô định và trống rỗng chừng nào mà nó còn chưa bao hàm một nhận thức về nội dung hay đối tượng mục đích của người khác. Và nhận thức như vậy được liên kết nội tại trong quan niệm về chính mình như một tồn tại có mục đích cùng với những khách thể hướng đích của chính mình. Học thuyết nhìn nhận này tại tâm điểm của “Hiện tượng luận tinh thần”, sẽ được xem xét từ Chương từ 4 đến Chương 6.

Trong mạch trình bày đó, khi đi sâu tập trung vào ý nghĩa học thuyết nhìn nhận của Hegel, tôi sẽ bắt đầu phần nào viện đến sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Những học giả như Ludwig Siep ở Đức và Robert Williams ở Hoa Kỳ đã nhấn mạnh vai trò hệ thống có được từ quan niệm về sự nhìn nhận trong triết học Hegel, cũng như phần trong hệ thống đó giải quyết vấn đề tồn tại xã hội của con người – lĩnh vực “tinh thần khách quan” [5] . Bằng việc liên kết sự nhìn nhận với nhận thức chú giải về những chủ thể hướng đích khách quan, tôi sẽ nêu lên vai trò thậm chí còn lớn hơn từ quan niệm nhìn nhận trong triết học Hegel, so với những gì đã được xác định trong công trình của các tác giả được nói đến.

Trong thế kỷ 20, nếu có tác phẩm nào được ban đặc ân nhằm phát hiện mặt “tốt” của Hegel, thì đó là “Hiện tượng luận tinh thần“. Tác phẩm xuất sắc này có vẻ đã báo trước một đường hướng nào đó trong triết học Châu Âu về sau, đặt biệt là hướng phản siêu hình học trong các học thuyết triết học chú giải, như của Heidegger và Gadamer. Ở đây, Hegel đã mở ra nhiều phạm vi cho kinh nghiệm con người trước việc giải quyết triết học cái đã làm nên hình mẫu chủ quan tính ở các triết gia trước đây, vốn có vẻ máy móc và “được sáng chế”, và liên kết các mô thức kinh nghiệm và tư duy như vậy với những hình thức có thể thay đổi về mặt lịch sử của đời sống xã hội. “Hiện tượng luận” đã thực sự là một tác phẩm thai nghén nhiều triết học sau này.

Nhưng tác phẩm này đã dẫn đến, cả về mặt niên đại lẫn cấu trúc, một tác phẩm thường được nắm bắt như mặt “xấu” của Hegel – một nhà siêu hình học giáo điều, “lý tính cực đoan”, “tuyệt đối hóa logic”. Đó là “Khoa học logic“. Do vậy, trong Chương 7, tôi sẽ biện giải cách nhìn cho rằng “Logic” là kế tục thành công công trình trước nó. Xem xét này biểu lộ cùng sự tín nhiệm vào quan niệm nhìn nhận đặc trưng, như “Hiện tượng luận” và các tác phẩm của thời kỳ Jena thể hiện, những cái mà từ đó “Logic” phát triển lên. Nhưng đặc trưng này được khái quát hóa và phổ biến khi nó gắn kết với tác phẩm, sự diễn dịch có hệ thống những khẳng định triết học trung tâm từ trong nó. Hơn nữa, theo ý kiến của tôi, “Logic” không có nhiều nội dung “về” sự nhìn nhận, không có nhiều thể hiện lý luận về hành động hay quan hệ nào đó mà nó muốn đặt vào trung tâm của cách tiếp cận triết học mới; đúng ra, tự nó thiết lập một kiểu thực hiện thừa nhận mà Hegel hy vọng khởi xướng, giữa chính ông (tác giả) với người đọc tác phẩm này. Nó nằm trong bộ khung của một khái niệm nhìn nhận có tính chú giải và mở rộng, là cái mà tác phẩm “Logic” khớp vào hình ảnh Copernicus của diện mạo triết học khả dĩ, trong thế giới hiện đại.

Lập luận như vậy về tác phẩm này, đến đây, sẽ cho phép tôi viện dẫn một số tác phẩm đương thời để củng cố quan niệm về Hegel đích thực như một triết gia hậu siêu hình học, người đã phát triển đáng kể mặt Copernicus của triết học Kant. Từ đầu những năm 1980, một số nhà nghiên cứu đã cố gắng, theo những phương cách nhiều trùng lắp, để phát triển một quan niệm xem xét lại đối với triết học có tính hệ thống và tính logic của Hegel. Theo ý kiến của họ, Hegel đã không cố gắng xây dựng, trên căn bản lý tính thuần túy, một cách lý giải chung nào đó mà thế giới phải tồn tại theo. Ông cũng đã không hề đưa ra khẳng định bản thể luận rồ dại rằng thế giới thật sự là một đơn chủ thể to tát và hướng đích – một “tinh thần tuyệt đối”. Thay vào, sự liên tục của Hegel từ Kant được nhấn mạnh, và “Logic” được xem như nỗ lực xây dựng một kết cấu phạm trù toàn diện mà sẽ làm hài hòa những kiến thức đa dạng về cái thế giới vốn đã trở thành một phần bản chất của chúng ta, với tư cách là những chủ thể hiện đại.

Nhìn nhận Hegel như một “lý thuyết gia phạm trù” như thế có thể xem là hoàn thành đối với tiếp cận “chú giải học” theo logic vấn đề mà tôi phát triển. Thực tế, việc đánh bạo đưa ra ý kiến mạnh mẽ về quan hệ này, đối với tôi cách tiếp cận lý thuyết-phạm trù như vậy dường như cần đến sự bổ sung mà tôi đang thực hiện, để có được một cố kết trọn vẹn. Đoạn tuyệt với quan niệm siêu hình học xưa cũ về Hegel, các lý thuyết gia phạm trù đã phải minh chứng cho ý kiến về kết cấu phạm trù này như là cái gắn kết tư tưởng, mà theo một nghĩa nào đó là “không có một chủ thể đang tư duy”. Và vấn đề là bằng cách nào ta có thể hiểu được quan điểm vốn hiếm khi được định vị rõ ràng này. Đưa vào cách nhìn chú giải, tại điểm này, cho phép ta bắt đầu nêu lên câu trả lời rõ ràng. Cấu trúc của sự nhìn nhận cho phép ta xem xét tính liên chủ thể theo lối đối thoại, và quan hệ đối thoại và nội tại này giữa các chủ thể tư duy cho phép ta lĩnh hội tư tưởng đó khi đòi hỏi nghiêm ngặt các chủ thể tư duy không với tư cách một chủ thể tư duy “độc thoại” [6] .

Một tiếp cận khác đến hệ thống và logic học Hegel có phần chồng lấn với cách tiếp cận phát triển ở đây được nhận thấy trong tác phẩm của Michael Theunissen [7] . Chia sẻ cách tiếp cận lý thuyết-phạm trù đối với tác phẩm “Logic“, Theunissen bác bỏ quan niệm truyền thống cho rằng lập trường của Hegel đối với siêu hình học là lui về cách tiếp cận giáo điều tiền Kant. “Logic“, theo Theunissen, là sự phê phán dành cho siêu hình học giáo điều vốn tìm kiếm nền tảng cơ sở cuối cùng nào đó của thế giới. Tập trung vào quyển cuối của tác phẩm gồm ba quyển của “Logic“, Theunissen xem học thuyết của Hegel cơ bản như một học thuyết thần học, khái niệm Cơ đốc về tình yêu đem lại thách thức trước hình mẫu vốn ẩn chứa trong triết học cổ điển về tính quan hệ giữa các sự vật, hình mẫu mà theo đó các quan hệ được lĩnh hội từ bên ngoài, và từ đây mà “trung lập” với các thuật từ của chúng nhưng là cái ngầm phân tích chúng như những cấu trúc mà trong đó một thuật từ này chiếm ưu thế hơn một thuật từ khác. Tuy nhiên, dù đồng ý việc có kết nối quan trọng giữa cách nhìn thần học và cách nhìn logic học đối với Hegel, tôi cho rằng ý kiến của Theunissen đã làm lu mờ sự liên tục giữa bản thể luận và logic học Hegel với những điều này ở triết học Aristotle, là những cái mà Hegel đã cố công hiện đại hóa. Những quan hệ thông đạt khả dĩ, vốn làm nên chủ đề quyển 3 của “Logic“, không chỉ là nắm bắt điều gì đó về các quan hệ trong cộng đồng tôn giáo, chúng còn cơ bản nắm bắt các quan hệ thực tế giữa những giao tiếp ngôn ngữ cần đến ở đây, để tồn tại các quan hệ logic tương ứng giữa tư tưởng của họ. Đối với Hegel, tư tưởng triết học tiêu biểu cho hình thức hoàn thiện của tư duy hơn là mang thực chất của tư tưởng phóng dụ tôn giáo, nên ta sẽ thấy logic học Hegel như là sự giải thích thần học của ông hơn là ngược lại. Và rồi ta có thể xem quyển 3 như nỗ lực phác thảo một tinh thần thực dụng triết học của chính lý tính triết học [8] .

Tập trung vào quan hệ giữa chiều cạnh hậu Kant với chú giải học của học thuyết và logic học Hegel, cho phép ta nêu vấn đề về những hệ quả nhận thức luận của lập trường triết học và quan hệ triết học của ông đối với chủ nghĩa chú giải đương đại. Một “hành động kép” của sự nhìn nhận, thực chất, là câu trả lời Hegel đối với vấn đề nan giải mà Fichte đã đặt ra về bản chất của chủ quan tính tự thiết lập. Nhìn nhận không phải là một hành động giản đơn của một chủ thể tiền hiện hữu. Tồn tại sống là một tác động tác tạo hành động khác, và tồn tại sống là từ sự cần thiết lẫn nhau, nó là một tác động đồng thời thiết lập tác nhân như thế. Hơn nữa, nó thiết lập tác nhân, hay chủ thể này, theo một cách thức xác định, với những loại thuộc tính – năng lực nhận thức và đạo đức chẳng hạn, vốn có ở các chủ thể đặc thù.

Vai trò của sự nhìn nhận, với những hình thức đa dạng của nó, trong việc cấu thành những chủ thể nhận thức và hành động, được nhận thấy rõ ràng nhất ở “triết học đích thực” (Realphilosophie) trong hệ thống bách khoa của Hegel, đặt biệt trong triết học về tinh thần khách quan được phát triển hầu như trọn vẹn trong “Triết học pháp quyền“. Ở đó, trong những giải thích về các thiết chế xã hội của đời sống hiện đại – gia đình, xã hội công dân, và nhà nước, Hegel đã khắc họa phân loại năng lực nhận thức và năng lực đạo đức vốn có trong các lĩnh vực của xã hội. Tác phẩm này đưa ra cách giải thích của Hegel về một chủ thể thực tiễn và có nhận thức hữu hạn. Nó là một điều gì đó của cách tiếp cận có tính lịch sử hơn vốn ưu trội trong chú giải học. Ở đây Hegel đóng vai trò của nhà chú giải ngay trên sân nhà của họ.

Không có gì ngạc nhiên khi nhiều nhà nghiên cứu hoàn toàn tách “Triết học pháp quyền” ra hỏi hệ thống chung của Hegel, và thỏa mãn với điều này khi xem đó là một đóng góp thật sự của Hegel vào triết học xã hội, triết học chính trị, và triết học đạo đức, những lĩnh vực mà trong đó hình thức tư duy chú giải được tiếp nhận hầu hết [9] . Nhưng chính những liên kết hệ thống giữa tác phẩm này với “Logic” đã cho phép Hegel vượt qua nhiều cạm bẫy đang chực chờ những tiếp cận triết học mang tính lịch sử đã có từ thế kỷ 19 [10] . Quan niệm chú giải đối với tác phẩm “Logic” cho phép ta hiểu được liên kết hệ thống giữa nó với “Triết học pháp quyền“, và đem lại những đánh giá về sự xác đáng sâu sắc của Hegel trước nhiều vấn đề, trong những tranh luận gần đây nhất mà ta có thể thấy trong phạm vi của triết học xã hội và triết học đạo đức. Từ Chương 8 đến Chương 12, tôi sẽ cố gắng phác ra, một cách cơ bản, những liên kết này giữa học thuyết tinh thần Hegel, logic phi siêu hình học, với tư tưởng xã hội và đạo đức của ông. Bằng việc xem xét logic học Hegel đặt chính trên sân nhà của chú giải học, ta có thể hiểu rõ hơn Hegel nghĩ về khoa học hiện đại và quan hệ của nó với tri thức hàng ngày, cũng như với triết học, như thế nào. Nó cũng cho phép hiểu được ta quan hệ như thế nào với một nền văn hóa vốn khác biệt nhưng lại là nền văn hóa mà nhiều tư tưởng chủ yếu của loài người đã xuất phát, tức nền văn minh Hy Lạp cổ đại. Và từ đó, nó cho phép ta hiểu bằng cách nào Hegel đã có thể hoàn thành cương lĩnh triết học của chính mình, như một sự kế thừa đối với triết học quá khứ vốn – trong nỗ lực trở thành chân lý trước tinh thần của triết học đó – luôn chuyển hóa nó từ bên trong.

© 2004 talawas


[1]Tựa đề này do người dịch đặt. Tựa nguyên thủy là Hegel, chú giải học, và cuộc Cách mạng Copernicus trong Triết học.
[2]Để có một cách giải thích rõ ràng về đặc trưng của “ý tưởng khoa học” và phân biệt nó với quan niệm hàng ngày của chúng ta, xem: Wilfrid Sellars, “Philosophy and the Scientific Image of Man” in Science, Perception and Reality (New York: Humanities Press, 1963).
[3]So sánh với cố gắng của Stephen Toulmin nhằm điều hòa khoa học hiện đại với truyền thống nhân văn Phục hưng, trong Cosmopolis (New York: The Free Press, 1990).
[4]H. S. Harris đã bảo vệ cho ảnh hưởng chủ yếu và lâu dài của triết học Schelling đối với sự phát triển của Hegel trong Night Thoughts (Jena 1801-1806) (Oxford: Clarendon, 1983).
[5]So sánh: Ludwig Siep, Anerkennung als Prinzip der praktischen Philosophie: Untersuchungen zu Hegels Jenaer Philosophie des Geistes, (Freiburg: Alber Verlag, 1979), và Robert R. Williams, Recognition: Fichte and Hegel on the Other, (Albany: State University of New York Press, 1992). Cũng có vai trò quan trọng ở đây là nghiên cứu của Jürgen Habermas, “Labor and Interaction: Remarks on Hegel’s Jena Philosophy of Mind” in Theory and Practice, trans. John Viertel (Boston: Beacon Press, 1974).
[6]Klaus Hartmann, người đã chủ trương việc diễn dịch logic của Hegel như là một “học thuyết phạm trù”, là tác giả chính yếu ở đây (xem chú thích 1). Những diễn dịch phi siêu hình học khác, khác nhau về mức độ trong việc tiếp nhận các khía cạnh nào đó từ Hartmann, có Terry Pinkard, Hegel’s Dialectic: The Explanation of Possibility (Philadelphia: Temple University Press, 1988), và Alan White, Absolute Knowledge: Hegel and the Problem of Metaphysics (Athens: Ohio University Press, 1983). Robert Pippin, trong tác phẩm có ảnh hưởng, Hegel’s Idealism: the Satisfactions of Self-Consciousness (Cambridge: Cambridge University Press, 1989), nhấn mạnh những chiều cạnh hậu Kant trong công trình của Hegel. Bên cạnh việc đem lại một bài viết cùng với một danh mục tham khảo rất hữu ích về những cách tiếp cận đa dạng hiện nay đối với Hegel, Stephen Houlgate, trong Freedom, Truth and History: An Introduction to Hegel’s Philosophy (London: Routledge, 1991), đã đưa ra một quan điểm phi siêu hình học khá hay về Hegel.
[7]Tác phẩm trung tâm của ông về vấn đề này là: Michael Theunissen, “Sein und Schein: Die kritische Funktion der Hegelschen Logik” (Frankfurt am Main: Suhrkamp Verlag, 1980).
[8]Trong những tác phẩm gần đây nhất của mình, cả Robert Pippin với Modernism as a Philosophical Problem: On the Dissatisfactions of European High Culture (Oxford: Blackwell, 1991); và Terry Pinkard với Hegel’s Phenomenology, nhấn mạnh tính bối cảnh của triết học Hegel trong nền văn hóa Tây Âu hiện đại. Từ quan điểm như vậy, khát vọng đạt đến tư tưởng triết học được liên kết với sự khẳng định về một bản sắc tự thân đặc thù – cái bản sắc hiện đại của việc tồn tại một thành viên cộng đồng có không thể viện đến một nguồn minh chứng ngoại tại nào cho những niềm tin và thực tế của nó. Người ta có thể xem một ý kiến như vậy như việc đem lại một đường hướng bổ sung cho hướng được theo ở đây, rằng cuối cùng cái giữ vị trí nguyên tắc trong triết học Hegel chủ yếu được nối với sự khẳng định hay sự “thừa nhận” về một loại bản sắc xã hội nào đó tương ứng với sự tồn tại của động lực hướng đích của chính “tư tưởng”.
[9]Chẳng hạn xem: Alan Wood, Hegel’s Ethical Philosophy (Cambridge: Cambridge University Press, 1990) để có một đánh giá về Hegel như một triết gia thực tiễn chuyên tâm vào việc chia tách khía cạnh này khỏi tư tưởng mang tính hệ thống của ông.
[10]Vittorio Hösle trong Hegel’s System, 2 vols. (Hamburg: Meiner Verlag, 1987), tập trung vào quan hệ giữa “Logic” và triết học về tinh thần khách quan trong hệ thống Hegel, đã nêu lên câu hỏi là tác phẩm này có thể được đọc như một logic liên chủ thể hay không. Nhưng sự đối lập được giả định của Hösle giữa logic “chủ thể” và logic “liên chủ thể” là điều mà tôi cho rằng không nắm bắt được triết học Hegel.

 
© talawas 2026