trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
10.8.2004
Jonathan Cross, Louis Andriessen, Pierre Boulez
Igor Stravinsky
 

Pierre Boulez

Stravinsky: Le Sacre du printemps

Lời người dịch: Le Sacre du printemps được xem là tác phẩm biểu tượng của Stravinsky, thậm chí, của toàn bộ thế kỉ 20. Buổi ra mắt tác phẩm này tại Théâtre des Champs-Elysées ngày 29/05/1913 là một trong những vụ xìcăngđan nổi tiếng nhất trong lịch sử sinh hoạt nghệ thuật Phương Tây. Khán thính giả thấy ‘buồn cười’ vì khúc dẫn nhập vừa êm ả lại vừa linh hoạt. Khi màn mở và Nijinsky bắt đầu vũ, thì cử tọa nổi cơn thịnh nộ, ‘nhạy cảm tinh tế’ của họ bị xúc phạm. Ravel và Debussy cũng có mặt và được âm nhạc cuốn hút, nhưng chẳng mấy chốc thì không khí đắm chìm trong một cuộc ẩu đả ầm ĩ, sỏi đá và nắm đấm cũng được tung ra. Buổi diễn chỉ có thể kết thúc với sự trợ lực của Nijinsky, chênh vênh trên thành ghế bên cánh gà, hô vang nhịp nhảy cho các vũ công. Vụ xìcăngđan nhanh chóng tạo ra hình ảnh một nhà soạn nhạc cách mạng, đạp đổ thần tượng, một enfant terrible, tác giả của một nhạc bản làm rung chuyển – và theo một số người – lật đổ toàn bộ một nền âm nhạc… Hôm nay, với khoảng cách của thời gian, người ta dễ dàng nhận ra rằng, bên cạnh những cái mới, tác phẩm còn chuyên chở những khía cạnh truyền thống, cắm sâu trong âm nhạc chủ âm, trong cách sử dụng hợp âm chủ ba nốt, trong âm nhạc dân tộc Nga, và ngay cả trong âm nhạc của các nhà soạn nhạc như Scriabin, Debussy, và Ravel. Nhưng sức tác động mạnh mẽ của tác phẩm, nhất là cái năng lực sáng tạo sôi sục đằng sau, vẫn tràn ngập chúng ta sau mỗi lần nghe.

Le Sacre du printemps là một địa chỉ chính xác cho ai muốn đi tìm tờ khai sinh cho cái vẫn còn được gọi là âm nhạc ‘đương đại’. Là loại tác phẩm tuyên ngôn, trong cùng cung cách, và có lẽ, trong cùng lí do như Les Demoiselles d’Avignon của Picasso, Le Sacre không ngừng tạo ra, đầu tiên, các cuộc luận chiến, sau đó, những lời ngợi ca, và cuối cùng, việc gạn đục khơi trong cần thiết. Suốt 7 thập niên, sự hiện diện của tác phẩm liên tục gây tác động. Cho đến những năm gần đây, một cách nghịch lí, Le Sacre đã khẳng định sự nghiệp của nó như một tác phẩm hòa tấu hơn là một vở balê; cả cho hôm nay, bên cạnh ít lần dàn dựng vang lừng, số lần biểu diễn giao hưởng vượt xa số lần thực hiện balê.

Như cái tên Schönberg đã gắn với Pierrot Lunaire, thì trong cùng phương thức, cái tên Stravinsky đã gắn với Le Sacre du printemps, hoặc phải nói, với hiện tượng Le Sacre – hiện tượng đã hợp nhất tác phẩm và cái bối cảnh của nó. ‘Nhạc bản’ này trở thành (tự nó và bởi huyền thoại nhanh chóng tỏa ra chung quanh việc sáng tạo nó) một tác phẩm nền tảng của âm nhạc hiện đại.

Cho dù hôm nay cảnh quang lịch sử có vẻ đa dạng hơn và tính cách của Stravinsky có vẻ phức tạp hơn, nhưng không gì có thể làm loãng đi niềm kích động vật lí khơi dậy bởi độ mãnh liệt và sinh lực tiết tấu trong một số đoạn. Không khó để hình dung niềm kinh ngạc được các đoạn ấy kích gợi trong cái thế giới nơi nền mĩ học ‘văn minh hóa’ thường tự cạn kiệt qua một tính cách hòa nhã hấp hối. Ðây chính là một dòng máu ‘man dã’ tươi rói, một cú sốc điện, thẳng thừng áp dụng trên một cơ thể úa vàng. Trong đại số học, từ ‘chiết giản’ được sử dụng khi các con số hạng của một phương trình được rút lại thành các biểu hiện trực gọn. Theo nghĩa này, Le Sacre có thể được đề xuất như một tính cách cơ sở: nó rút gọn những con số hạng của một ngôn ngữ phức hợp và tạo điều kiện cho một cuộc khởi hành mới.

Ngôn ngữ chiết giản này dứt khoát thu hồi một yếu tố đã từ lâu đã bị bỏ rơi [1] . Ngay sau khúc mở đầu và xuyên qua các khúc quan trọng nhất của Le Sacre, tính chiết giản đã xông xáo khẳng định quyền của nó: các mối quan hệ về hòa âm hoặc các đoạn thức giai điệu được rút lại thành những công thức rõ ràng, cực kì ấn tượng; chúng được sử dụng để hỗ trợ cho một chuyến sáng tạo tiết tấu, chuyến đi mới mà truyền thống Phương Tây chưa từng biết đến. Không nghi ngờ gì, âm nhạc Tây Âu đã từng chứa đựng những hạt giống ưu tư về tiết tấu, đặc biệt ở thời kì đầu; nhưng trong quá trình truy tìm giải pháp ở khu vực phức điệu, khu vực giai điệu, và khu vực cấu thức, vai trò của tiết tấu đã dần dần bị rút lại thành một lớp móng tất nhiên – đôi lúc được cải tiến – dựa trên một số nguyên mẫu hoặc ‘mô hình’. Dẫu sao, tiết tấu đã tuân theo dòng diễn biến chung của âm nhạc: viết để nhắm đến sự tinh tế, sự uyển chuyển, và sự phức hợp.

Nhưng với Stravinsky, sự trội bật về tiết tấu được bày tỏ qua phương thức qui rút tính phức điệu và hòa âm thành những chức năng phụ. Khúc ‘Danses des adolescentes’ cung ứng một ví dụ điển hình và tối cực cho cục diện mới này, nơi một hợp âm chuyển tải, thực vậy, toàn bộ sự sáng tạo. Rút lại thành một phương tiện biểu hiện giản dị và giản lược nhất (một hợp âm đơn lẻ không thể sản sinh bất kì một quan hệ về chức năng nào), hòa âm được sử dụng như chất liệu để thảo dựng tiết tấu, nhận thức qua thủ pháp nhấn âm. Phối khí dàn nhạc càng giúp chúng ta nghe rõ các chỗ nhấn âm ấy qua tiếng ‘thé’ của kèn co trên dòng liên tục của đàn giây. Chúng ta nhận thức loại âm nhạc được cực kì được dự kiến này như sau: trước khi bận tâm là đang nghe hợp âm nào, thì chúng ta đã chịu tác động bởi cái mạch nhịp phát ra từ nó. Khúc ‘Glorification de l’élue’, hoặc ‘Dance sacrale’, dù là những phút chốc ít sử dụng tính chiết giản hơn, gây ấn tượng trong cùng một cung cách như ở lúc đầu; vì rằng, bên trên những mẩu giai điệu ngắn (mà sự lập lại cho phép chúng ta nhận ra chúng nhanh như chúng ta đánh mất sự tác động của chúng), cái chúng ta nghe là một xung lực tiết tấu gần như ở trạng thái tinh ròng.

Stravinsky chuyển hướng xung lực tiết tấu. Cho đến thời ông, việc viết nhạc, về cơ bản, dựa trên một nhịp thức cơ sở, trong khuôn khổ đó, các ‘xung đột’ được kiến tạo qua các thủ pháp chồng chập, ráp hợp và chuyển dời những dạng thức tiết tấu chủ yếu gắn liền với việc sáng tạo ra giai điệu và việc thể hiện chức năng hòa âm. Cho nên, đã có một kiểu trật tự và qui cách đôi lúc bị các yếu tố xa lạ làm xáo trộn. Với Stravinsky, đặc biệt nhất, trong Le Sacre, trước tiên, có sự tồn tại của một mạch nhịp cơ sở, hầu như cảm thấy được một cách vật lí. (Không phải không có lí do, nhạc của ông luôn luôn được dự kiến một cách chính xác theo các giá trị được qui định bởi máy giữ nhịp, một hiện tượng ít thấy trong các nhà soạn nhạc hơn như người ta nghĩ). Mạch nhịp cơ sở này, tùy theo một đơn vị cho sẵn, được nhân lên, theo hoặc không theo qui tắc nào. Ðương nhiên, các hiệu ứng ‘kích động’ nhất được khơi dậy từ cái phép cái bội nhân bất qui tắc này, vì rằng nó tạo ra một qui mô ‘không thể dự kiến’, bên trong một nhạc cảnh ‘có thể dự kiến’.

Như một tác phẩm tự thân, Le Sacre không phụ thuộc vào chủ đề của vở balê; nó đã chứng tỏ điều ấy qua sự thể nó không cần bất cứ một sự cải biến nào khi được chuyển từ sân khấu sang phòng hòa nhạc. Có thể cho rằng cốt truyện của vở balê đã hòa quyện với cấu thức âm nhạc thành một thể đơn nhất: cấu thức của vở balê chính cái chủ đề của nó. Ở những năm sau đó, Stravinsky thường truy tìm một sự trùng khớp giữa cấu thức và biểu hiện; ở đây, trong Le Sacre du printemps, ông tình cờ bắt gặp cách giải quyết hầu như không ý thức, và đã biến sự phân cách (dù có cằn cỗi thế nào), giữa âm nhạc thuần túy và âm nhạc ‘tiêu đề’, giữa âm nhạc cấu thức và âm nhạc biểu hiện, thành vô hiệu và trống rỗng.

Cái nghi lễ ‘Pagan Russia’, quả thực, đã đạt được một chiều kích vượt trên cái điểm xuất phát của nó; chính nó đã trở thành nghi lễ và huyền thoại của âm nhạc hiện đại.

© 2004 talawas


[1]Ở đây Boulez có ý nói về phương thức vận dụng tiết tấu đẳng tiết (isorhythmic): khi một mô thức tiết tấu được sử dụng xuyên suốt trong một nhạc bản và là một qui trình quan trọng, nếu không nói là nổi bật nhất trong một bài nhạc. Phương thức này được sử dụng rộng rãi trong các bài thánh ca ngắn (motet) ở thế kỉ 14 và đầu thế kỉ 15. (ND)

 
© talawas 2026