trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
7.5.2008
 
Hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng
 

Khái niệm về vị trí của khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng

Khu vực hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng có thể chia thành ba vành đai kinh tế: Vành đai kinh tế trung tâm là vành đai kinh tế ven Vịnh Bắc Bộ bao gồm các khu vực ven biển của Quảng Tây, Hải Nam, Quảng Đông của Trung Quốc và các tỉnh ven Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam; Vành đai kinh tế gần kề là vành đai kinh tế kéo dài của khu vực trung tâm bao gồm Khu kinh tế Hoa Nam Trung Quốc và toàn bộ Việt Nam; Vành đai mở rộng hay là vành đai kinh tế lớn gồm phần lớn các tỉnh ở miền nam Trung Quốc và phần lớn các nước ASEAN.

Liên kết ba vành đai kinh tế này, điều quan trọng là đưa phát triển của Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng vào trong khuôn khổ lớn của hợp tác Trung Quốc – ASEAN. Có như vậy thì mới đưa ra được ý tưởng quy hoạch lớn, mới nắm bắt được cơ hội để tăng cường và thúc đẩy hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN.

Tư tưởng triển khai hợp tác Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ mỏ rộng của Trung Quốc

  • Lấy tôn chỉ là thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực Vịnh Bắc Bộ mở rộng. Dưới tiền đề không đi ngược lại lợi ích quốc gia, Trung Quốc ủng hộ những chủ trương có lợi cho phát triển bền vững của Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng.
  • Thực hiện hợp tác mang tính mở cửa. Không chỉ mở của đối với các bên tham gia hợp tác mà còn mở cửa đối với các bên ngoài khu vực tham gia hợp tác, chủ trương thực hiện hợp tác mang tính mở cửa, tích cực thu hút xí nghiệp các nước, các vùng kinh tế tham gia phát triển kinh tế khu vực Vịnh Bắc Bộ mở rộng.
  • Thực hiện thúc đẩy từng bước, tiến dần, từ dễ đến khó. Kinh tế khu vực này chưa phát triển, thay đổi được tình hình này cần quá trình lâu dài và nỗ lực gian khổ. Đối với những vấn đề chính trị, an ninh, nhân quyền và xã hội dễ gây ra bất đồng khi triển khai hợp tác thì tạm thời gác lại để những điều này không ảnh hưởng đến phát triển hợp tác khu vực.
  • Điều quan trọng không phải ở chỗ cắt giảm thuế, tự do hóa mậu dịch mà làm thế nào có được các biện pháp tiện lợi và hợp tác phát triển kinh tế. Do vậy cần ưu tiên thực hiện đơn giản hóa, thuận lợi hóa các thủ tục về quản lý hải quan, thương kiểm, xuất nhập khẩu và đầu tư, tốt nhất là hình thành được trình tự thống nhất, tiêu chuẩn.
  • Theo đuổi phương châm "1 cộng 1 lớn hơn 2". Phát huy ưu thế của các bên, bổ trợ cho nhau những mặt hạn chế thông qua hợp tác cùng phát triển.
  • Tham gia hợp tác dưới mọi hình thức, trong mọi lĩnh vực, mọi mặt, nhiều góc độ, nhiều mức độ. Xúc tiến lấy Quảng Tây là hạt nhân tiền duyên, Quảng Đông và Hải Nam tham gia vành đai tiền duyên đồng thời cổ vũ Hongkong tích cực tham gia triển khai hợp tác trên các hạng mục cụ thể.
  • Phát triển kinh tế theo quy luật kinh tế thị trường. Xí nghiệp là chủ thể kinh tế, chính phủ cần chế định quy tắc, đưa ra chính sách phù hợp để phục vụ xí nghiệp.
  • Tạo ra được môi trường đầu tư có sức hút.

Ý tưởng sơ bộ về mô hình hợp tác Khu Vịnh Bắc Bộ mở rộng

Ý tưởng khung hợp tác cụ thể theo mô hình nền kinh tế Trung Quốc.

Triển khai hợp tác ở tầng quốc gia:

Thúc đẩy hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng. Kinh nghiệm của Trung Quốc là lấy đầu tư của chính phủ để thu hút vốn trong nhân dân. Chính phủ Trung Quốc có thể đẩy nhanh xây dựng cơ sở hạ tầng như các tuyến đường sắt, đường bộ xuyên Á và kho dự trữ dầu mỏ để trong thời gian ngắn tạo ra được hạ tầng bền vững cho phát triển. Cách làm này cần nguồn vốn đầu tư lớn nhưng sẽ giúp cho trình độ phát triển của khu vực này nhanh chóng thu hẹp được khoảng cách với trình độ phát triển của các khu vực khác và hiệu quả kinh tế tổng hợp của khu vực sẽ bù đắp lại cho chi phí đầu tư. Do vậy, Trung Quốc và chính phủ các nước xung quanh Vịnh Bắc Bộ cần tích cực triển khai hợp tác ở cấp quốc gia, chính phủ Trung Quốc sẽ đóng góp một phần vốn viện trợ để thu hút sự tham gia của các xí nghiệp dân sự, dùng phương thức BOT hoặc các phương thức tương tự để thúc đẩy xây dựng hạ tầng.

Triển khai hợp tác xây dựng các hạng mục lớn. Học tập kinh nghiệm của Liên minh châu Âu về phát triển máy bay dân dụng và tên lửa đẩy vệ tinh, về xây dựng cơ sở hạ tầng, Trung Quốc cũng có thể cùng các nước xây dựng đường sắt cao tốc và nhà máy điện hạt nhân.

Triển khai hợp tác phát triển kỹ thuật cao như kỹ thuật năng lượng mới, kỹ thuật di truyền sinh vật v.v…

Lấy mục tiêu là thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển, chính phủ Trung Quốc cần đưa trọng điểm của chiến lược viện trợ cho nước ngoài vào các lĩnh vực hợp tác ở Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng.

Chính phủ Trung Quốc chỉ đạo các xí nghiệp lấy trọng điểm đầu tư ở bên ngoài là khu vực Vịnh Bắc Bộ mở rộng.

Triển khai hợp tác ở tầng xí nghiệp:

Hiện tại xuất khẩu mậu dịch của Trung Quốc quá lớn và đang tiến hành điều chỉnh chính sách, có thể chuyển một số ngành xuất khẩu đến khu vực Vịnh Bắc Bộ mở rộng để giúp xuất khẩu của khu vực phát triển nhanh.

Trung Quốc đã có nhiều kỹ thuật tương đối cao, chi phí sản xuất tương đối thấp, có nhiều xí nghiệp thuộc ngành chế tạo có năng lực cạnh tranh quốc tế. Xí nghiệp của các nước quanh Vịnh Bắc Bộ có thể tăng cường hợp tác với các xí nghiệp của Trung Quốc như: về chế tạo ô tô có Chery, về IT có Huawei, Lenovo, về điện gia dụng có Haier, HaiXin, về chế tạo thép có An Gang, Bao Gang và đóng tàu biển, Trung Quốc hiện đã là nước đứng thứ ba thế giới về đóng tàu biển.

Trọng tâm của hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng

Thúc đẩy hợp tác khu vực Vịnh Bắc Bộ mở rộng cần phải chế định nguyên tắc thúc đẩy là "lấy hành động làm phương hướng", phải tạo ra được các trọng điểm mang tính đột phá. Trọng tâm có thế chia làm hai loại: loại thứ nhất là các trọng điểm mà bản thân các nước phải làm (trong nước), loại thứ hai là dựa vào nhận thức chung, các bên phối hợp với nhau để làm (xuyên quốc gia)

Về loại trọng tâm thứ nhất, mấy năm gần đây, các khu vực ven biển của Quảng Tây đang tích cực thu hút đầu tư, xây dựng đường cao tốc, cải tạo cảng biển, xây dựng mạng hạ tầng liên kết với các tỉnh cận kề. Từ năm 2006 đến nay, Quảng Tây đã đầu tư hơn 10 tỉ NDT vào hơn 60 hạng mục hạ tầng. Đối với Việt Nam, Việt Nam cũng đang nỗ lực phát triển hạ tầng, xây dựng đường, bến cảng và các khu miễn thuế.

Về hợp tác xuyên quốc gia, trọng tâm là thiết kế và xây dựng mạng lưới hạ tầng khu vực bao gồm:

  • Cảng biển: Xây dựng ủy ban hợp tác cảng biển Vịnh Bắc Bộ, thông qua xây dựng mạng thông tin và hệ thống hợp tác cảng vụ để phát triển mạng cảng biển Vịnh Bắc Bộ.
  • Đường sắt: xây dựng hệ thống đường sắt Nam Ninh – Singapore, kết nối Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, PhnomPenh, Bangkok và Kuala Lampur.
  • Đường bộ: xây dựng hệ thống đường cao tốc Nam Ninh – Singapore, kết nối Hà Nội, Viengchan, Bangkok và Kuala Lampur.
  • Đường không: mở cửa thị trường hàng không, tăng tuyến bay giữa các thành phố trong khu vực.

Hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng và hòa bình ở Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông]

Các học giả cho rằng có nhiều hiện tượng cho thấy Trung Quốc chưa có thái độ khẳng định về tình hình phát triển ở Biển Nam Trung Hoa. Mặc dù Trung Quốc đã ký "Tuyên ngôn ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa" song Trung Quốc vẫn chưa cho rằng "Tuyên ngôn ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa" là văn kiện đạt được tốt nhất của các nước đòi chủ quyền về Biển Nam Trung Hoa. Trung Quốc và các nước xung quanh Biển Nam Trung Hoa cho rằng mặc dầu "Tuyên ngôn ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa" không có tính pháp luật mà các bên phải thực hiện, song ít nhất nó cũng kiềm chế các bên không thực hiện những hành động mở rộng khống chế hoặc đơn phương khai thác tài nguyên ở những khu vực đang tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa. Trên thực tế, các bên đều lợi dụng "Tuyên ngôn ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa" để kiềm chế hành vi của bên khác, ví dụ như năm 2003, Philippines dùng "Tuyên ngôn ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa" để phản đối Trung Quốc vi phạm nguyên tắc và Trung Quốc cũng dùng "Tuyên ngôn ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa" để yêu cầu Việt Nam phải tôn trọng nguyên tắc.

Căn cứ vào thái độ của Trung Quốc đối với hiệp định cùng thăm dò địa chấn với Việt Nam và Philippines cho thấy, "gác tranh chấp, cùng khai thác" vẫn là chính sách mà Trung Quốc đang tích cực thực hiện. Trước khi đạt được hiệp định ba bên, năm 2003 Trung Quốc đã ký với Philippines hiệp định cùng thăm dò địa chấn và dầu khí ở Biển Nam Trung Hoa. Để đạt được hiệp đỉnh với Philippines, Trung Quốc đã giành cho nước này khoản vay ưu đãi 500 triệu US$.

Đầu năm 2007, Trung Quốc. và Philippines bày tỏ nguyện vọng cùng thông qua các hành động và các hạng mục cụ thể để thực hiện "Tuyên ngôn ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa", đồng thời nỗ lực để chế định các nguyên tắc hành vi chuẩn ở Biển Nam Trung Hoa. Hai bên còn cam kết thúc đẩy hợp tác ba bên Trung Quốc – Việt Nam – Philippines. Những hiện tượng này nói lên rằng các bên tranh chấp chủ yếu ở Biển Nam Trung Hoa có nguyện vọng đi gần với Trung Quốc, và đây chính là cơ sở chính trị để triển khai thực hiện kế hoạch hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng mà Trung Quốc đề xuất.

Tỉnh Quảng Tây đề xuất Kế hoạch hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng là thể hiện cụ thể của sáng kiến "gác tranh chấp, cùng khai thác" về vấn đề Biển Nam Trung Hoa. Đề xuất này đã được Việt Nam, Sinhgapore, Malaysia và Philippines tán thành về nguyên tắc. Theo phân tích, sự xuất hiện của Khu hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng sẽ có lợi cho đối thoại và hợp tác về các vấn đề trên biển giữa Trung Quốc và ASEAN đồng thời trở thành bình diện giao lưu và hợp tác của các bên xung quanh Biển Nam Trung Hoa.

Tỉnh Hải Nam là đặc khu kinh tế lớn nhất của Trung Quốc cũng muốn hưởng lợi từ quan hệ kinh tế Trung Quốc – ASEAN. Tháng 3/2005, Quốc vụ viện Trung Quốc ban bố "Kế hoạch Quy hoạch phát triển kinh tế biển quốc gia", đề xuất nâng cao tỉ trọng của kinh tế biển trong kinh tế tổng hợp quốc gia, đưa Trung Quốc dần trở thành một nước mạnh về biển. Tiếp theo đó Quốc vụ viện Trung Quốc bổ nhiệm Vệ Lưu Thành, nguyên Tổng giám đốc Tổng công ty dầu mỏ Trung Quốc làm tỉnh trưởng Hải Nam. Điều này nói lên Trung Quốc ngày càng coi trọng kinh tế biển. Chính phủ tỉnh Hải Nam đã từng đề xuất, đến năm 2010, kinh tế biển của Hải Nam sẽ đạt khoảng 32,5 tỉ NDT (hơn 8 tỉ USD), gấp 2 lần năm 2003 và đến năm 2020 sẽ gấp 3 lần năm 2003. Mục tiêu chiến lược nhằm tăng kinh tế biển của Hải Nam là tăng cường khai thác dầu khí ở Biển Nam Trung Hoa.

Gần đây, Viện nghiên cứu Biển Nam Trung Hoa Trung Quốc có trụ sở ở Hải Nam đã đề xuất một ý tưởng chính sách rất quan trọng là xây dựng "Tổ chức hợp tác kinh tế khu vực Biển Nam Trung Hoa mở rộng" bao gồm các tỉnh thuộc khu vực tam giác Châu Giang của Trung Quốc và Đài Loan cùng với 5 nước ASEAN là Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia và Bruney. Một khi được thành lập, tổ chức này sẽ chiếm 5 triệu km2 diện tích đất liền, 3,5 triệu km2 biển, 850 triệu dân số, 1.720 tỉ [US$] GDP và gần 2000 tỉ US$ thương mại quốc tế. Trên thực tế, ý tưởng mà Hải Nam đề xuất không có khác biệt về bản chất với Kế hoạch hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng của Quảng Tây, điều khác biệt chỉ là ở trung tâm địa lý của hợp tác. Để xuất của Hải Nam hiện tại mới đang chỉ là khái niệm trên giấy trong khi đề xuất của Quảng Tây đã giành được đáp ứng tích cực ở tầng quốc gia và đã được đưa vào khung hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN.

Lịch sử 10 năm qua đã chứng minh nhất thể hóa kinh tế khu vực và việc cùng dựa vào nhau để tồn tại đã cải thiện mối quan hệ an ninh giữa Trung Quốc với các nước ASEAN và ngược lại cảm nhận an ninh tăng lên lại thúc đẩy thống nhất kinh tế phát triển. Tình hình nồng ấm ở Biển Nam Trung Hoa sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực.

(Tạp chí Đông Nam Á tung hoành số mới đây)

 
© talawas 2026