trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
30.9.2006
 
Hoạt động cách mạng của Việt kiều ở Thái Lan (cuối thế kỷ XIX – 1975)
 

Chương III

Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội với Việt kiều ở Thái Lan

Cho đến năm 1925, Việt kiều ở Thái Lan tuy đã được giác ngộ về tinh thần yêu nước, ghét Pháp và ủng hộ cách mạng, nhưng vẫn còn sống rời rạc, địa phương nào biết địa phương nấy. Chỉ sau khi có Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội thì kiều bào mới thật sự tập hợp lại thành một lực lượng có tổ chức.

Năm 1924, Hồ Chủ tịch đến Trung Quốc lập Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu, chuẩn bị mở các lớp huấn luyện để đào tạo cán bộ cách mạng cho toàn quốc, thì đã chú ý ngay đến việc phát huy lực lượng cách mạng của Việt kiều ở Xiêm. Năm 1925, Bác phái đồng chí Hồ Tùng Mậu về Xiêm liên lạc với những nhà cách mạng ở đấy như Đặng Thúc Hứa, Võ Tùng, Đặng Thái Thuyến, v.v… lập ra Chi hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Xiêm, trực thuộc sự chỉ đạo của Tổng bộ ở Quảng Châu.

Lúc đầu, Chi hội chỉ mới có một Chi bộ ở Phi–Chịt là trung tâm vận động cách mạng kiều bào ở Thái Lan, đồng thời có nhiệm vụ bắt nối với trong nước theo sự ủy nhiệm của Tổng bộ, chủ yếu với mấy tỉnh Trung kỳ như Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình, Trị, Thiên.

Tham gia Chi bộ Phi-Chịt trong buổi đầu có các đồng chí Đặng Thúc Hứa, Đặng Thái Thuyến, Võ Tùng, Kim Luyện, Đặng Quỳnh Anh là những người đã ở Thái Lan từ trước. Năm 1926–1927, các đồng chí Cao Hoài Nghĩa tức Vân, Lê Mạnh Trinh tức Thuận lại được Tổng bộ phái từ Quảng Châu về để tăng cường thêm.

Giữa năm 1927, đồng chí Đặng Thái Thuyến được phái từ Phi-Chịt ra Đông Bắc để chỉ đạo việc gây cơ sở ngoài đó.

Sau đó, ở vùng Đông Bắc còn có thêm đồng chí Đình và đồng chí Hải. Năm 1928–1929, có thêm các đồng chí Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Chấn và Lê Hữu Tập (Hoàng Lùn) là Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở trong nước bị địch truy nã, được Kỳ bộ Trung kỳ giới thiệu sang.

Vì có cán bộ trong ra, ngoài về nhiều, sự hoạt động của Hội liên tiếp được mở rộng, nên khoảng cuối năm 1927, đầu năm 1928, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Thái Lan, ngoài Phi-Chịt ra, lần lần đã tổ chức thêm được ba Chi bộ ở U–Đon Tha–ni, Xa–Côn Na–khon và Na–khon Pha–nôm. Ba Chi bộ này tổ chức thành Tỉnh bộ U–Đon. Tỉnh ủy gồm các đồng chí Canh Tân (tức Đặng Thái Thuyến), Tăng (tức Trần Văn Chấn), Đình (tức Võ Văn Kiều), Nghĩa (tức Hoàng Văn Hoan) và Hải (tức Dụ). Từ đó, U–Đon trở thành trung tâm hoạt động của Việt kiều ở vùng Đông Bắc.

Từ ngày có Thanh niên cách mạng đồng chí hội, quần chúng Việt kiều được lãnh đạo một cách chặt chẽ, hoạt động cách mạng trở nên sôi nổi và có nề nếp hơn.

1. Về tổ chức

Dưới sự lãnh đạo của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, Việt kiều ở Thái Lan được tổ chức theo hai hình thức chủ yếu: Hội Hợp tác và Hội Việt kiều thân ái.

– Hội hợp tác: Hội hợp tác là một tổ chức trung kiên của đồng bào, đồng thời cũng là một tổ chức dự bị của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Hội kết nạp những thanh niên có trí hướng cách mạng ở trong nước mới ra, cùng nhau sống tập thể, tự làm ăn để sinh sống và học tập chính trị. Những người tích cực và có nhận thức chính trị khá thì được tổ chức vào Thanh niên cách mạng đồng chí hội, và khi có điều kiện, sẽ lần lượt được đưa đi Quảng Châu dự lớp huấn luyện hoặc phái về nước công tác.

Ở địa phương nào có điều kiện làm ruộng như ở Phi–Chịt thì Hợp tác ở đó lấy việc làm ruộng làm chính mà coi các ngành khác là phụ. Cứ năm, sau thanh niên hợp thành một tổ sản xuất, có cái nhà riêng, có trâu bò, dụng cụ và chịu trách nhiệm làm một đám ruộng riêng. Kế hoạch làm ăn của tổ do tổ vạch ra, rồi đưa ra tập thể Hội hợp tác góp ý kiến. Khi tổ gặp những trường hợp khó khăn về nhân lực thì tập thể giúp đỡ. Ở các địa phương có điều kiện làm thủ công nghiệp, thì các tổ hợp tác ở đó lấy nghề thủ công làm chính và tổ chức các tổ, như tổ mộc, tổ cưa, tổ nề, v.v…

Số thu nhập của toàn tổ dùng vào sinh hoạt tối cần thiết cho tổ viên, còn bao nhiêu đều để làm công quỹ của Hội để chi tiêu việc chung, như phái người đi ra nước ngoài hoặc về nước, xây dựng nhà trường, nuôi các trẻ em của kiều bào gửi hoặc ở trong nước mới vận động ra, cho ăn học, chi tiêu về công tác tuyên truyền, báo chí, v.v…

Về sau Hội hợp tác cũng thu nhận những kiều bào có gia đình tình nguyện gia nhập, nhưng đối với những hội viên này thì tùy theo trình độ chuyên môn của họ mà tính tiền công, đảm bảo không kém tiền công khi họ làm riêng lẻ, vì cần phải chiếu cố sinh hoạt gia đình họ. Sau Hội cũng kết nạp những kiều bào tốt ở Thái Lan đã lâu đời. Những người này theo chế độ kinh tế độc lập. Ngoài việc đóng hội phí, họ còn tự nguyện, tùy theo khả năng kinh tế của từng người mà nuôi giúp cho Hội một vài em thiếu niên hoặc những đồng chí cán bộ thoát ly sản xuất để làm công tác cách mạng chuyên nghiệp. Một số người thạo tiếng Xiêm được phân công giao dịch với chính quyền và nhân dân địa phương. Một số người có tài sản thì đứng ra ký hợp đồng “thầu khoán”, nhận công việc cho Hội hợp tác để gây quỹ đoàn thể.

Nhờ có cách tổ chức quản lý dân chủ và phân công hợp lý, lại có ý thức cần kiệm vì cách mạng mà lao động quên mình của hội viên, nên trong thời gian 5, 6 năm (từ 1925 đến 1931-1932), Hội hợp tác không những đã giải quyết được nhiều chi phí lớn cho nhu cầu của công tác cách mạng, mà còn có tác dụng rất lớn làm gương mẫu cho kiều bào về sinh hoạt làm ăn, nếp sống mới và tinh thần yêu nước, làm cho kiều bào thêm tin tưởng vào cách mạng.

Tính đến cuối năm 1929, Hội hợp tác Việt kiều có khoảng hơn 100 hội viên.

– Hội Việt kiều thân ái: Hội Việt kiều thân ái là một tổ chức quần chúng rộng rãi của Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Hội Thân ái được tổ chức trước tiên ở Phi–Chịt, rồi đến U–Đon, Na– Khon, Xa–Côn. Lão đồng chí Đặng Thúc Hứa thường là người thay mặt Đoàn thể đứng ra hiệu triệu kiều bào trong các cuộc Đại hội thành lập Hội Thân ái. Có cuộc Đại hội tập trung đông đảo hàng bốn, năm trăm Việt kiều, như Đại hội ở U–Đon tháng 8 năm 1926, Đại hội ở Xa–Côn tháng 12 năm 1926. Đến năm 1927–1928 thì khắp các địa phương có Việt kiều ở tập trung đều có tổ chức Hội Thân ái. Hội viên có hai hạng: Hội viên chính thức và hội viên cảm tình. Hội viên chính thức là những Việt kiều ở tập trung đông đảo, có định kỳ khai hội và đóng hội phí. Hội viên cảm tình là những Việt kiều ở rải rác các địa phương xa hay những người “Việt Nam cũ đồng tình ủng hộ. Những hội viên này tùy theo ý thức giác ngộ và khả năng của họ mà ủng hộ về tinh thần hay vật chất.

Tính đến cuối năm 1929, Hội Việt kiều thân ái có khoảng hơn hai nghìn hội viên. Họ rất tin tưởng vào cách mạng, tín nhiệm các cán bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và anh em Trong Hội hợp tác.

Bên cạnh Hội Thân ái, mỗi địa phương đều có tổ chức Hội phụ nữ, Hội Thiếu niên: chỗ nào có mở trường học thì các em học sinh được tổ chức vào Hội thiếu niên tự trị để các em quen với nếp sống, tự quản lấy việc sinh hoạt học tập của mình.

2. Về tuyên truyền, giáo dục

Đi đôi với việc tổ chức, công tác trọng tâm vận động cứu quốc trong kiều bào lúc ấy là tuyên truyền giáo dục: làm thế nào để cho trẻ em Việt kiều và người lớn đều biết đọc; biết viết chữ quốc ngữ, không quên tiếng mẹ đẻ. Đối với thanh niên thì phải làm cho họ có trình độ văn hóa, có nhiệt tình yêu nước, có khả năng làm hạt nhân trong việc vận động kiều bào đoàn kết.

Để thực hiện nhiệm vụ ấy, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội dựa theo pháp luật của Chính phủ Thái lúc bấy giờ, dùng hình thức hợp pháp hoặc nửa hợp pháp, như sau:

– Xuất bản báo: Pháp luật của Thái khi ấy quy định chỉ những nhà in và nhà báo lớn có tính chất kinh doanh mới phải đăng ký và cũng không có chế độ kiểm duyệt, còn những ấn loát phẩm có tính chất quảng cáo, phát không lấy tiền và in thô sơ, như in thạch hay rô–nê–ô đều không phải đăng ký. Nhân đấy, năm 1927, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội xuất bản một tờ báo bằng tiếng Việt lấy tên là Đồng thanh. Tờ báo này đến cuối năm 1928, theo ý kiến Bác Hồ, đổi tên là Thân ái. Nội dung chủ yếu của tờ báo là vạch tội ác của đế quốc Pháp và phong kiến Việt Nam, khuyên nhủ kiều bào đoàn kết cứu nước, giúp đỡ lẫn nhau, phản ánh những nỗi đau khổ của đồng bào và mọi hoạt động cách mạng ở trong nước, thông tin về sinh hoạt của kiều bào. Ngoài ra còn có mục về tình hình thế giới, v.v…

Tờ báo Đồng thanh số 1 có bài thơ:

“Cành nam xao xác chim kêu to,

“Gió bắc đìu hiu ngựa nhớ đàn.

“Muôn dặm một lời non nước gọi,

“Cửu Long lên tiếng với Trường Sơn.”

Tờ báo Thân ái số 1 có bài thơ kêu gọi kiều bào với những câu như sau:


“Hỡi đồng bào tỉnh chưa, chưa tỉnh,

“Thù non sông ta tính sao đây?

“Đoàn là bạn, báo là thày

“Yêu nhau hơn thiệt ta bày cho nhau.

“Khuyên ai nấy mau mau tỉnh dậy,

“Nhớ lấy câu máu chảy ruột mềm.

“Lòng mình tự hỏi mình xem,

“Canh khuya tờ báo ngọn đèn với ta”.

Báo xuất bản mỗi tháng hai kỳ, khoảng 200 số, gửi đi các địa phương.

Ngoài ra, tờ báo Thanh niên của Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội xuất bản ở Quảng Châu, Hương Cảng gửi về đều được phổ biến rộng rãi trong kiều bào. Tất cả các thứ báo nói trên đều gửi qua Bưu điện, dán tem, theo loại sách báo công khai và hợp khai.

Lập trường học của Việt kiều: Từ năm 1928 về trước, Chính quyền Thái cho phép các ngoại kiều được mở trường dạy tiếng mẹ đẻ của mình, coi việc học chữ Thái như là học ngoại ngữ. Vì vậy, Việt kiều ở các địa phương đều có trường dạy thiếu niên học chữ quốc ngữ. Về sau, Chính phủ Thái quy định lại: Trẻ em ngoại kiều đến tuổi đi học đều phải học chữ Thái theo chương trình cưỡng bách giáo dục hết bậc sơ học. Nếu tự lập nhà trường thì thày giáo do Nhà nước bổ dụng, lương thày giáo do ngoại kiều đài thọ theo điều lệ một trường “dân lập”. Ngoại giờ học chữ Thái theo chương trình Chính phủ quy định thì được học tiếng mẹ đẻ của mình. Dựa vào pháp luật này, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội chủ trương: Nơi nào có điều bào tập trung đông, có tổ chức Hội Thân ái thì xin phép Chính phủ lập trường học của Việt kiều. Ngoài giờ học chữ Thái (mỗi ngày chỉ học một buổi) nhà trường được sử dụng làm trụ sở, làm câu lạc bộ, làm nơi giảng báo, dạy chữ quốc ngữ cho kiều bào lớn tuổi. Nhờ đó, những người trong tổ chức Hội Thân ái hầu hết thoát nạn mù chữ.

Ngoài các trường nói trên, còn có trường học riêng cho thanh, thiếu niên cách mạng 15, 16 tuổi, không đăng ký Chính phủ. Ở đây, thầy và trò cùng nhau vừa học vừa làm kinh tế tự túc. Những lớp này đã đào tạo được nhiều thanh, thiếu niên trở thành cán bộ cách mạng.

– Kỷ niệm liệt sĩ: Từ 1926 đến 1928, hàng năm cứ đến ngày kỷ niệm liệt sĩ Phạm Hồng Thái (19-6) thì Việt kiều ở các địa phương đều cử đại biểu đến Phi–Chịt, U–Đon hay Xa–Côn dự lễ, để cùng nhau tỏ tình liên lạc đoàn kết và coi đó là một dịp giáo dục Việt kiều về lòng căm thù địch và yêu nước một cách rộng rãi. Năm 1929, Hồ Chủ tịch đề nghị lấy ngày 19-6 trước kia là ngày kỷ niệm Phạm Hồng Thái, nay đổi tên là ngày kỷ niệm Quốc sỉ, với lý do là cách đấy 45 năm cũng trong tháng 6 (6-1884), Triều đình nhà Nguyễn ký điều ước Pa–tơ–nốt, thừa nhận việc bảo hộ của Pháp. Lễ kỷ niệm này được tổ chức ở Xa–Côn và mời đại biểu các địa phương về tham gia. Hồ Chủ tịch đã trực tiếp chỉ đạo việc tổ chức và đã đích thân viết bài văn kỷ niệm trong dịp này. Mỗi lần kỷ niệm như vậy, Việt kiều đều xin phép chính quyền địa phương với danh nghĩa là “cầu phúc cho kiều bào”.

– Học tập và diễn giảng: Hội Hợp tác còn tổ chức các buổi giảng để anh chị em thanh niên trong hội học tập chính trị, ngoài giờ sản xuất. Mỗi tuần lễ một lần, các tổ lần lượt cử tổ viên của mình đọc một bài báo hay một đoạn sách, tùy ý lựa chọn, rồi đem ra trình bày trước anh chị em. Sau đó, đồng chí phụ trách huấn luyện của Hội góp ý kiến về cách trình bày và có ý kiến bổ sung thêm. Ngoài ra, mỗi tháng tổ chức một vài lần tập diễn thuyết, mục đích để anh chị em tập trình bày ý kiến của mình trước công chúng. Hội Hợp tác lại còn có tờ bích báo để anh chị em tập viết văn, tập làm thơ ca, đồng thời tùy theo điều kiện sản xuất, còn tổ chức những lớp huấn luyện chính trị ngắn ngày, một hai tuần lễ. Đối với anh chị em trình độ văn hóa còn thấp, ban huấn luyện soạn ra những bài chính trị thường thức ngắn gọn, dễ hiểu, như “Thế nào là mất nước?”, “Giai cấp là gì?”, v.v… là những bài Cách mạng nhập môn mà sau này các đồng chí Nghệ-Tĩnh đem về phổ biến trong nước.

– Diễn kịch: Trong công tác vận động quần chúng, trừ ngoài thơ ca cách mạng đăng ở báo định kỳ và viết ở bích báo, còn có hình thức diễn kịch cũng thường được dùng đến. Không có kịch bản cố định và diễn viên chuyên nghiệp. Anh em chỉ dựng những vở “kịch cương” do người chủ biên nêu ra đề cương về nội dung, về bố trí các vai, rồi mời diễn viên đến trao đổi ý kiến. Khi đồng ý rồi thì các diễn viên tự mình sáng tạo ra lời nói và động tác biểu diễn trên sân khấu theo sự gợi ý của người chủ biên, rồi giáp lại tập diễn chung là đưa ra công diễn. Những vở như Từ Phan Đình Phùng đến Phạm Hồng Thái diễn ở Phi-Chịt, vở Người xuất dương diễn ở U–đon, vở Mất nước diễn ở Xa–côn, tuy rất thô sơ, nhưng ảnh hưởng tư tưởng khá sâu và rất được kiều bào ưa thích.

Nhờ có tổ chức rộng rãi, nhờ có sự tuyên truyền giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, sau một thời gian không lâu, tinh thần yêu nước của kiều bào được nâng cao, sinh hoạt của kiều bào nói chung cũng thay đổi hẳn. Chỉ trong vòng 5 năm (1925-1929) kể từ ngày thành lập Chi bộ đầu tiên ở Phi–Chịt, Chi hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Xiêm, dưới sự lãnh đạo của Tổng bộ ở Trung Quốc, đã đạt được những thành tích đáng kể.

Ngoài việc thường xuyên đưa tài liệu, sách báo cách mạng ở ngoài về nước, Chi hội còn đưa một số cán bộ ở ngoài về nước hoạt động và đưa ra ngoài một số thiếu niên, để đào tạo bồi dưỡng thành cán bộ cách mạng, trong số đó có liệt sĩ Lý Tự Trọng. Đặc biệt là năm 1927, Chi hội đã thành lập được một Chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Viêng Chăn (Lào) và đã tổ chức được những cơ sở giao thông ở các thị trấn ở Lào đối diện với Thái Lan, như Xa–vằn– na–khẹt, Thà–Khẹc và Viêng Chăn. Do đó mối liên lạc trong và ngoài được liên tục và phong trào yêu nước của Việt kiều ở Thái Lan có ảnh hưởng mạnh mẽ về trong nước. Năm 1928, đồng chí Võ Mai, được sự ủy thác của Kỳ ủy Trung kỳ đã sang U–Đon (Thái Lan) để đặt mối quan hệ trong và ngoài nước. Từ đó, mối liên lạc với trong nước càng được mật thiết.

Một việc đáng kể nữa là, vì sự hoạt động của phong trào Việt kiều ở Thái Lan đã có tiếng vang về trong nước, nên tháng 6 năm 1928, một đoàn đại biểu của Việt Nam Quốc dân đảng gồm có Nguyễn Ngọc Sơn, Hồ Văn Mịch và Nguyễn Văn Tiềm đã thông qua Chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Viêng Chăn (Lào) giới thiệu sang Thái Lan, đề nghị Tổng hội giúp đỡ súng đạn để họ chuẩn bị bạo động. Tổng hội cử hai đồng chí Tăng và Tiến trực tiếp thảo luận với họ. Tổng hội tiếp đón, chiêu đãi họ một cách thân mật, cho họ dự lễ kỷ niệm liệt sĩ Phạm Hồng Thái và tham quan một số địa phương Việt kiều có tổ chức. Còn về đề nghị xin giúp đỡ súng đạn của họ thì một mặt giải thích cho họ hiểu lúc đó chưa phải thời cơ bạo động, một mặt lấy lý do là còn phải xin ý kiến của Tổng bộ ở Trung Quốc. Mấy người này, khi về tới Việt Nam bị bắt, đã đầu hàng thực dân Pháp và khai hết. Báo chí ở trong nước hồi đó, như tờ Trung Bắc tân văn đã đăng rõ sự kiện này.

Cuộc Đại hội đại biểu ngày 1–5–1929 ở Hương Cảng do Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội triệu tập. Chi hội Xiêm đã cử hai đồng chí Đặng Thái Thuyến và Võ Tùng đi tham gia. Trong Đại hội xẩy ra tranh luận gay gắt về vấn đề giải tán Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội để thành lập Đảng Cộng sản, đại biểu của chi hội ở Xiêm đề nghị nên chờ xin ý kiến của đồng chí Nguyễn Ái Quốc rồi sẽ quyết định.

Sau khi nhóm đại biểu Bắc kỳ bỏ Đại hội ra về để thực hiện chủ trương lập Đảng Cộng sản Đông Dương, Đại hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội vẫn tiếp tục họp, thông qua các nghị quyết ngày 9–5–1929, trong đó có nghị quyết khai trừ các đồng chí đã rời bỏ Đại hội.

Khi về đến Thái Lan, hai đồng chí Đặng Thái Thuyến và Võ Tùng đã báo cáo tình hình trên đây với Hồ Chủ tịch, lúc này đang bí mật ở Xiêm. (Những hoạt động của Bác sẽ nói rõ ở chương sau.) Bác quyết định không vội phổ biến nghị quyết đó của Đại hội.

Chi hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Xiêm vẫn tiếp tục hoạt động, đoàn kết nhất trí. Đồng thới, từ đây nhiều cán bộ phụ trách đã có ý thức về việc chuyển lên một hình thức cao hơn là tổ chức Đảng Cộng sản.

Chương IV

Hồ Chủ tịch với Việt kiều ở Thái Lan trong những năm 1928–1929

Hồ Chủ tịch đến Thái Lan hai lần: lần thứ nhất, sau khi Tưởng Giới Thạch phản cách mạng (năm 1927), Bác phải rời Trung Quốc đi các nước như Liên Xô, Anh, Ý, rồi vào khoảng tháng 8 năm 1928, Bác đến Thái Lan. Trước tiên, Bác đến Phi–Chịt, liên lạc với một hiệu buôn Hoa kiều, đã làm cơ sở liên lạc cho anh em ở Phi–Chịt với Quảng Châu và Hương Cảng trong nhiều năm.

Sau mấy ngày ở Phi-Chịt, theo sự chỉ dẫn của cơ sở này, Bác vào Bản Đông. Từ đấy, Bác lấy tên là Chín, Việt kiều thường gọi bác là Thầu Chín (ông già Chín). Khi Bác mới đến, đồng chí Võ Tùng giới thiệu với anh chị em Ông Chín là Hoa kiều, mẹ người Việt, biết thạo tiếng Việt, có cảm tình với cách mạng và quen với đồng chí Võ Tùng khi anh ở Trung Quốc. Theo thường lệ ở đây, mỗi khi có người trong nước ra, ngoài nước về, đều có báo cáo tình hình quốc tế và trong nước với Hội Hợp tác. Như những người khách, Thầu Chín cũng báo cáo, nhưng tầm hiểu biết sâu rộng hơn, nội dung phong phú và cách trình bày rõ ràng, sâu sắc hơn. Nhất là sự hiểu biết của Thầu Chín về tình hình nước Xiêm và tình hình kiều bào ta ở Xiêm càng làm cho mọi người khâm phục.

Kiều bào ở Bản Đông chỉ có khoảng 15 nhà, tập thể có, cá thể có, nhưng đều là người cách mạng và đều là hội viên Hội Thân ái. Tuy vậy, giữa những người cách mạng cũ vốn có chính kiến khác nhau và thành kiến cá nhân với nhau, giữa một số kiều bào nhiều tuổi với anh em hội viên Hội Hợp tác phần lớn là thanh niên ở trong nước mới ra, cũng thường có sự hiểu lầm nhau. Để xây dựng tinh thần đoàn kết, Bác khuyên những người hội viên Hội Hợp tác có trách nhiệm tự mình phải chủ động hòa hợp gần gũi với những người cách mạng cũ. Buổi đầu, anh em chưa thông. Về sau, Bác chủ trương đưa vấn đề ra thảo luận trong Hội Hợp tác, phân tích một cách sâu sắc, có tình có lý, để giáo dục chung. Kết quả, anh em đều nhận thức ra. Từ đó, thành kiến giữa người cũ với người mới, giữa người già với người trẻ, dần dần được xóa bỏ. Tình đoàn kết trong kiều bào được củng cố.

Lúc đó, ở Phi–Chịt có một tên làm mật thám cho Pháp, nên Bác chỉ ở Bản Đông độ hơn mười ngày, rồi đi U–Đon.

Từ Phi–Chịt đi U–Đon anh em thường phải đi bộ theo đường rừng mất mươi, mười lăm ngày. Mỗi người đi đường phải gánh theo mươi cân gạo và các thứ quần áo, đồ dùng lặt vặt hàng ngày. Lần này đi U–Đon chính vào lúc mùa khô, cây rừng đều trụi lá, nhiều đoạn đường cát nóng và đá sỏi, đi rất vất vả. Có đoạn xe lửa, anh em đề nghị Bác đi xe lửa cho đỡ mệt và rút ngắn lại được nhiều ngày đường, nhưng Bác không chịu, cứ đi bộ như anh em. Đi được một hôm, trong lúc ngồi nghỉ, anh em thấy hai chân của Bác đã rớm máu. Anh em hỏi mới biết ngay từ ngày đầu, chân của Bác đã phồng đỏ như vậy, nhưng Bác cứ thản nhiên như không, cười và nói: Không can gì, cứ để thế đi một vài hôm, nó sẽ thành “dạn”, đừng ngại! Quả nhiên, hàng ngày Bác vẫn đi theo kịp mọi người và sau ít lâu thì Bác còn đi nhanh hơn mọi người nữa là khác.

U–Đon, theo sự phân cấp hành chính của Xiêm lúc bấy giờ là một tỉnh lớn ở Đông Bắc, gồm các phủ U–Đon Tha–ni, Xa–Côn Na–Khon và Na–Khon Pha–Nôm. (Nước Xiêm trước kia có 14 tỉnh, ngày nay chia lại thành hơn bảy mươi tỉnh, các phủ trước kia nay đều thành đơn vị tỉnh, trực thuộc với Trung ương. Ở cả ba phủ này đều có Chi bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội, có tổ Hợp tác, Hội Thân ái và các tổ chức phụ nữ, thiếu niên. Các đoàn thể đều hoạt động tích cực, báo Đồng thanh được phổ biến rộng rãi, việc giáo dục đối với thanh niên, thiếu niên làm khá tốt. Nhưng thật ra thì tư tưởng cách mạng lâu dài gian khổ vẫn chưa thấm nhuần. Một phần không ít anh em Hợp tác vẫn nghĩ rằng ở Xiêm chỉ là tạm bợ, rồi đây chắc sẽ đi học ở Trung Quốc hoặc sẽ về nước công tác, nên tuy ở Xiêm đã lâu, mà không chịu học chữ Xiêm, tiếng Xiêm và không tiếp xúc với người Xiêm. Cũng có người thấy cách mạng đương có khó khăn, như ở Trung Quốc khởi nghĩa Quảng Châu đã thất bại, Tưởng Giới Thạch đang tàn sát cách mạng; ở trong nước cũng đang bị khủng bố nặng; đồng thời thấy việc làm ăn ở đây vất vả, nên có tinh thần chán nản, một vài người chịu không nổi đã trốn về nước.

Trong cuộc họp mặt đầu tiên ở U–Đon, Bác báo cáo trước Chi bộ về tình hình, triển vọng cách mạng trong nước và thế giới, phần tích tính chất trường kỳ gian khổ của cách mạng. Bác đề ra chủ trương: Một mặt phải mở rộng tổ chức đoàn thể cách mạng, củng cố cơ sở quần chúng Việt kiều, mặt khác phải làm cho nhân dân Thái có cảm tình với cách mạng Việt Nam; phải tuyên truyền giáo dục kiều bào biết tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân bạn, cố gắng tạo khả năng hoạt động hợp pháp hoặc nửa hợp pháp hơn nữa. Cuộc nói chuyện của Bác đã để lại cho anh em ở U–Đon một ấn tượng sâu sắc.

Bác ở U–Đon khá lâu, thường là ở chỗ hội Hợp tác. Ngoài việc cùng lao động với anh em, như làm vườn, xách nước, trồng rau, trồng cây, cưa gỗ để có dịp trực tiếp giúp đỡ anh em về mặt tư tưởng, nhận thức, tác phong và cách học tập. Bác thường huấn luyện chính trị cho anh em trong các buổi tối. Có khi Bác đặt ra một vấn đề để cho anh em tự do thảo luận, rồi cuối cùng Bác kết luận để uốn nắn hoặc sửa chữa những thiếu sót sai lầm mà trong lúc ngồi nghe Bác đã phát hiện.

Thỉnh thoảng, Bác cũng gặp và chuyện trò với một số kiều bào đến thăm hội Hợp tác. Bác thường hỏi han về hoàn cảnh gia đình, cách làm ăn, rồi dần dà đưa vào câu chuyện cách mạng. Kiều bào nghe đều cảm thấy thân thiết, thoải mái và tiếp thu ý kiến của Bác một cách nhẹ nhàng. Có khi họ kể chuyện gia đình và những khó khăn trong cuộc sống cho Bác nghe và hỏi về cách giải quyết.

Bác đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thiếu niên. Có khi Bác đến thường dạy thiếu nhi ở Đông-Ỏn, cách thị xã U–Đon hơn mười cây số, ở luôn đó nhiều ngày để quan sát và giúp đỡ ý kiến về mặt giáo dục. Ở đây, các em vừa học vừa lao động, tự túc về kinh tế. Các em thường gánh khoai đi các làng người Xiêm để đổi lúa. Bác cũng cùng gánh khoai đi đổi lúa với các em. Khi đi đổi về, Bác hướng dẫn các em rút kinh nghiệm và dặn dò các em về lễ độ, về cử chỉ hợp với phong tục tập quán của người Xiêm. Để cho việc giáo dục thiếu niên được mở rộng hơn, Bác đề nghị U– Đon xin phép lập nhà xưởng ở Noỏng–Bua, cách thị xã ba cây số. Khi xây dựng nhà trường, Bác cũng cùng với kiều bào và các em gánh gạch, gánh đất rất đều đặn. Không bao lâu, một cái nhà trường bằng gạch đã được dựng lên đàng hoàng.

Những lúc thì giờ rỗi, Bác tranh thủ học tiếng Xiêm và dịch sách. Về học tiếng, Bác tự quy định mỗi ngày học mười tiếng, dù bận đến mấy, Bác cũng học cho bằng được. Về dịch sách, Bác đã dịch quyển Chủ nghĩa cộng sản A B C và quyển Duy vật sử quan lấy tên là Lịch sử tiến hóa của loài người. Bác không dịch theo từng câu từng chữ, mà chỉ dựa vào ý chính, viết ra tiếng Việt một cách phổ thông để cho mọi người dễ đọc, dễ nhớ. Có khi dịch xong một đoạn, Bác bảo đọc cho anh chị em nghe, nếu không hiểu hoặc khó hiểu thì Bác viết lại.

Ở U–Đon ít lâu, Bác ra Xa–Côn và đi Na–Khon. Ở đây, kiều bào đông hơn, cũng có trường dạy trẻ, có hội Hợp tác. Đến đâu, Bác cũng sinh hoạt và công tác như ở U–Đon. Ngoài việc dịch sách và huấn luyện cho anh em thanh niên, Bác còn khuyến khích việc dạy hát và diễn kịch. Vở kịch mà Bác chủ biên và góp ý kiến về diễn xuất ở Xa–Côn là vở kịch “Mất nước” diễn trong dịp kỷ niệm Quốc xỉ năm 1929.

Bác chú ý việc giáo dục cho cán bộ về công tác quần chúng, khuyên hội Hợp tác lập tủ thuốc, chọn người biết thuốc trong anh em Hợp tác làm thày lang chữa bệnh cho kiều bào.

Trong khi tiếp xúc với quần chúng ở Xa–Côn, thấy có một số nhà điện thờ Đức thánh Trần, Bác đã viết bài ca Trần Hưng Đạo, có những câu như sau:

“Diên hồng thề trước thánh minh

Lòng dân đã quyết hy sinh rành rành.

Nếu ai muốn đến giành đất Việt,

Đưa dân ta ra giết sạch trơn.

Một người Việt hãy đương còn,

Thì non sông Việt vẫn non sông nhà
.”

Bài ca Trần Hưng Đạo được truyền bá mau chóng trong kiều bào. Chỉ một thời gian không lâu, Đức thánh Trần trừ ma sát quỷ đã trở lại là vị anh hùng cứu nước. Những “đệ tử” của ngài cũng dần dần giác ngộ trở thành hội viên Hội Thân ái.

Bác còn luôn luôn chú ý giáo dục ý thức bí mật cho cán bộ. Phần lớn cán bộ khi ấy là những thanh niên mới giác ngộ ở trong nước, có nhiệt tình cách mạng, nhưng còn thiếu kinh nghiệm công tác và chưa được thử thách trong hoạt động bí mật. Hơn nữa phương thức hoạt động trong kiều bào khi ấy đều dựa vào hình thức hợp pháp hay nửa hợp pháp, chưa phải trực tiếp đối phó nhiều với thủ đoạn nham hiểm của đế quốc, nên họ thường ngây thơ về chính trị và thiếu cảnh giác cách mạng. Hàng ngày, Bác thường nói cho anh em nghe về thủ đoạn điều tra theo dõi, cách tổ chức lưới mật thám của đế quốc Pháp ở Đông Dương và những kinh nghiệm cụ thể của các tổ chức bí mật của các nước. Đặc biệt là Bác hay lấy những hoạt động của Lê–nin trong thời kỳ bí mật làm bài học cho cán bộ Việt kiều.

Khi ở Đông Bắc Thái Lan, Bác còn rất chú ý đến việc liên lạc với trong nước. Đã nhiều lần, Bác cùng đồng chí Đặng Thái Thuyến hay đồng chí Nguyễn Tài đi thuyền dọc bên bờ sông Cửu Long để xem xét tình hình. Bác giao cho đồng chí Nguyễn Tài phải tích cực thâm nhập cho được vào nhóm kiều bào ở Xa–vằn–na–khẹt (Lào). Có lần, Bác đã đi Noong–Khai với đồng chí Hoan để gặp một số anh em Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Chi bộ Viêng Chăn (Lào).

Khoảng tháng 9 năm 1929, sau khi được tin ở trong nước đã hình thành hai nhóm Đông dương Cộng sản và An Nam Cộng sản Đảng, Hồ Chủ tịch rời Thái Lan, đi gặp Quốc tế để chuẩn bị cho việc hợp nhất các nhóm, thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.

Lần này Bác Hồ ở Thái Lan chỉ có hơn một năm (8-1928 đến 9-1929), nhưng trong thời gian ngắn ấy, lời nói và việc làm của Bác đã ảnh hưởng đến công tác Việt kiều một cách sâu sắc: Nếp sống của kiều bào thay đổi hẳn, tác phong công tác của cán bộ được chỉnh đốn, cơ sở quần chúng được mở rộng và củng cố vững chắc. Nhất là việc Bác khuyên mọi người phải học tiếng Xiêm, chữ Xiêm, tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân bạn, ngay thẳng thật thà trong khi quan hệ với mọi người, v.v…

Những lời dạy bảo ấy, qua thực tiễn sau này, anh em cán bộ càng nhận thức một cách sâu sắc rằng đây không phải chỉ là cách cư xử bình thường với tính chất xã giao trong hoàn cảnh đất khách quê người, mà thực chất đây là quan điểm quần chúng, là phương châm chiến lược cơ bản của người cách mạng. Nhờ phương châm đó mà sự quan hệ thân thiện Việt–Thái vốn có từ trước, nay càng được phát triển thâm. Người Thái càng thông cảm, gần gũi với người Việt hơn, càng đồng tình với những hoạt động cứu nước của Việt kiều nói riêng, và cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam nói chung.

Đó là một thu hoạch lớn, làm cơ sở không gì lay chuyển cho tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt – Thái.

Phần thứ hai

Hoạt động cách mạng của Việt kiều ở Thái Lan dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Xiêm (1930-1938)

Năm 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là đại biểu quốc tế Cộng sản, sau khi thống nhất các nhóm cộng sản Việt Nam và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, thì đến Xiêm (lần này Bác đến Xiêm là lần thứ hai. Về lần thứ nhất đã nói rõ ở chương IV phần thứ nhất), để thống nhất các nhóm cộng sản ở Xiêm và thành lập Đảng Cộng sản Xiêm.

Ở Xiêm, trong lúc này chưa có người Xiêm là cộng sản, mà chỉ mới có hai nhóm cộng sản là Hoa kiều và Việt kiều. Nhưng theo nghị quyết của Quốc tế cộng sản, thì người cộng sản ở nước nào, phải làm cách mạng và gia nhập Đảng Cộng sản ở nước đó. Như vậy, nghĩa là người cộng sản Việt Nam ở Xiêm phải làm cách mạng ở Xiêm; và như vậy, nghĩa là chiến lược và sách lược cách mạng và người Việt Nam ở Xiêm hằng theo đuổi bấy lâu nay bây giờ phải hoàn toàn thay đổi. Nếu trước kia, đối tượng cách mạng là đế quốc và phong kiến ở Việt Nam, thì ngày nay là đế quốc và phong kiến ở Xiêm; nếu trước kia đối tượng tuyên truyền vận động là quần chúng Việt Nam, thì ngày nay lại là quần chúng Xiêm.

Sự thay đổi như vậy, không thể không có sự bỡ ngỡ đối với những người cách mạng Việt Nam ở Xiêm. Làm thế nào để truyền bá chủ nghĩa cộng sản được trên đất Xiêm và đưa quần chúng Xiêm vào con đường cách mạng? Làm thế nào để quần chúng Việt kiều vẫn giữ được truyền thống yêu nước, đồng thời lại ủng hộ Đảng, tham gia hoạt động cách mạng Xiêm? Đó là những vấn đề mới, phải lần mò, suy nghĩ, phải cố gắng tìm cách giải quyết. Tuy vậy, sau khi Đảng Cộng sản Xiêm thành lập, Đảng bộ Việt kiều ở Xiêm, với tinh thần chủ nghĩa Quốc tế vô sản, đã khắc phục mọi khó khăn, làm được một số việc có lợi cho cách mạng Xiêm, đồng thời góp phần tích cực vào phong trào cách mạng trong nước. Đó là những hoạt động cách mạng của Việt kiều trong những năm 1930–1938, mà tập này sẽ lần lượt giới thiệu qua các chương:

  • Hoàn cảnh lịch sử khi thành lập Đảng Cộng sản Xiêm
  • Việc thành lập Đảng Cộng sản Xiêm và Đảng bộ Việt kiều ở Xiêm
  • Việc tuyên truyền vận động quần chúng làm cách mạng Xiêm
  • Việc viện trợ cách mạng Đông Dương

Chương I

Hoàn cảnh lịch sử khi thành lập đảng cộng sản Xiêm

Việc thành lập Đảng Cộng sản Xiêm trong điều kiện chưa có người Xiêm là cộng sản là một việc đặc biệt trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Vì vậy, muốn hiểu việc thành lập Đảng Cộng sản Xiêm thì cần phải hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử khi thành lập Đảng Cộng sản Xiêm. Cuối tháng 2 năm 1974, Ban liên lạc Trung ương Đảng ta có cung cấp cho Trung ương Đảng Cộng sản Thái Lan một bản tài liệu nói về việc thành lập Đảng Cộng sản Xiêm và hoạt động của Đảng bộ Việt kiều ở Xiêm trong những năm 1930-1938, trong đó có một đoạn trình bày rất rõ về “Hoàn cảnh lịch sử khi thành lập Đảng Cộng sản Xiêm”. Ở đây, chúng tôi lấy cả đoạn đó làm chương mở đầu cho tập này. Toàn văn như sau:

Năm 1918, cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất kết thúc, thế giới tư bản chủ nghĩa bị phá vỡ một mảng lớn. Cách mạng tháng Mười Nga thành công. Nhân loại bắt đầu một thời đại mới.

Được cách mạng tháng Mười cổ vũ, giai cấp công nhân châu Âu đã vùng lên khởi nghĩa, thành lập chính quyền Xô–Ét–tô–ni, Áo, Ba–vi–e, Xlô–va–ki và Hung–ga–ri. Ở các nước Pháp, Anh, Ý… Công nhân đã kịch liệt đấu tranh đòi chính phủ tư sản phải chấm dứt can thiệp vũ trang chống Liên–Xô. Nhưng bọn cầm đầu các đảng xã hội dân chủ đã phản bội, trở thành chỗ dựa của chủ nghĩa tư bản, nên nói chung, ngoài Liên xô ra, giai cấp tư sản vẫn giữ được địa vị thống trị của nó. Để xây dựng và củng cố các đảng thành đảng Bôn–sê–vích, và để lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới, Lê–nin đã chủ trương thành lập Quốc tế Cộng sản (ngày 2 tháng 3 năm 1919).

Từ đó, trên thế giới, hàng loạt các đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng cộng sản ra đời. Các đảng Áo, Bun–ga–ri, Phần Lan, Ba Lan, Đức, Mỹ được thành lập năm 1918–1919; các đảng Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Ý, Nam Tư, Ru–ma–ni, Thụy Sĩ, Na–uy, Tiệp Khắc thành lập năm 1920-1921.

Nhìn chung, từ khi có Quốc tế Cộng sản cho đến năm 1930, ở các nước tư bản Âu, Mỹ tuy dần dần không còn những cuộc vũ trang khởi nghĩa nữa, và mặc dầu bọn cầm đầu các đảng đệ nhị quốc tế phản bội phong trào công nhân vẫn phát triển liên tục.

Riêng năm 1919, ở Ác–giăng–tin, đã nổ ra 367 vụ bãi công với 306. 000 công nhân tham gia. Tháng 5 năm 1926, cuộc bãi công luyện kim, hóa học, xây dựng, điện đã làm cho sinh hoạt kinh tế của nước Anh một thời gian bị tê liệt.

Khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại”, và tiếng hát “Vùng lên hỡi các nô lệ trên thế gian! Vùng lên, hỡi ai cực khổ bần hàn!… Internationale sẽ là xã hội tương lai!” được vang lên hầu khắp thế giới, đặc biệt là ở các nước Âu, Mỹ.

Ở Đông Nam Á, Nhật Bản đi theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa từ những năm 60 của thế kỷ 19, đã thành một nước đế quốc. Còn các nước khác thì đều là thuộc địa, như Ấn Độ, Miến Điện, In–đô–nê–xi–a, Việt Nam, Lào, Cam–pu–chia, hoặc nửa thuộc địa như Trung Quốc, Xiêm.

Sau chiến tranh, các nước đế quốc có ảnh hưởng lớn ở Đông Nam Á như Anh, Pháp, Hà Lan đều bị suy yếu, nhưng nói chung vẫn giữ được địa vị cũ. Để mau chóng khôi phục lực lượng, chúng ra sức chuyển máu tứ các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Chúng đầu tư thêm nhiều vốn để bóc lột nhân công khai thác nguyên liệu.

Nhưng ở Đông Nam Á, giai cấp công nhân cũng phát triển đông đảo hơn, tập trung hơn, có tổ chức hơn, đấu tranh mạnh mẽ và tự giác hơn. Nông dân phải vật lộn với cuộc sống thê thảm, đã từ những cuộc đấu tranh tự phát dần dần xích lại gần sự lãnh đạo của giai cấp vô sản. Các tầng lớp trí thức yêu nước được cuộc Cách mạng tháng mười Nga thức tỉnh, đã bắt đầu thấy muốn cứu nước cứu dân thì phải đi theo con đường của người Nga. Việc Liên Xô thi hành chính sách bình đẳng giữa các dân tộc ở trong nước, và tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bất bình đẳng do Chính phủ Nga hoàng áp đặt cho các nước ngoài, đã có ảnh hưởng lớn đến nhân dân các nước đang đấu tranh cho độc lập dân tộc.

Đứng trước phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ, giai cấp vô sản, người đại diện lực lượng sản xuất tiên tiến nhất của thời đại, người bị áp bức bóc lột nặng nhất, không thể không tổ chức hàng ngũ của mình lại, phất cao ngọn cờ tiên phong, để giành lấy quyền lãnh đạo phong trào. Các đảng Cộng sản In–đô–nê–xi–a và Ấn Độ thành lập năm 1920, Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập năm 1921, Đảng Cộng sản Nhật Bản thành lập năm 1922, đã tập hợp hàng chục triệu quần chúng dưới lá cờ búa liềm, tiến hành những cuộc đấu tranh anh dũng.

Ở In–đô–nê–xi–a, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, năm 1926 nhân dân đã khởi nghĩa ở thủ đô và ở nhiều nơi khác, đánh chiếm sở điện báo Trung ương, phá các sở cảnh sát và nhà tù, dựng chướng ngại vật trên đường phố để chiến đấu. Tháng 1 năm 1927, một cuộc khởi nghĩa khác lại nổ ra ở Tây Xu–ma–tờ-ra.

Ở Trung Quốc, năm 1926 Đảng Cộng sản đã có sáu vạn Đảng viên, trong đó có ba vạn là công nhân, lãnh đạo trên ba triệu công nhân trong Công hội và 150 triệu nông dân trong Nông hội. Sau khi bọn Tưởng Giới Thạch phản bội (1927), Đảng đã chuyển về núi Tỉnh Cương tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang. Đến năm 1930-1931, chính quyền công nông binh đã được thành lập ở Giang Tây, Hồng Quân đã có hàng chục vạn, tiếng tăm lừng lẫy khắp thế giới.

Vào những năm 20 của thế kỷ, nước Xiêm vẫn là một nước phong kiến và nửa thuộc địa. Hàng nước ngoài tràn ngập khắp nông thôn, thành thị, nhất là hàng dệt, dầu lửa, rồi đến bột mì, đường, sữa. Ngoài ra, cũng có một ít thiết bị công nghiệp, dùng cho máy phát điện, máy xay và đường sắt.

Tài nguyên của nước Xiêm gần như hoàn toàn nằm trong tay bọn đế quốc. Năm 1929–1930, đế quốc Anh trực tiếp khai thác 132 triệu, 76 vạn Pi–cum quặng thiếc, 124 triệu Pi–cum còn lại do tư bản bản xứ khai thác, nhưng đều bán cho Mỹ với một giá rẻ mạt. Toàn bộ quặng thiếc đều đưa đến Xin–ga–po và Pi–năng để chế biến.

Gỗ tếch là một thứ lâm sản có giá trị của Xiêm, đế quốc Anh khai thác 35%, tư bản bản xứ khai thác 14%, Bộ lâm khẩu Xiêm chỉ kiểm soát 1%.

Ở khu vực Băng Cốc, có khoảng 500 nhà máy xay và nhiều xưởng chế biến gỗ đã xẻ. Ngoài ra, còn có nhiều nhà máy nhỏ dệt lụa, dệt vải, làm đường, làm thuốc lá, nấu hắc ín.

Cũng trong thời gian này, ở nông thôn, giai cấp địa chủ chiếm 70% diện tích đất trồng lúa. Họ vừa là địa chủ vừa là tư bản quan liêu.

Trước năm 1932, chế độ chính trị ở Xiêm là quân chủ chuyên chế. Bọn địa chủ phong kiến đứng đầu là Nhà vua, muốn củng cố địa vị để duy trì đặc quyền đặc lợi, đã tìm cách nhân nhượng với bọn tư sản phản động bản xứ và mưu toan cấu kết với đế quốc, để chống lại quần chúng công nông và các lực lượng tiến bộ ở Xiêm.

Đế quốc Nhật cũng bắt đầu hoạt động, lôi kéo Xiêm vào phạm vi ảnh hưởng của mình. Phong kiến Xiêm thì xích lại gần Nhật để mặc cả với các đế quốc khác, và mượn thuyết Đại Á của Nhật để lừa phỉnh quần chúng Xiêm, hòng củng cố địa vị thống trị lỗi thời của chúng.

Do Liên Xô tuyên bố xóa bỏ mọi hiệp ước bất bình đẳng và các hiệp định xâm phạm đến chủ quyền của các dân tộc phương Đông, nên hiệp ước Nga ký với Xiêm năm 1898 cũng mặc nhiên hủy bỏ. Anh, Pháp muốn giành ảnh hưởng với Nhật, thấy Liên Xô làm như vậy liền dùng thủ đoạn giả nhân giả nghĩa, hủy bỏ những hiệp ước bất bình đẳng đã ký với Xiêm, thay thế bằng những hiệp ước “hữu nghị và buôn bán”. Ngày 14–2–1925, Pháp ký với Xiêm, ngày 14–7-1925, Anh ký với Xiêm loại hiệp ước đó. Tuy vậy, Pháp và Anh vẫn giữ vai trò ông chủ trong nền kinh tế Xiêm.

Đi đôi với việc phát triển công nghiệp của tư bản ngoại quốc và tư bản bản xứ, giai cấp công nhân Xiêm cũng như ở các nước Đông Nam Á đã dần dần phát triển đông đảo. Họ là những người công nhân Hoa kiều, những nông dân Xiêm mất ruộng, những thợ thủ công Xiêm bị phá sản. Họ bị giới thủ công ngoại quốc và bản xứ tha hồ bóc lột. Đàn bà, trẻ con cũng phải làm việc từ 12 đến 14 giờ một ngày. Họ ở chui rúc trong những túp lều thảm hại, ăn uống cực khổ, bệnh tật triền miên. Họ bị mắng chửi, đánh đập tàn nhẫn mà không hề được Pháp luật Xiêm bảo hộ.

Ở Băng Cốc, một bộ phận công nhân đã có tổ chức công đoàn. Ở một số nhà máy xay, công nhân đã đứng dậy đấu tranh giành được thắng lợi.

Cảnh đau khổ của nông dân cũng chẳng khác gì công nhân, họ vẫn canh tác với một kỹ thuật lạc hậu, vẫn sống một cuộc đời nghèo đói, bệnh tật và nhục nhã. Thuế ruộng đất và nợ lãi đè nặng lên đầu họ, số ruộng ít và xấu họ còn giữ được cũng mất dần. Họ đã lẻ tẻ có những cuộc đấu tranh tự phát.

Trong xã hội Xiêm hồi đó còn có hàng triệu Hoa kiều và hàng vạn Việt kiều, đại đa số cũng là công nhân và nhân dân lao động; Đó là cơ sở xã hội của những người cách mạng Hoa kiều và Việt kiều hoạt động ở đất Xiêm. Người cộng sản Hoa kiều đã có tổ chức và hoạt động trong Hoa kiều, nhất là trong công nhân và giới trí thức Hoa kiều ở Băng Cốc. Người cộng sản Việt kiều đã hoạt động trong Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, và có ảnh hưởng sâu rộng trong Việt kiều phần lớn sinh sống ở vùng Đông Bắc Xiêm. Sự hoạt động đó tất nhiên ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống chính trị và kinh tế của nhân dân Xiêm.

Tất cả tình hình kể trên cộng với sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản đang đẩy mạnh cuộc vận động “Giai cấp vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại!”, việc thành lập Đảng Cộng sản Xiêm đã trở thành một vấn đề trong chương trình nghị sự của phong trào cộng sản quốc tế nói chung.

 
© talawas 2026