trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
13.2.2003
Nguyễn Hoàng Văn
Hội chứng hình như
 

Cả “hội chứng”, cả “hình như”, hết thảy, hai từ hay hai ý niệm, đều được mượn từ “Hội chứng Babylon” [1], bài viết… hình như là phê bình, khá rời rạc nhưng cũng khá là chặt chẽ… tam đoạn luận; thứ tam đoạn luận rất ư là có hậu, giống như mấy cái hậu tròn trịa đề huề trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh: “Từ Trần Vũ đến Thụy Khuê” – “Từ Thụy Khuê đến người khác” – “Từ Trần Vũ, Thụy Khuê đến tôi”.

“Tôi” đây là Phạm Xuân Nguyên, một Phạm Xuân Nguyên-nhà-phê-bình đã mấy lần minh định ở mình một tư cách phê bình: “với tư cách người phê bình” (đ. 6); một tiêu chí phê bình: “nghiêm túc tranh luận học thuật” (đ. 4); một phong cách phê bình: “viết một cách thông minh là giả định người đọc cũng thông minh” (đ. 7) v.v… Tác giả thì nói thế. Còn tác phẩm, có như thế hay không, lại là chuyện khác. “Hội chứng Babylone” của Phạm Xuân Nguyên không phải là một bài phê bình nghiêm túc. Ngụy biện, nó còn hổ lốn và nhếch nhác nữa. Và nó cũng chẳng phải là sản phẩm dành riêng cho lớp người đọc thông minh: gắng lắm, nó mới chỉ đạt tới dạng… hình như. Hình như là phê bình. Hình như là học thuật nghiêm túc. Và, nói lòng vòng như câu thần chú của mấy ông thầy phù thủy: hình như dành cho những độc giả hình như là thông minh.[2]

Mà thực. Bài viết cứ là oai oải một không khí… hình như: ngay ở hai câu đề từ mở lối đã thấy… hình như. Câu này thì “tương truyền” của Socrate còn câu kia thì “hình như” của Voltaire: “tương truyền” thì cũng được đi bởi thời của Socrate xưa lắm nhưng tại sao phải “hình như của Voltaire”? Mà, đối với độc giả gọi là thông minh, cái sự “Trước khi ngồi vào bàn hãy thống nhất khái niệm” là điều quá hiển nhiên, hiển nhiên từ xưa đến nay, cần gì phải vất vả mang ra một cái tên Tây… hình như để làm nhãn hiệu cầu chứng? Cứ như thế, bất cứ độc giả nào, miễn là có một chút đỉnh thông minh, cũng cảm thấy e dè ngần ngại, cảm thấy thiếu tin tưởng trước lối viết “hình như là thông minh” đầy sự xác định nửa vời, đầy sự không-dám-chắc bàng bạc trong “Hội chứng Babylone”. Chỗ này, Phạm Xuân Nguyên: “không phải là của tôi mà của một ai đó nói” (đ. 7). Chỗ kia, Phạm Xuân Nguyên cẩn thận lồng trong dấu ngoặc đơn để rào đón cho cái sự tiện thể nhắc chơi chứ không muốn đào sâu, phân tích kỹ: “(hình như không phải)”, “(hình như phải và không phải)” (đ. 6). Thậm chí, có nơi, Phạm Xuân Nguyên lại bình dân theo lối bông phèng của mấy kép hát cải lương: “nói dzậy mà không phải dzậy” (đ. 5). Dĩ nhiên, cái sự nhếch nhác của “Hội chứng Babylon” không chỉ đóng khung trong mấy tiểu tiết vụn vặt như thế: nó đầy ứ và đặc nghẹt trong toàn bài như là biểu hiện của một quan niệm phê bình lệch lạc.

Ngay ở cái tựa đề, đã thấy cái tính chất lệch lạc đó rồi. Lệch lạc ở cách đặt vấn đề đầy tính ngụy biện, ở lối vu khống với nào là cách mượn chữ để định danh: “Hội chứng Babylone”; nào lời vu cáo: “đòn hội chợ” (đ. 5); nào là lời kết tội: “bỏ bóng đá người”. Ở đầu phần hai, “Từ Thụy Khuê đến người khác”, khi viết:

Bài của Thụy Khuê đã gây tranh luận. Nhưng đáng buồn, thay vì tập trung vào “Hội chứng Babylone” sáng tác như đã nêu, thì ngay từ đầu những người tranh luận đã lại bị mắc vào “hội chứng Babylone” phê bình theo đúng nghĩa thánh kinh: mỗi người nói một thứ tiếng, không ai hiểu ai […] Nhiều bài gọi là tranh luận đã viết trong tâm thức và tâm thế nói lại Thụy Khuê chứ không phải nói lại bài viết của Thụy Khuê, nghĩa là không đi vào hệ thống bài viết, mà gây cảm tưởng là chỉ nhân bài viết để nói cá nhân. Nói theo ngôn ngữ bóng đá thì đây là kiểu “bỏ bóng đá người”. (đ. 4)

Phạm Xuân Nguyên đã lờ tịt những mối quan hệ mấu chốt và cố tình đánh rối vấn đề, cái sự đánh rối thể hiện ở sự phân biệt tối tăm kiểu “nói lại Thụy Khuê” và “nói lại bài viết của Thụy Khuê”. Ngụy biện, Phạm Xuân Nguyên đã cố tình không thấy, rằng, chủ yếu, cuộc tranh luận ấy xoay quanh một khuôn khổ quan hệ chính: từ những góc độ riêng, từng người nhập cuộc đã phê bình bài viết dàn trải và ôm ấp nhiều tham vọng của Thụy Khuê: cái sự “hiểu” hay “không hiểu”, do đó, phải thuộc về mối quan hệ đơn tuyến giữa từng người với Thụy Khuê chứ không phải là mối quan hệ giữa họ với nhau. “Phê bình” thì dàn trải ở đủ đề tài, đủ loại tác giả – tác phẩm ở đủ lĩnh vực khác nhau thì, điều hiểu nhiên là, phải đứng mũi chịu sào đối với tất cả những vấn đề khác nhau, phải chấp nhận những lời phản phê bình vọng lại từ những địa hạt và đề tài khác nhau ấy chứ? Phạm Xuân Nguyên khăng khăng bảo vệ độc quyền phê bình của “nhà phê bình” đa năng Thụy Khuê hay chăng? Mà, xét cho cùng, trong cuộc tranh luận ấy, đã có ai “đá người” với chuyện đời tư, chuyện cá nhân bao giờ đâu? Ðiều hiển nhiên là, xác đáng hay không xác đáng chưa nói, khi phê bình bài viết của Thụy Khuê, hầu như hết thảy đều nhắm vào những vấn đề liên quan đến văn chương và học thuật, nhắm vào từng luận điểm riêng của một bài nhận định văn học thế thôi. Lệch lạc trong quan niệm phê bình nên, khi gắn liền với hành động phê bình và con người phê bình, Phạm Xuân Nguyên dễ sa đà vào chỗ ngụy biện và vu khống.

Lệch lạc, Phạm Xuân Nguyên còn lệch lạc với cả tư-cách-cái-tôi, cái tôi gọi là phê bình lý luận của mình. Khi nhận định:

Với tư cách người đọc tôi rất tiếc, và buồn, khi Việt đã không ra tiếp được. Với tư cách người phê bình tôi muốn được hiểu vì sao Việt bị dừng lại, ngoài lý do tài chính (hình như không phải), hay lý do người đọc (hình như phải và không phải), có lẽ là lý do văn chương chăng.” (đ. 6)

thì, thật rõ ràng, không chỉ lệch lạc ở phương pháp phê bình, Phạm Xuân Nguyên còn lệch lạc cả ở cách nêu vấn đề theo kiểu phê bình du kích, cái kiểu “tiện thể” xé rào tung đòn vặt nữa. Trên ý nghĩa văn chương, đóng góp của một tạp chí văn học đâu hề nằm ở chỗ nó sống được bao nhiêu lâu, ra được bao nhiêu số, càng không phải là có lãi hay không có lãi mà là có khơi động nên một luồng sinh khí mới đối với một dòng hay một giai đoạn văn học nào đó hay không thế thôi. Phạm Xuân Nguyên nêu ra “tư cách người phê bình” nhưng lại loay hoay với công việc của một nhà báo, một nhà nghiên cứu sinh hoạt văn hoá-xã hội. Cứ theo chính những lời lẽ nêu trên, điều đầu tiên mà nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cần tập trung suy nghĩ, tập trung để đào sâu phân tích là tại sao, khi ngưng ngang để đổi chặng hành trình [3], tạp chí đó lại khiến một Phạm-Xuân-Nguyên-người-đọc phải cảm thấy “tiếc” và “buồn” chứ?

Nhưng đấy chỉ là những “tiểu tiết” mà, rất có thể, Phạm Xuân Nguyên sẽ cho là không quan trọng, cho là lạc ngoài… hệ thống. Nhấn mạnh đến tính chất “nghiêm túc”, tác giả “Hội chứng Babylone” nhấn mạnh đến tính hệ thống trong phương pháp phê bình: hệ thống trước hết, luận điểm chính trước hết, và bỏ qua những tiểu tiết lặt vặt. Thế nhưng, trong lý luận và phê bình, đâu là những tiêu chí cho sự phân hạng “tiểu tiết”? Hệ thống vốn kiến tạo từ những đơn vị. Cao hơn, nó còn kiến tạo theo một quan hệ trật tự nào đó: nếu một đơn vị đã tỏ ra trật khớp thì mối quan hệ trật tự sẽ trở nên trật khớp và cả hệ thống sẽ trở thành trật khớp. Nếu hệ thống lý luận nào cũng đặt cơ sở trên những ý niệm và những luận điểm triết học, văn học hay ngôn ngữ căn bản thì, khi bị chỉ trích là sai từ căn bản, sai từ khái niệm, nhà phê bình – lý luận có thể biện minh rằng đấy chỉ là… tiểu tiết hay không? Lỗ nhỏ có thể làm đắm thuyền và một hay hai luận điểm sai có thể làm hỏng cả một hệ thống lý luận. Vấn đề ở đây là, những lời phê bình Thụy Khuê mà Phạm Xuân Nguyên chê bai và chỉ trích ấy – như một hình thái nhận diện những “lỗ nhỏ” chết người – có xác đáng và có hợp lý hay không. Thế thôi.

Nói là nói vậy, chính Phạm Xuân Nguyên cũng không vượt khỏi tình trạng “tiểu tiết” mà ông ta phê phán ấy là bao nhiêu. Ðã phê phán người khác chỉ chăm chăm soi mói tiểu tiết thì tại sao Phạm Xuân Nguyên lại phải, cứ như kẻ tự nguyện sa vào cạm bẫy, chăm chỉ đào bới, chăm chỉ trích dẫn để cãi cọ với từng “tiểu tiết” dành cho Thụy Khuê mà mình hằng ra bộ khinh thường? Mình đã không “nỡ” bỏ qua thì làm sao trách cứ người khác không chịu bỏ qua? Hơn thế nữa, cũng giống như cái tựa đề đã mượn và đã chọn, những thông tin và nhận định theo lối bâng quơ của Phạm Xuân Nguyên đã biến “Hội chứng Babylone” thành một cái tháp Babel tạp nham và lộn xộn. Có điều, nếu tháp Babel trong Thánh Kinh thể hiện tham vọng ganh đua với Thượng Ðế thì, khiêm cung hơn, “tháp Babel” của Phạm Xuân Nguyên chỉ loay hoay trong nỗ lực bào chữa cho Thụy Khuê, một thành phần làm nên cái tam-đoạn-luận-có-hậu “Từ Trần Vũ, Thụy Khuê đến tôi”. Thế nhưng, dù đã nhấn mạnh và ca ngợi đến tính “hệ thống” trong hai bài viết – từ “Hợp Lưu 12 năm – Trang kinh tôn huyền hoặc hậu hiện đại” của Trần Vũ đến “Vấn đề đoạn tuyệt quá khứ để lên đường” của Thụy Khuê -“Hội chứng Babylone” cũng chỉ mới nhàn nhạt… hình như là hệ thống.

Gọi “hình như” là vì, thực chất, cái gọi là “tính hệ thống” trong bài viết của Phạm Xuân Nguyên chỉ đơn giản một phép cộng hổ lốn, trần xì là một tổng số thu gom vá víu thế thôi. Bao giờ cũng vậy, tính hệ thống không chỉ đơn giản là chiều dài, là sự chạy suốt và cái gì cũng dây dưa một tý. Ðậm hay nhạt, ít hay nhiều, nó phải bộc lộ tính chất toàn thể nhưng, trong “Hội chứng Babylone”, Phạm Xuân Nguyên đã không thể hiện được tý ty nào tính chất như thế. Cái toàn thể bao giờ cũng lớn hơn và nặng ký hơn cái tổng số bởi, như là một hệ thống toàn vẹn, bên cạnh sự hiện diện của các yếu tố cấu thành còn có quan hệ và trật tự giữa những yếu tố đó nữa. Bênh vực Thụy Khuê, Phạm Xuân Nguyên chỉ nhặt nhạnh những luận điểm tin là có lợi cho Thụy Khuê hay bất lợi cho những ai phê phán Thụy Khuê nhất, từ Ðoàn Cầm Thi đến Ðoàn Xuân Kiên, từ Khế Iêm đến Nam Dao rồi… cộng lại. Phép cộng đã tạp nham và thiên vị thì số thành cũng không tránh khỏi cái tính chất tạp nham và thiên vị.

Bản chất tạp nham và thiên vị đó đã thể hiện ngay trong sự thiếu nhất quán và phi tiêu chuẩn trong cách lý luận của Phạm Xuân Nguyên. Chỉ trong một đoạn văn ngắn, chẳng có ý tứ gì sâu sắc hay phức tạp cho lắm, Phạm Xuân Nguyên đã tỏ ra cực kỳ bất nhất. Ngay sau khi tỏ ý ghê sợ cho “quan điểm sáng tạo” của người Việt và ca ngợi phong cách học hỏi của người Nhật một cách lủng ca lủng củng như thế này:

Tôi sợ cái “quan điểm sáng tạo” này của người Việt ta lắm rồi. Nước Nhật phát triển có một nguyên nhân là vì người Nhật trước một cái mới họ cứ tìm hiểu thật kỹ thật sâu, rồi bắt chước nguyên xi, khi đã tin là hiểu hết và thành thạo họ mới bắt tay vào sáng tạo, sửa đổi. Người Việt thì theo quy trình ngược lại… (đ. 13)

nhà phê bình – lý luận… hình như là cầu toàn Phạm Xuân Nguyên lại quay gót 180 độ để biện minh cho bản dịch Mỹ học Hegel đầy bất toàn của Phan Ngọc bằng chính cái “tâm thức và tâm thế” nhếch nhác, lười biếng, xuề xoà lấy được:

Các vị cứ bắt tay vào dịch đi và các vị sẽ thấy chọn được một cuốn đáng dịch khó thế nào, và để có được một bản dịch xứng đáng thế nào. Nếu không, để trở lại trường hợp Phan Ngọc dịch Hegel, người Việt tự an ủi “thôi thì, méo mó có hơn không” (đ. 13)

Cả một lập trường, một thế đứng cho mình, Phạm Xuân Nguyên cũng chẳng có gì chắc chắn, rõ ràng. Nó cứ là mập mờ…. hình như. Nhà “phê bình – lý luận” không hiểu cả những điều mình đang nói, bậy đâu lý sự đó, bạ đâu cãi đó, chày cối sao cũng được miễn là thuận mồm và thuận tai là tốt hay chăng? Thấy cái gì hợp với sở thị, sở kiến thì nhắm mắt tung hô, cầm bằng không là như thế thì sẵn sàng bài xích hay tiện thể xé lẻ để cạnh khoé xỏ xiên hay chăng? Chi tiết thì thật là nhỏ, thật là… “tiểu tiết” nhưng cái logic của vấn đề không “tiểu tiết” chút nào: nếu nhìn ở góc độ văn hoá thì đấy là một đặc điểm lớn của não trạng tiểu nông, còn nhìn trên khía cạnh phương pháp luận thì đấy lại là tính chất phi tiêu chuẩn và vô nguyên tắc [4].

Phi tiêu chuẩn và vô nguyên tắc nên, ngay ở những vấn đề trọng yếu nhất, Phạm Xuân Nguyên tỏ ra lạc đề và hiếm khi nào nắm bắt vấn đề một cách có hệ thống. Khi bênh vực “phương cách để thoát khỏi hội chứng (Babylone)” (đ. 3) mà Thụy Khuê đã nhấn mạnh trong “Vấn đề đoạn tuyệt quá khứ để lên đường”:

Ðể “lên đường”, kinh nghiệm của Nietzsche và Thạch Lam có lẽ vẫn còn đúng cho hôm nay: Mình dám là mình. Nhà văn viết gì thì viết, trước hết hãy gắng là mình. Không thành kiến. Không mặc cảm. Cũ mới đều có chỗ đứng, nếu đó là văn chương đích thực.

Phạm Xuân Nguyên đã bỏ qua tính hệ thống trong những luận cứ phản bác của Ðoàn Cầm Thi để lẩm cẩm cãi vã bằng cách phân tích mấy câu thơ của Tố Hữu. Mà, cũng phải thôi, cả Thụy Khuê lẫn Phạm Xuân Nguyên cũng tỏ ra mờ mịt với những ý niệm “dám là mình” hay “văn chương đích thực” ấy. Ý niệm thì chẳng có gì mới, nhưng trong bối cảnh mới nó phải như thế nào đây chứ? “Là mình” nhưng đâu đơn giản là mình của “ta về ta tắm ao ta”? Cái “là mình” phải là cái “mình” không ngừng bắt chước, học hỏi, cập nhật và sáng tạo nhưng vẫn riêng là mình, vẫn khác với hình mẫu mà mình bắt chước và học hỏi, và khác với mình của hôm qua, hôm kia, khác cả với những ai đang hiện diện chung quanh. Ðã đề cập đến cái “là mình”, đến ý niệm “văn chương đích thực” như thế, ít ra nhà phê bình phải dẫn dắt trong những hướng đi như thế. Không chỉ, như Thụy Khuê, đơn giản nêu lên một “kinh nghiệm cũ”, của Nietzsche, cho ra Tây dù chẳng chịu cho biết rõ ràng đấy là “kinh nghiệm gì”; hay của Thạch Lam, cho có vẻ ta. Và, càng không nên lẩm cẩm như Phạm Xuân Nguyên khi loay hoay với cái gọi là “cảm xúc chủ đạo” ở mấy chữ “mình” và “ta” trong thơ Tố Hữu.

Là một bài toán cộng rời rạc và thiên vị, cơ hồ sự liền lạc của “Hội chứng Babylone” lại là thứ vữa hồ xào xáo từ những tiểu tiết bâng quơ, chẳng ăn nhập gì với chủ đề đã nêu mà chỉ nhằm truyền tải những ý tứ cạnh khoé xỏ xiên nhằm bộc lộ những ẩn ức hay bực tức dồn nén lâu ngày thế thôi. Không những chỉ hổ lốn hoá và nhếch nhác hoá bài viết… hình như là hệ thống, những tiểu tiết bâng quơ xỏ xiên ấy còn thể hiện sự thiếu nhất quán trên phương diện đạo đức của người viết. Phê phán những bài viết nhắm vào Thụy Khuê là những ngón “đòn hội chợ”, Phạm Xuân Nguyên cũng chẳng khá hơn gì, thậm chí tệ hơn. Trong “Hội chứng Babylon”, người đọc bắt gặp không ít những thông tin, những nhận xét bâng quơ đầy tính tiểu tiết, đầy tính du kích và tính cơ hội chủ nghĩa để thừa cơ đâm người này một vài câu, tiện thể thọt người kia một vài chữ. Chỗ này, rất là bề trên, Phạm Xuân Nguyên châm: “tôi cũng bị sa đà vào mấy cái chữ vớ vẩn…” (đ. 6); chỗ kia, rất là cao đạo, Phạm Xuân Nguyên chọc: “Mà để thế tôi còn tránh được cái tiếng ‘dân tộc hẹp hòi’ nữa, kiểu sao ‘trung lập’ lại thành ra ‘lạnh lùng’ ấy mà.” (đ. 11) v.v… Một cách trịch thượng, Phạm Xuân Nguyên cẩn thận mở dấu ngoặc đơn để cười cợt Khế Iêm: “(tác giả lợi dụng rất khéo chỗ để nói thêm và nói lại cho “đứa con tinh thần” của mình, cứ xem cách đặt đầu đề càng rõ)” (đ. 6) nhưng lại chẳng chút ngượng ngùng khi sỗ sàng, Ghế trên ngồi tót sỗ sàng, gắn kết cái tên mình trong cái tam đoạn luận cũng không kém phần sỗ sàng, với nguyên một tiểu tựa: “Từ Trần Vũ, Thụy Khuê đến tôi” sau khi dày công đầu tư với những lời ca ngợi nồng nhiệt nhắm vào hai bài viết của Trần Vũ và Thụy Khuê với nào là “công phu”, nào là “nghiêm túc”, nào là “đáng được đọc kỹ…” (đ. 1&2). Chính vì thế mà, trong khi cố ra vẻ bề trên chê bai kẻ khác bằng một lập luận lủng củng, hết sức khó hiểu là “đã viết trong tâm thức và tâm thế nói lại Thụy Khuê, chứ không nói lại bài viết của Thụy Khuê”; thì Phạm Xuân Nguyên, xuyên suốt “Hội chứng Babylone”, cứ là ung dung tự tại với cái “tâm thức và tâm thế” nhai lại Thụy Khuê.

Thảm hại hơn, nhếch nhác hơn nữa, Phạm Xuân Nguyên còn “thông tin” một “thông tin phi thông tin”, bâng quơ thì rất bâng quơ nhưng võ đoán cũng rất là võ đoán: “Tôi sẽ không nhắc lại ở đây một cái lỗi trong luật biên tập cố ý mắc của nhóm này [Việt] đã làm bùng lên một trận chiến giả từ hai năm trước, chuyện đó tôi đã có bài viết đăng trên Hợp Lưu…” (đ. 6). Như thế, là “nhắc” hay là “không nhắc”? Như thế, trận chiến đó “giả” ở chỗ nào? Và, khi đã tham gia một trận chiến giả như thế, Phạm Xuân Nguyên đã tham gia với tính cách giả hay tính cách thật? Chúng ta hoàn toàn không hiểu nổi. Chúng ta cũng không hiểu là nhà “lý luận – phê bình” đó đang “phê bình”, đang “tranh luận học thuật nghiêm túc”, đang “viết thông minh” hay chỉ lăng xăng giở trò tam đoạn luận “đến tôi”, vừa “luận”, vừa tiện thể nắm bắt cơ hội để giải toả những ẩn ức dồn nén lâu ngày theo lối nói hành nói tỏi của các bà già nhà quê giữa nơi việc làng, họp chợ? Với một nhà phê bình hằng nêu cao những tiêu chí đáng ngưỡng mộ là “giả định người đọc cũng thông minh”, người đọc đã có cảm giác bị xem thường đến thế. Với những nhà phê bình không hề giả định như thế, họ còn biết trông chờ vào điều gì tốt đẹp hơn đây?

Quan niệm phê bình lệch lạc và vô nguyên tắc của Phạm Xuân Nguyên còn thể hiện ở sự lộn sòng và nhập nhằng của ở cách nhìn nhận tư thế người đọc và người viết trong mối quan hệ phê bình. Thật là quá hiển nhiên, khi viết:

Tôi không nghĩ là Nam Dao không đọc không biết, nhưng thế càng tệ hơn, khi có đọc mà vẫn cố tình nói ngược lại vì muốn chơi trò “xiếc khỉ”. Nam Dao lại còn bắt bẻ Thụy Khuê là gắn nhãn mác cho Trần Vũ, Nguyễn Bình Phương, trong khi anh đọc không thấy như vậy. Lạ chưa, cảm nhận của anh khác của tôi, đó là cách đọc của mỗi người. Chưa kể, anh đã vin vào một câu phỏng vấn của Mai Thảo để sổ toẹt một luận điểm của Thụy Khuê, nhưng lại không chịu tin lời của những nhà văn trong cuộc thừa nhận họ rất “ăn chịu” với García Marquez và tiểu thuyết Mỹ Latin, thế nghĩa là bất nhất rồi… (đ. 7)

thì, chẳng khá hơn chút nào, Phạm Xuân Nguyên cũng… “lạ chưa” và cũng… “thế là bất nhất rồi” không kém. Thì, ai cũng có quyền đọc theo cách đọc riêng của mình, tuy nhiên, trong mối quan hệ chuyên nghiệp, bản chất của vấn đề lại hoàn toàn khác. Nó có những tiêu chí riêng. Khi Nam Dao, trong tư thế người viết/đọc, ta thán là “không thấy như vậy”, vấn đề lại thuộc về tính chất thiếu thuyết phục, tính chất vô căn cứ hay có-thể-bác-bỏ-được trong những luận cứ của nhà phê bình Thụy Khuê. Ðọc thế nào là tùy cách cảm thụ, tuy nhiên, khi một nhà phê bình muốn rao bán cách cảm thụ của mình, họ có nhiệm vụ phải thuyết phục người đọc hay giới sáng tác. Không thuyết phục theo lối “tâm phục khẩu phục” thì, ít ra, cũng phải chứng minh bằng những luận điểm xác đáng và hợp lý để người đọc hay người sáng tác cảm thấy phân vân, cảm thấy bất an với những cách cảm thụ hay cách viết đã cũ của mình.

Với ranh giới người đọc và người phê bình thì thế, với tiêu chí của sáng tác và lý luận – phê bình, Phạm Xuân Nguyên cũng không kém phần lờ mờ, không kém phần… hình như. Biện hộ cho cách viết tên tuổi ngoại quốc thiếu chính xác của Thụy Khuê trước lời phê bình của Ðỗ Nguyễn, Phạm Xuân Nguyên lại cẩn thận mở ngoặc “nhớ” đến Cơ hội của Chuá, tác phẩm với “giá trị có thật” của Nguyễn Việt Hà nhưng bị lắm lời chê bai chỉ vì mấy câu ngoại ngữ sai chính tả do lỗi biên tập. Quả là một điều khôi hài khi một nhà “phê bình – lý luận” không phân biệt được đâu là tiêu chí của giới sáng tác, đâu là tiêu chí của giới lý luận – phê bình! Nếu giới sáng tác chú trọng đếu yếu tố hư cấu, yếu tố tưởng tượng và sáng tạo thì giới lý luận – phê bình phải chú trọng hơn với yếu tố chính xác và duy lý chứ? Phạm Xuân Nguyên bảo là lỗi biên tập, thì, cứ cho là như thế, nhưng đó có phải là một hiện tượng mang tầm khái quát hay không? có phải toàn bộ hiện tượng viết sai chính tả đều là do lỗi biên tập hay không? Xưa, trăm dâu đem đổ đầu tằm; nay, trăm lỗi chính tả, Phạm Xuân Nguyên đem đổ đầu… ban biên tập! Càng khôi hài hơn nữa, và càng thảm hại hơn nữa khi Phạm Xuân Nguyên biện bác với Ðỗ Nguyễn về cách viết tên ngoại quốc thiếu chính xác của Thụy Khuê bằng cách vin vào lối nói thông tục của người dân trong nước: “Ðỗ Nguyễn có biết vì sao dân Việt chỉ gọi tác giả tiểu thuyết Trăm năm cô đơn độc một tiếng là Marquez chứ không phải là García Marquez như đúng phải thế hay không.” Một đằng, Phạm Xuân Nguyên đòi hỏi những người khác phải đọc Thụy Khuê như những “người đọc thông minh” (đ. 7). Một đằng, Phạm Xuân Nguyên lại muốn họ phải chấp nhận tiêu chí “viết phê bình” của Thụy Khuê như là tiêu chí của ngôn ngữ thông tục, lối nói chuyện của người dân, cắt xén thế nào cũng ổn miễn là nhì nhằng hiểu được!

Dễ thường, nói theo ngôn ngữ chính trị từng thịnh hành một thời tại Việt Nam, cái tính chất phi tiêu chuẩn, vô nguyên tắc và thiên vị ấy chính là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt “Hội chứng Babylon”. Chê trách rằng căn bệnh sa đà tiểu tiết đã gây nên cuộc tranh luận “đáng buồn” nhắm vào Thụy Khuê, không chịu xoay quanh “phương cách” mà Thụy Khuê đề nghị, Phạm Xuân Nguyên chẳng hề thấy rằng nguyên nhân chính, phần lớn, lại thuộc về Thụy Khuê. Có thể nói, chính Thụy Khuê cũng đã góp phần tạo nên cái sự “đáng buồn” đó, và, sử dụng chính ngôn ngữ của Phạm Xuân Nguyên, Thụy Khuê đã, thực sự hay cố tình, “không hiểu” người đối thoại với mình khi sa đà vào mấy tiểu tiết lặt vặt.

Lâu nay, khi xông xáo trên đủ lĩnh vực – từ văn chương đến triết học, lịch sử, hội hoạ hay âm nhạc v.v… – Thụy Khuê đã tạo cho mình một hình ảnh của một nhà phê bình có vóc dáng bề ngoài khá nổi, khá là.. bách khoa. Tuy nhiên, cũng như Phạm Xuân Nguyên, tính cách đó cũng chỉ mới ở mức làng nhàng… hình như. “Phê bình”, nếu chỉ đơn giản tính ở số lượng đề tài, ở tác giả, tác phẩm hay ở vấn đề đặt ra, kể ra Thụy Khuê cũng khá là… bề thế; tuy nhiên, khi phải đối diện với vấn đề trách nhiệm người viết trước những vấn đề đã đặt ra, Thụy Khuê lại tỏ ra rất mơ hồ, rất khiêm tốn và rất… vặt.

Thực vậy. Trong dăm ba bài phê bình văn học mới đây, khi bàn về những đề tài trọng yếu và nóng hổi liên quan đến cũ và mới, đến di sản và đoạn tuyệt, đến cổ điển/hiện đại và hậu hiện đại, chưa khi nào người đọc có cơ hội gặp gỡ một nhà phê bình Thụy Khuê đầy ý thức trách nhiệm. Ðặt vấn đề thì rất nổ, rất bề thế nhưng giải quyết thì lại, khi thì chung chung, khi thì lặt vặt; thậm chí nhiều khi còn vặt vãnh theo lối phê bình du kích. Trong “Giới thiệu triết học hiện sinh…”, đăng trên Hợp Lưu số 67, Thụy Khuê chỉ đề cập đến những cây bút “phi” danh kiểu: “đôi khi có những tác giả muốn bước thẳng vào cái mới nhất”. Trong “Vấn đề đoạn tuyệt với quá khứ để lên đường”, đăng trên Hợp Lưu số 68, Thụy Khuê lại viết về thế hệ cầm bút mới một cách khơi khơi; khi thì “Có người đang viết một truyện kể theo lối truyền thống, bỗng ngừng ngang xương…”, khi thì “Có người làm thơ theo lối siêu thực, cứ thấy những chữ nào bí hiểm tối mù là nhét vào tưởng thế là siêu thực…” Cái sự “phê bình” khơi khơi, vô tội vạ như thế không những chỉ hàm ý một thái độ vô trách nhiệm mà còn hàm ý một tư thế chưa sẵn sàng, chưa chín, chỉ mới ở mức… hình như. Bởi, nếu đã sẵn sàng với trách nhiệm của ngòi bút mình, thì, ngay từ đầu, chắc chắn nhà phê bình đã thẳng thắn và rành mạch hơn về những “có người”, những “có những tác giả” mơ mơ hồ hồ; hay ít ra, cũng phải nêu lên một vài trường hợp tượng trưng để phân tích một cách rõ ràng, đâu vào đó. Và bởi, nếu đã sẵn sàng, đã nắm chắc vấn đề, Thụy Khuê đã không bộc lộ những triệu chứng… hình như, mấy triệu chứng kiểu: “đại để như sau”; kiểu: “một cách nôm na”; kiểu: “đại loại như sau” mà Ðoàn Cầm Thi đã vạch ra trong “Có một dòng văn học như thế” [5].

Trên thực tế, tính chất chưa sẵn sàng, tính chất “hình như” của Thụy Khuê đã thể hiện rất rõ trong cuộc gọi là “tranh luận” với Ðoàn Cầm Thi, khởi đi từ tiểu luận nói trên. Khi trực diện phê bình nhà phê bình Thụy Khuê – về cách phê bình Nam Dao, về cách phê bình lớp văn nghệ trẻ “theo mới”, về ý niệm “dám là mình”, về những vấn đề trọng yếu khác của phương pháp phê bình trong “Vấn đề đoạn tuyệt quá khứ để lên đường” – chắc hẳn Ðoàn Cầm Thi có đủ lý do để chờ một Thụy Khuê sẵn sàng. Sẵn sàng để trả lời một cách trực tiếp, rành mạch và nhắm thẳng vào từng vấn đề mấu chốt như một nhà phê bình đầy trách nhiệm. Mà không chỉ là Ðoàn Cầm Thi. Những tác giả đã bị ngòi bút Thụy Khuê tung hứng cũng chờ. Cả người đọc, đồng ý hay không đồng ý với Thụy Khuê, cũng chờ. Bởi, khi đã nêu, đã đặt vấn đề ra rồi thì phải giải quyết cho tới nơi, tới chốn chứ? Bởi, khi đã táo bạo, đã hiên ngang đưa ra một quan niệm và một đường lối văn học thì phải gan góc đối diện với kẻ đã lật ngược quan niệm và đường lối đó chứ? Có như thế người đọc mới không cảm thấy bị phản bội và vấn đề mới được giải quyết rốt ráo, tường tận hơn. Tuy nhiên Thụy Khuê đã không sẵn sàng, không sẵn sàng để sự thể đâm ra vớ vẩn, khá là… tiểu tiết.

Tiểu tiết thật. Thoắt một cái, như một cách trả lời Ðoàn Cầm Thi với “Về những lời tuyên bố của Nguyễn Huy Thiệp tại Paris” [6], “nhà phê bình” Thụy Khuê chợt hoá thân thành “nhà bạn-Nguyễn-Huy-Thiệp” Thụy Khuê. Trả lời những điều nêu lên trong bài phê bình nhắm vào mình, Thụy Khuê trở nên nhã nhặn, quên hết những nhận định và phân tích rầm rộ, rất nổ, rất nóng để làm một “nhà bạn-nhà-văn” tha thiết, chí tình. Kể ra, khi “nhà bạn-nhà-văn” lấn lướt nhà phê bình văn học, kho thông tin của người đọc cũng nhộn thêm chút đỉnh với những chuyện lăng nhăng quanh cái bàn ăn, quanh cái micro của mấy gã phóng viên láu cá ở kinh đô ánh sáng Paris; còn những thắc mắc lớn của độc giả, của giới sáng tác và thậm chí phê bình về những đề tài gay gắt như “đoạn tuyệt” và “lên đường”, “quá khứ” và “hiện đại”, “hiện sinh” và “hậu hiện đại” cứ là dang dở, xô bồ. Thì, cũng hợp khẩu vị thôi: dân ta vốn thích quà vặt, thích chuyện giai thoại. Và, cũng hợp lý thôi: thế giới vẫn chưa đến ngày tận, vẫn còn ngày mai, ngày mốt hay ngày kia để trọn vẹn câu chuyện. Tuy nhiên, nếu đã trịnh trọng nêu ra những sứ mạng; đã, một cách bề trên, chỉ ra những sai lầm, chỉ ra nào là những “mục tiêu” và “phương hướng”, nào là vị thuốc thần bá bệnh “chủ nghĩa hiện sinh”, nào là “dũng cảm là mình”; tại sao nhà phê bình lại không dũng cảm và sẵn sàng “là nhà phê bình” trước đã?

Khi đã để con người xã hội lấn lướt con người chuyên môn, ngay trong một vấn đề chuyên môn, giữa một diễn đàn chuyên môn, có lẽ đấy đã là một sự thất lạc: lạc đề tài và lạc hệ thống. Lạc nên, từ những luận điểm và luận cứ đao to búa lớn, tưởng là liên quan đến sự sống còn, đến tương lai của một dòng và một thế hệ văn học, câu chuyện văn chương chợt hoá ra ồn ào, và ồn ào một cách lảng nhách. Lạc nên, rầm rộ là thế, chính quy là thế, đề tài văn học chợt xoay chuyển thành những lời tiếng lằng nhằng về những lời tuyên bố mập mờ vốn cần rất nhiều chú thích, cần rất nhiều công phu… biên tập. Từ một cuộc tranh luận liên quan đến một thế hệ và một giai đoạn văn học, chính Thụy Khuê đã lái câu chuyện đi vào chỗ tranh cãi tào lao về những lời tuyên bố nhì nhằng bên bàn ăn. Rồi từ cái bàn ăn ấy, một Thụy Khuê từng tạo ấn tượng hình như là… bề thế, hình như là… bách khoa lại quay sang với những trang, những mục lặt vặt từ những trang tự điển, ngôn ngữ học hay triết học, và chợt, câu chuyện, nói theo Phạm Xuân Nguyên, trở nên… “đáng buồn”.

Nguyên nhân của cái sự “đáng buồn” đó không hẳn hoàn toàn nằm ở vế thứ hai của mệnh đề “Thụy Khuê và người khác” như một Phạm Xuân Nguyên hậu-tam-đoạn-luận-đến-tôi đã từng khẳng định. Sâu xa hơn, mang tính khái quá cao hơn, vấn đề thuộc về… Hội chứng hình như, cái hội chứng làng nhàng bách khoa, hội chứng thứ gì cũng biết, thứ gì cũng ôm đồm nhưng chẳng bao giờ biết tới nơi tới chốn, hội chứng cái gì cũng đòi làm thầy đời nhưng chẳng bao giờ dám đoan chắc cái gì, chẳng dám vin vào tiêu chuẩn nào cụ thể và cũng chẳng bao giờ dám nắm lấy trách nhiệm trước một điều gì cụ thể. Cái hội chứng đã thai nghén nên phương pháp phê bình – lý luận… hình như: hình như là phê bình, hình như là học thuật nghiêm túc, cái phương pháp phê bình – lý luận mà Thụy Khuê và Phạm Xuân Nguyên là hai đại biểu nổi, nổ vào hàng bậc nhất.

Sydney 4.2.03


Chú thích:

[1] Ðã đăng trên talawas, 31.01.2003, đề tựa “Hội chứng Babylone: được PXN mượn của Trần Vũ.

[2] Ðể tiện theo dõi, tôi ghi xuất xứ của câu trích theo số thứ tự của từng đoạn trong bài “Hội chứng Babylone”.

[3] Tạp chí Việt đã trở thành một phần của website Tiền Vệ ở địa chỉ http://www.tienve.org

[4] Có lẽ Phạm Xuân Nguyên cũng chưa đọc kỹ bài viết của những người này trước khi phê phán. Phạm Xuân Nguyên “hồ nghi” là những người “không đọc Mỹ học Hegel từ tiếng Ðức nhưng lại phê bình Phan Ngọc” tuy nhiên việc so sánh bản tiếng Ðức và tiếng Việt thì chỉ có Hoặc Ngữ và Phạm Thị Hoài. Còn đa số những tác giả khác chỉ đề cập đến cách sử dụng tiếng Việt quái gở của Phan Ngọc, đến cách trả lời bất nhất, đến ý nghĩa văn hoá của cuộc tranh luận trên, không hẳn ai cũng chỉ nói đến chuyện dịch thuật.

[5] Ðã đăng trên talawas, 30.12.2002, mục Tranh luận văn học

[6] nt.

© 2003 talawas

 
© talawas 2026