trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
6.12.2005
Lý Đợi
Hồng vệ binh Khúc Duy và hiện tượng Hầm bà lần
 


Sở dĩ tôi đặt tên bài viết này như vậy vì hai lý do. Thứ nhất, gọi Khúc Duy là Hồng vệ binh, vì khó có cái tên nào để gọi chính xác tính cách tác giả hơn, với nhóm cũng như với chính mình, anh chưa bao giờ là người khởi xướng bất cứ điều gì, nhưng thực hiện, nhiều khi lại làm quá trớn. Thứ hai, gọi tập Hầm bà lần (in photocopy 2004, có chỗ ghi Hừm bà lằn, rồi cả Hừm bà lần) là một hiện tượng, không phải vì nó tạo ra một cú sốc hay cái gì ghê gớm, mà là ở cái cách tiếp cận trong mỗi bài, nó hoàn toàn hoặc đang hướng đến hoàn toàn kiểu quan sát Hiện tượng luận (Phenomenalism). Nghĩa là thuần mô tả hoặc ghi chú lại – trong tầm quan sát đầu tiên, tước bỏ hoàn toàn kinh nghiệm thuộc vể hiểu biết, nhận thức và suy diễn, tác phẩm không còn là thái độ hoặc không còn cả chiều sâu; chỉ thuần bề mặt. Kiểu như bài:

Nước chấm Chin Su

A! cái thằng Chín Sừ bạn anh

Giờ giàu có rồi

Bày đặt thay tên đổi họ:

CHIN SU CHIN SU

Giang hồ Sài Gòn, nhất là ở Hội quán văn nghệ 81 Trần Quốc Thảo thì rất nhiều người biết kẻ nói mấy câu cửa miệng này là nhà thơ hay bày trò Vũ Ngọc Giao. Nhà thơ này kể một câu chuyện, mà sự thật không biết tới đâu, đó là giám đốc của hãng nước chấm nổi tiếng Chin Su, tên thật là Chín Sừ, bỏ dấu thì thành Chin Su. Nếu quả thật bài này “có hay– có sâu sắc” đến đâu thì với Vũ Ngọc Giao, nó vẫn là lời tiếu lâm, ẩn chứa một câu chuyện và chỉ dừng lại ở mức bàn nhậu. Nhưng đến tai Khúc Duy thì tác giả tin đó là một tác phẩm và viết gãy gọn như trên. Bài này sở dĩ được xem là một cách mô tả mang tính hiện tượng, là vì nó chẳng có một từ hay kinh nghiệm hay suy diễn nào là của Khúc Duy ở trong đó. Vũ Ngọc Giao nói thế nào, Khúc Duy ghi âm thế đó; và nếu hai nhân vật này đọc thì sẽ không có chuyện gì khó hiểu, nhưng với bạn đọc không biết chuyện thì nó giống như một ẩn ngữ. Không phải vì nó kể một câu chuyện quá cao siêu, sâu xa mà vì nó giấu một câu chuyện quá tầm thường. Quá tầm thường, nghĩa là không có chiều sâu – nghịch với thói quen đọc thông thường [đi tìm cái bất thường], vì thế (có thể) khó hiểu.

1. Khoảng giữa năm 1998 gì đó, Bùi Chát và tôi bắt đầu chơi lai rai với Khúc Duy. Lúc ấy, tay này là một diễn viên mới tốt nghiệp với 5-10 vai xã hội đen-ngoài rìa be bé, rồi tiếp tục vào học khoa Ngữ văn với chúng tôi, tóc dài ngang lưng, da trắng và hay hát “Dạ cổ hoài lang” mỗi khi uống rượu. Trong Thi hội tửu quán do chúng tôi lập ra (35 thành viên, mỗi tuần họp nhậu một lần), tay này có tửu danh là Khúc Phú Lễ và là người uống kém nhất, chỉ hai xị là xỉn, rượu Phú Lễ quá nặng. Tôi có tửu danh là Hà Ẩm Siêu, Bùi Chát thì La Đà Sâm Cúc, Nguyễn Quán thì Suối Tiên Tửu. Chủ xị luôn là Hoàng Tả Pháp (tửu danh Tả Gò Đen), cũng là một trong hai “bang chủ” cùng La Đà Sâm Cúc. Lúc ấy, Khúc Duy chưa làm thơ và cũng chẳng mấy thuộc thơ kẻ khác. Đam mê duy nhất là ngồi quán café, nghe metal rock. Mãi đến giữa năm 2000, có lẽ do không khí thơ ở các cuộc nhậu ảnh hưởng, Khúc Duy đọc bài thơ đầu tiên của mình cho tôi nghe, tại hẻm Hồng Lạc. Bài này có tên:

Uống giọt càfê

Uống… tâm hồn lắng

Đặc quánh

Cà fê, giọt… đếm nhịp đời

Trong vòng tròn

Uống… tan cả nỗi niềm

Tan cả hoài vọng

Tan cả giọt cà fê.

Chỉ vậy thôi, rồi thôi. Tôi cứ tưởng do cảm xúc rock metal hay rock n’ roll gì đó mà bài thơ ra đời. Cuối năm 2000, lại nghe một bài khác tại nhà rocker Ngọc Linh (lúc này hát cho Atomega). Và lần này thì im thật. Suốt năm 2001, chẳng bao giờ nghe. Mãi cuối năm, Bùi Chát và tôi đề xướng làm tập thơ kỷ niệm Thi hội tửu quán (lúc này đã tan rã, kết thúc là một trận đánh nhau thừa chết thiếu sống tại vỉa hè), nhưng nhìn qua nhìn lại không thấy ai, chỉ có Bùi Chát (lúc ấy là La Viễn Chinh) với tôi. Sau đành rủ thêm Trần Văn Hiến (sau này đổi bút danh là Huyền Tri, chuyên viết Haiku) và Hoàng Long, hai người bạn thư viện ham nghiên cứu. Lúc ấy, tìm Bùi Chát với tôi rất dễ, không ở thư viện thì ra Thị Nghè; thường nhật chỉ vậy: rượu và sách. Nguyễn Quán nghe tin in tập thì âm thầm viết trong hai ba tuần, một loạt bài mà sau này tỏ ra rất tươi trẻ trong Vòng tròn sáu mặt. Cuối cùng, trước khi chốt bài, cũng chỉ có 5, định in tập Ngũ giác dọc nhưng thấy không ổn. Nhưng để tìm thêm người thứ sáu, quả thật khó.

Một thời gian sau, từ Nguyễn Quán, tôi biết được Khúc Duy vẫn tiếp tục viết, vì thế quyết định rủ tham gia. Từ bản viết tay ngoằn ngoèo, anh đưa tôi một chùm thơ khoảng 15 bài, trong đó có những bài như:

Hắn I

hắn

ngồi thu lu trong bóng tối

đẩy những giọt nước. . .

bắn tung toé

cho

thoả mãn

thèm khát

kê tai vào dòng suối

sôi sục

vục một giấc mơ

ngấu nghiến

biến đi

biến lại

hắn trở về góc tối quen thuộc

Và thế là tập Vòng tròn sáu mặt ra đời. Nói chung trong loạt thơ này, Khúc Duy chỉ dùng mỗi thủ pháp cơ bản, kiểu Siêu thực: đem những sự vật-sự kiện bình thường đặt vào những hoàn cảnh bất thường. Lược bỏ tối đa liên từ dẫn hiểu và nội dung theo kiểu Lập tứ và Kể chuyện. Phải nói nghiêm túc, kiểu này dễ làm bản thân người viết thoả mãn, nhưng hiệu ứng gây ra cho người đọc lại rất thấp. Đây là chuyện của những ngày cuối năm 2001 và đầu 2002.

Và cái tính cách kiểu Hồng vệ binh của Khúc Duy cũng định hình từ lúc này. Luôn luôn sẵn sàng, nhưng không bao giờ tự làm việc, chỉ chờ một gợi hứng là bay vào… và thường không kể giới hạn. Sau tập Vòng tròn sáu mặt, Mở Miệng cũng chính thức thành lập, với ý tưởng của Bùi Chát, lấy từ Kinh thánh: Khởi thuỷ là lời; nói thêm: khởi thuỷ của lời là mở miệng. Cuối năm 2002, Mở Miệng ra tuyển tập đầu tiên, Mở Miệng, vol 1, hoàn thành và in photo tháng 10/2002. Và cũng chính lúc này, cái ý hướng về tác phẩm photo cũng hình thành, do thực tế xin giấy phép quá nhiêu khê, các biên tập viên thì làm công việc của các đao phủ; bảo thủ-ấu trĩ và phản động. Đến 2/2003 Bùi Chát và tôi lại phát động in tập 13 với sự góp mặt của hầu hết các cây viết đang hăng lúc bấy giờ, như Phan Bá Thọ, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Huyền Thư, Vi Thuỳ Linh, Vương Huy, Nguyễn Danh Lam, nhóm Mở Miệng, và một số người khác. Tham gia 2 tập này, Khúc Duy viết khoảng 15 bài, kiểu cách gần gần với bài dẫn sau đây:

Dị dạng

Xuyên làn da

tôi hỗn độn chảy sâu

rừng lông dựng đứng mỏ rận

xoáy lồng gió mùa cháy

phơi lưng vỏ cây rệu rã đom đóm ngày

đóng cục mạch suối

hàm răng trên nóc nhà ám khói

trong hộp tủ dây thừng và cổ họng

đêm chạy dọc trên phố

trước những nguyên tố trong ống nghiệm

và một tiếng lửa vỗ bến cảng mùa đông

Tóm lại, tính cách Hồng vệ binh Khúc Duy có thể được nhận diện qua một số biểu hiện sau: Một, mọi tác động theo kiểu cơ học hay “mệnh lệnh”, sự quyến rũ từ bên ngoài đều để lại dấu ấn trực tiếp và tức thì trên hành động, cũng như tác phẩm. Hai, khi nhận “mệnh lệnh” thì thường làm thái quá và quá trớn. Khúc Duy hoàn toàn là tác giả của phần đời sống bên ngoài, và luôn có xu hướng “vượt biên” hoặc làm đổ vỡ một số giới hạn.

2. Đến tập Hầm bà lần, thì Khúc Duy viết những tác phẩm kiểu như:

Hừm bà lần

Một hôm xuống phố âm thầm

thấy anh Mỹ Cảm đang cầm con cu

khóc hu hu

LU SU BU

trên đầu bỗng mọc cái u

tự nhiên Cảm thấy bốn lù mới ngon

bon… bon*…

*tại vần vè không cố ý phạm thượng–trung–hạ–thu–đông

Ngứa đít lắm khi trĩ_hỉ hỉ

để giờ đây [nè mẹ]

tui ngậm đắng nuốt cay [cú mèo]

tui lấy cây kim này [nhỏ]

tui đổ mực ra pha [phim sex ]

tui xăm vào mông đít [lác đác]

3 chữ viết nam mì

hì hì

thì cái tính chất Hồng vệ binh mới hiện “nguyên hình”, trong mức hoàn chỉnh của nó.

Cần thêm vài ghi chú nhỏ khi đọc tập này. Một, đây là tập phản thơ [đúng hơn một tác phẩm phản-phản thơ] được Khúc Duy hoàn thành trong sự khích động của bạn bè; nghĩa là không nhất thiết nó phải xuất phát từ nhu cầu nội tại, ý thức, sự dự phóng của tác giả. Nó khác rất xa với tập Đống rác vô tận của Phan Bá Thọ, được hoàn tất trong sự nhận thức lại một chuỗi những cách nhìn từ bên lề vào cái nhầy nhụa chính thống; và hẳn nhiên rồi, đây là một cách nhìn xuyên suốt trong khoảng 2 năm [2003-2004]. Nó cũng khác rất xa với tập Cái lồn bỏ đi & những bài thơ chửi rủa [bới, lộn] của Bùi Chát, Ê tao đây của Nguyễn Quốc Chánh, hay cả CD Trường chay thịt chó của Lý Đợi, cũng được in gần cùng thời gian. Ba tác phẩm này, cũng như tập của Phan Bá Thọ được ra đời trong sự hoàn chỉnh hay hướng đến sự hoàn chỉnh trong một khoảng nhận thức. Và dĩ nhiên, ý đồ duy nhất [trừ CD của Lý Đợi] là tạo ra một tác phẩm hoàn thiện trong sự nhận thức đó. Còn tác phẩm đó là gì, thì lại là một chuyện khác.

Khúc Duy hoàn toàn khác, tôi nhắc lại. Tác phẩm của anh không được ra đời trong sự nhận thức đầy đủ và cũng không hướng đến một sự [có thể] hoàn thiện. Ý muốn [chứ không phải là sự nhận thức] duy nhất của tác giả này là kết thúc một quá trình tạo tác ra tác phẩm. Còn chuyện tác phẩm đó đã đến hồi kết thúc chưa, lại là một vấn đề khác, mà tác giả này cũng chẳng mấy quan tâm. Nói khác đi, nỗ lực duy nhất của Hầm bà lần là bằng bất cứ giá nào để có được tập Hầm bà lần, và khi đã có, coi như tác phẩm đã xong, không còn vấn đề gì cần phải quan tâm hay thắc mắc.

3. Trở lại với ý từ đầu bài, tính chất Hiện tượng luận của Hầm bà lần.

Nói như một học giả Đông Âu, G. M. Vajda, thì: Cách của hiện tượng luận xem xét tác phẩm không chỉ không liên đới tới thực tại xung quanh, mà còn mặc định hoá thực tại bên ngoài ý thức và bên trong tâm lý của tác giả. Xem xét tác phẩm như một hiện tượng thuần nhất, chỉ có một thực chất.

Chỉ với một thực tại thực chất của hiện tượng mà Khúc Duy là một chủ thể tham gia; với giới hạn cuối cùng mà ngôn ngữ có thể võ đoán và miêu thuật được sự vật, tác giả này bố cục lại hiện tượng như nguyên khởi. Ví dụ như:

Bô lô boa loa

anh cho tiền boa

fuck fuck đi em

em sẽ thấy em thèm kem

fuck fuck đi em

xong rồi thấy ta tèm lem

thơ về đâu

về đâu… về đâu… về đâu

ruồi bâu… ruồi bâu… ruồi bâu

kiến đậu[lụ]_ vạch háng tìm sâu xa

ui cha

Và vì với thủ pháp như thế, nên nhiều khi muốn tác phẩm hoàn tất hay hoàn chỉnh hơn cũng không được. Vì thế, trong Hầm bà lần đa số các tác phẩm đơn lẻ là không [và không được phép hướng đến] hoàn chỉnh. Cho nên, nó hiển nhiên trở thành hiện tượng thoái hoá duy nhất của Phản thơ [nếu so với các nhà thơ Việt đương đại]. Không phải là một tác phẩm thơ, và càng không phải là tác phẩm phản thơ. Nó chỉ là một tập hợp không nhất quán và không thuần nhất của những hiện tượng mà tác giả quán sát [đơn lẻ] được.

Mà một tập thơ được xây dựng với ý thức phản thơ, để kết quả thành một tác phẩm vừa không thơ vừa không phản thơ, thì nhìn ở một góc độ nào đó, tác giả đã đến được thành công của mình. Một tác phẩm được cấu trúc với một lý do duy nhất: ĐỂ CẤU TRÚC MỘT TÁC PHẨM.

Nên rốt lại, gọi Hầm bà lần là một hiện tượng, và Khúc Duy là Hồng vệ binh cũng có cái lý của nó. Và cái lý này có thể minh chứng được.

La Hán Phòng 27.7.2005

© 2005 talawas

 
© talawas 2026