|
17.9.2003
Gerhard Will
Hoạch định chính sách trong quá trình chuyển đổi ở Việt Nam và Trung Quốc – các khiá cạnh so sánh
Bài viết sau đây của Tiến sỹ Gerhard Will, nhà nghiên cứu chính trị học, chuyên viên về Trung Quốc và Việt Nam tại Quỹ Khoa học và Chính trị (Stiftung Wissenschaft und Politik) ở Berlin, một think-tank tư vấn chính trị hàng đầu của chính phủ CHLB Đức, nguyên là một tham luận do tác giả trình bày tại hội thảo "Chính sách đào tạo và nghiên cứu trong quá trình chuyên đổi" do Quỹ Rosa Luxemburg (Rosa-Luxemburg-Stiftung) tài trợ tổ chức tại Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội trong hai ngày 16. - 17.09.2003. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
talawas
Tôi rất vui mừng và xin chân thành cám ơn quý vị đã có lời mời và cho tôi cơ hội sau nhiều năm lại đến Hà Nội và được dịp trao đổi cùng quý vị.
Đồng thời tôi cũng phải thú nhận rằng mình không tránh khỏi e ngại khi phát biểu trước quý vị về những quá trình phát triển mà bản thân tôi phần lớn chỉ theo dõi và phân tích từ giác độ bàn giấy, trong khi đó quý vị lại là người trực tiếp chứng kiến và can dự vào những quá trình này.
Mặc dù vậy tôi vẫn muốn mời quý vị quan sát sự phát triển đất nước của quý vị và đất nước láng giềng Trung Quốc qua một lăng kính khác. Và ngay từ bây giờ tôi đã xin quý vị lượng thứ nếu như có điểm nào đó trong nội dung trình bày của tôi đối với quý vị chưa rõ, bị méo mó hay đơn giản là sai trái.
Ngoài ra, do thời giờ hạn chế, tôi sẽ không có điều kiện đưa ra một sự đánh giá bao quát về đề tài rất phức tạp này, vì vậy tôi sẽ chỉ giới thiệu một số luận điểm mà trong khi thảo luận chúng ta sẽ có thể cụ thể hoá thêm.
Có thể nói hầu như không có hai quốc gia nào khác ở Đông Á mà lại thu hút một sự nghiên cứu so sánh như là Trung Quốc và Việt Nam. Mặc dù trải qua nhiều cuộc xung đột, hai quốc gia này có nhiều điểm tương đồng. Điều này không chỉ đúng cho những giai đoạn dài trong lịch sử, mà cũng đúng đối với cả những thay đổi sâu sắc đã diễn ra trên hai đất nước này trong vòng 25 năm cuối.
Trong khuôn khổ bài thuyết trình này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh
một số điểm tương đồng trong quá trình chuyển đổi
mà bản thân tôi cho là đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa tiêu biểu.
1. Vai trò mới của Đảng trong quá trình chuyển đổi
Đảng Cộng sản ở hai nước đã và vẫn đang khẳng định vai trò lãnh đạo của mình trong quá trình chuyển đổi. Điều này phù hợp với quan điểm truyền thống của Đảng Cộng sản cho rằng rằng họ là người đã nắm được các quy luật của lịch sử và dựa vào lô gích của các quy luật lịch sử đó mà đề xuất và thực hiện đường lối chính trị của mình.
Cả hai nước đều có kinh nghiệm cải cách hệ thống kinh tế, chẳng hạn trong việc nâng cao tính tự chủ của các xí nghiệp quốc doanh, mở rộng phạm vi hoạt động kinh tế tư nhân của xã viên hợp tác xã nông nghiệp v.v. Tuy nhiên, đấy chỉ là những cải cách trong phạm vi hệ thống xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu cải thiện cơ chế hoạt động của hệ thống này, chứ không nhằm vô hiệu hoá nó.
Trong thời kỳ quá độ từ nền kinh tế quốc doanh sang nền kinh tế thị trường vào 25 năm cuối, Đảng Cộng sản ở hai nước phải đương đầu với những vấn đề hoàn toàn mới. Với phương thức “vừa làm vừa sửa”, họ buộc phải đi tìm những giải pháp mới và không ít khi phải từ bỏ những nguyên lý vốn xác quyết quyền lãnh đạo của mình trong quá khứ.
Kể cả các cán bộ Đảng cũng phải làm quen với những nhiệm vụ hoàn toàn mới. Nếu trong quá khứ họ được giao trách nhiệm quản lý hành chính và thực hiện các chỉ thị từ cấp trên, thì ngày nay họ phải đối diện trước những vấn đề kinh tế thị trường. Tuy nhiên điều này cũng có nghĩa là bỗng chốc họ có khả năng khai thác những nguồn lực kinh tế đáng kể mà trước đây họ không có điều kiện tiếp cận.
Việc thích ứng với những nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ này diễn ra ở CHND Trung Hoa tương đối dễ dàng và nhanh chóng so với CHXHCN Việt Nam, bởi cuộc Cách mạng văn hoá đã làm rung chuyển những nguyên lý cơ bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Có thể tóm tắt bài học mà nhiều Đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc đã rút ra từ cuộc Cách mạng văn hoá như sau:
Rõ ràng không một thứ quan điểm nào có thể tồn tại vĩnh viễn. Những gì mà ngày hôm qua còn được coi là chính thống thì ngày hôm nay đã có thể bị “vạch mặt” là xét lại hay phản cách mạng.
Đảng Cộng sản Việt Nam ngược lại cách đó mấy năm vừa dành được chiến thắng lịch sử đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn do Mỹ ủng hộ, chiến thắng này đã củng cố một cách căn bản tinh thần tự hào và niềm tin vào sự đúng đắn của đường lối đã đề ra. Bài học mà nhiều Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam rút ra từ quá khứ có thể tóm tắt lại như sau:
Sở dĩ chúng ta dành được chiến thắng, bởi vì ngay ở những thời điểm khó khăn nhất chúng ta vẫn kiên định lập trường. Nếu giả sử trước đây chúng ta chịu lùi bước và thoả hiệp, hẳn chúng ta đã không đạt được mục tiêu của mình.
2. Nền kinh tế thị trường kiểu mới
Nền kinh tế quốc dân phát triển vượt bậc ở hai nước không chỉ đặt lại quan niệm truyền thống của các Đảng Cộng sản về vai trò của mình, mà cũng bộc lộ những hẫng hụt đáng kể trong cách giải thích của khoa học kinh tế ở các nước tư bản. Những hẫng hụt này có thể tóm tắt trong câu hỏi sau đây:
Tại sao có những quốc gia lại dành được một tỷ lệ tăng trưởng cao và ổn định mặc dù nền kinh tế thị trường của họ hoàn toàn chưa có đủ những điều kiện khung cần thiết, chẳng hạn chưa có quan hệ sở hữu rõ ràng, hệ thống pháp luật còn thiếu sót, hệ thống ngân hàng chưa phát triển, các thị trường mở thực sự cho các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai và tiền vốn v.v. chưa tồn tại, trong khi đó có những quốc gia đã hội đủ những điều kiện khung ưu việt hơn thì lại không đạt một tỷ lệ tăng trưởng cao như vậy?
Các lý thuyết kinh tế thị trường cổ điển không đưa ra câu trả lời thuyết phục cho những câu hỏi này. Đúng là việc phân tích từ giác độ kinh tế thị trường có thể có tác dụng hỗ trợ cho việc giải quyết những vấn đề cụ thể, song lý thuyết kinh tế tân tự do trước sau vẫn giữ địa vị thống soái trong khoa học kinh tế ở các nước phương Tây không có khả năng giải thích được vì sao mặc dù đang thiếu các điều kiện khung cần thiết có những nền kinh tế quốc dân nhất định vẫn có thể phát triển với một năng suất rất cao.
3. Những thách thức chính trị
Những thay đổi ở nền tảng kinh tế tạo ra một áp lức thay đổi cao độ đối với xã hội và hệ thống chính trị ở hai nước. Vào phần cuối bài thuyết trình, tôi sẽ đề cập cụ thể hơn về những điểm tương đồng trên phương diện này giữa hai nước.
Bên cạnh những tương đồng đáng lưu ý ở trên người ta không thể bỏ qua
những khác biệt sâu sắc trong quá trình chuyển đổi
giữa hai nước, cái rốt cuộc quy định những cách đi rất khác nhau trong cải cách. Cả ở đây tôi cũng chỉ xin giới hạn vào một số điểm cơ bản:
1. Tiềm năng khác nhau
Quy mô lãnh thổ và dân số cũng như nguồn lực tự nhiên hết sức chênh lệch giữa hai nước quy định tiềm năng kinh tế, vị thế ứng xử và khả năng điều khiển khác nhau. Việt Nam chính vì vậy có khả năng linh hoạt hơn nhiều trong việc thay đổi định hướng hay điều chỉnh các bước đi cụ thể so với Trung Quốc.
Người ta cũng không thể so sánh tiềm năng kinh tế giữa Hoa kiều và Việt kiều. Ngay trong giai đoạn mở cửa kinh tế đối ngoại đầu tiên thì hoạt động kinh tế của Hoa kiều, các bí quyết và đặc biệt là vốn đầu tư của họ đã đóng một vai trò quyết định. Dựa vào các “mạng lưới” khác nhau, nhiều Hoa kiều đã dám mạo hiểm đầu tư trên quê hương mình, trong khi các nhà đầu tư nước ngoài khác vẫn còn chùn bước trước quá nhiều sự rủi ro gắn liền với một hoạt động như vậy. Việt Nam thực ra cũng cố gắng huy động Việt kiều tham gia đầu tư trong nước, tuy nhiên đây là một nhóm có quy mô và tiềm lực kinh tế nhỏ hơn nhiều lần.
2. Trình độ phát triển khác nhau của hệ thống kinh tế kế hoạch
Do điều kiện chiến tranh, Việt Nam mới chỉ có thể phát triển một hệ thống kinh tế kế hoạch dưới dạng sơ khai. Cuộc chiến tranh ném bom của Mỹ không chỉ ngăn chặn việc xây dựng những nhà máy và xí nghiệp liên hợp lớn, nó cũng đòi hỏi từ những người có trách nhiệm trên lĩnh vực kinh tế một khả năng linh hoạt và tinh thần sáng tạo cao nhằm khắc phục những thiếu thốn trầm trọng. Các hoạt động chạy song song với kế hoạch, nằm bên ngoài phạm vi kế hoạch và đi ngược lại kế hoạch thường có ý nghĩa sống còn trong thời chiến, do vậy mà hoạt động kinh tế tư nhân và kinh tế thị trường tự phát có thể phát triển ít bị ngăn cản hơn so với Trung Quốc hay ở các nước xã hội chủ nghĩa khác, nơi các cơ chế kiểm tra của một nền kinh tế kế hoạch đóng một vai trò cao hơn nhiều lần. Thêm vào đó ở miền Nam Việt Nam cho đến 1975 đương nhiên chưa thể nói đến sự tồn tại của một nền kinh tế kế hoạch. Những nỗ lực có được sau 1975/76 nhằm áp dụng các chuẩn mực kinh tế kế hoạch trên toàn quốc thường vấp phải thất bại ngay từ đầu.
Cho dù trong lịch sử đã trải qua những cơn sốc chính trị nặng nề, ở CHND Trung Hoa một hệ thống kinh tế kế hoạch với một thành phần công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ tương đối phát triển đã được thiết lập. Điều này có nghĩa là ngay trước giai đoạn cải cách, Trung Quốc đã có một năng suất kinh tế tính bình quân theo đầu người cao hơn hẳn so với Việt Nam. Cũng chính vì vậy mà Trung Quốc có thể dành một tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao hơn nhiều từ khu vực nông nghiệp nhằm xây dựng khu vực công nghiệp được xây dựng chủ yếu bằng nội lực sau khi Liên Xô đình chỉ viện trợ. Với sự hỗ trợ của hệ thống kinh tế này mà giữa 1960 và 1981 – mặc dù phải gánh chịu các tác hại của cuộc Cách mạng văn hoá – Trung Quốc đã đạt một tỷ lệ tăng trưởng bình quân gồm 5 phần trăm. Vào thời điểm 1977/78, khi những biện pháp cải cách đầu tiên còn nằm hoàn toàn trong khuôn khổ hệ thống được tiến hành, thì chính khu vực công nghiệp đã nhanh chóng dành được những tỷ lệ tăng trưởng vượt bậc.
Nói một cách cường điệu: Nếu ở Việt Nam cùng lắm chỉ có thể nói đến sự tồn tại của một hệ thống kinh tế kế hoạch và một thành phần công nghiệp dưới dạng manh nha, thì ngay từ thời điểm bắt đầu cải cách ở CHND Trung Hoa đã có một thành phần công nghiệp được tổ chức theo phương thức kinh tế kế hoạch mà vào cuối những năm bảy mươi, sau một số biện pháp cải cách trong phạm vi hệ thống, sẽ chiếm một tỷ trọng ngày càng cao trong tổng sản phẩm xã hội.
3. Vị trí khác nhau trên trường quốc tế
Từ đầu những năm sáu mươi, khi xung đột Trung – Xô bắt đầu lan rộng, CHND Trung Hoa ngày càng tự cô lập trên trường quốc tế. Thông qua những hành động bài ngoại diễn ra trong thời kỳ cách mạng văn hoá, CHND Trung Hoa rốt cuộc bị tẩy chay trên trường quốc tế. Hình ảnh bất lợi này này lại còn được củng cố thêm bởi những phát biểu cực đoan của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Cả ở trên bình diện kinh tế, Trung Quốc cũng tự cô lập mình một cách toàn diện. Viện trợ của các nước XHCN từ 1960 bị đình chỉ, cả quan hệ ngoại thương cũng dần dần bị hạn chế sau khi Trung Quốc tìm cách thực hiện mô hình phát triển tự cường. Thực ra từ đầu những năm bảy mươi Trung Quốc đã có những cố gắng nhằm thực hiện đường lối mở cửa mới về đối ngoại, tuy nhiên việc này đòi hỏi trên phương diện quốc gia cũng như quốc tế rất nhiều thời gian.
Việt Nam, nói đúng hơn là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và sau đó là CHXHCN Việt Nam, ngược lại luôn luôn là bộ phận vững chắc của hệ thống nhà nước XHCN do Liên Xô đứng đầu, viện trợ kinh tế và quân sự của các nước XHCN đóng một vai trò không thể coi thường đối với sự tồn vong của nhà nước này. Cả sau khi dành được chiến thắng và thống nhất hai miền đất nước, giới lãnh đạo chính trị Việt Nam cũng xuất phát từ tiền đề cho rằng phần đầu tư căn bản cần thiết cho việc xây dựng một quốc gia công nghiệp hiện đại sẽ do các nước XHCN và của cả các nước phi XHCN đảm nhiệm. Khác với Trung Quốc, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa của Việt Nam quá thấp để có thể đáp ứng dù chỉ là một phần nhu cầu đầu tư thiết yếu. Khi viện trợ của Trung Quốc và các nước phương Tây vào cuối những năm bảy mươi bị đình chỉ, nền kinh tế của Việt Nam đã đứng trước những khó khăn lớn. Vào 1989/90, khi nguồn viện trợ của các nước XHCN trong một sớm một chiều mất đi, ban lãnh đạo Việt Nam đã phải đương đầu với một sức ép cải cách ghê gớm, bởi vì một trong những nguồn đầu tư quan trọng nhất đã bị cạn kiệt.
Những điều kiện khác biệt này rốt cuộc đã quy định những
cách tiếp cận rất khác nhau trong quá trình chuyển đổi
từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường.
1. Khởi điểm giống nhau: Cải cách sản xuất nông nghiệp
Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, cải cách kinh tế bắt đầu ở nông thôn, nơi mà ở cả hai nước có hơn hai phần ba dân cư đang sống. Trên thực tế thì thường đấy không phải là những cuộc cải cách hay thay đổi thực sự được đề xuất và quyết định từ trên và được thực hiện ở cơ sở, mà chỉ là sự hợp pháp hoá các bước đi bất hợp pháp (phá rào) đã diễn ra từ lâu trong thực tiễn. Các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ngày càng trở thành những trung tâm dịch vụ và quản lý, hộ nông dân cá thể trở thành chủ thể sản xuất nông nghiệp quan trọng nhất, những sản phẩm sản xuất vượt chỉ tiêu được phép đem bán trên thị trường tự do.
2. Tiếp tục phát triển khác nhau:
Ở hai nước những biện pháp cải cách đầu tiên tiên này đã dẫn đến việc tăng cường một cách đáng kể sản xuất lương thực, giúp cải thiện tình hình cung ứng lương thực cho người dân và ngoài ra tăng thêm thu nhập cho nông dân. Tuy nhiên ở Việt Nam ngay từ 1982 những hiệu ứng này đã bắt đầu mất tác dụng và không tạo ra được cú hích cho những thay đổi tiếp theo.
Ở Trung Quốc các biện pháp nêu trên đã tạo ra những hiệu ứng tăng trưởng cao hơn, thu nhập của nông dân tăng lên nhiều lần so với ở Việt Nam và – đây là điều quan trọng hơn – đã được tận dụng nhằm tiếp tục phát triển khu vực công nghiệp nhẹ ở nông thôn vốn đã tồn tại trước khi cải cách nhưng bây giờ được mở rộng một cách đáng kể. Như vậy thứ nhất đã xuất hiện một thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm từ khu vực công nghiệp, thứ hai khu vực nông thôn vẫn tiếp tục cung ứng đầu tư cho khu vực công nghiệp, mặc dù những nguồn đầu tư đó nay được ưu tiên cho công nghiệp nhẹ và dành để mở rộng công nghiệp và các xí nghiệp nhỏ ở nông thôn. Trên đại thể, khu vực công nghiệp như vậy chỉ phải chịu một sức ép cải cách ít hơn rất nhiều lần so với ở Việt Nam, bởi vì nó vẫn còn được hậu thuẫn bởi một nguồn đầu tư dồi dào.
3. 1989/90: Bước ngoặt quyết định trong quá trình cải cách ở Việt Nam và thảm kịch Thiên An Môn ở Trung Quốc
Trong phần lớn các tài liệu, Đại hội 6 vào tháng 12. 1986 được coi là mốc khởi đầu cho chính sách cải cách của Việt Nam. Trên thực tế nhiều biện pháp cải cách quan trọng đã được quyết định lúc đó: Xoá bỏ độc quyền ngoại thương của nhà nước, phát triển các doanh nghiệp cá thể hộ gia đình, nâng cao tính tự chủ của các doanh nghiệp quốc doanh. Đây là những biện pháp vốn trước đây đã quen thuộc trong thực tiễn, mặc dù lúc đó còn mang tính chất bất hợp pháp. Nói tóm lại: tăng cường thương mại hoá và thị trường hoá các doanh nghiệp ngoài phạm vi kế hoạch, tuy nhiên cơ chế điều tiết cơ bản đối với kinh tế trước sau vẫn là kế hoạch. Các doanh nghiệp quốc doanh vẫn dựa vào bao cấp của nhà nước, về phần mình nhà nước lại chỉ có thể thực hiện bao cấp bằng cách cho in thêm tiền mặt, hậu quả là vào cuối những năm tám mươi đã xuất hiện một tình trạng siêu lạm phát với tỷ lệ 500%.
Từ cách nhìn hôm nay thì rõ ràng đỉnh điểm của quá trình cải cách ở Việt Nam nằm vào thời gian ba năm sau đó. Các biện pháp cải cách không hề được thực hiện từng bước, tuần tự, mà diễn ra một cách đột ngột sau sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Các biện pháp mang tính quyết định là:
- Bãi bỏ hệ thống hai giá
- Phá giá đồng Việt Nam xuống đến mức tỷ giá thị trường tự do
- Tự do hoá tối đa hoạt động ngoại thương
- Tích cực thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài
- Cắt giảm bao cấp các doanh nghiệp quốc doanh, kể cả trong khu vực giáo dục và dịch vụ xã hội.
- Xoá bỏ trên thực tế hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.
Thành tựu của chính sách này như mọi người đều biết là:
- Tỷ lệ tăng trưởng cao
- Tỷ lệ đầu tư cao
- Ổn định ngân sách nhà nước và thông qua đó khống chế thành công nạn lạm phát
- Các chương trình xoá đói giảm nghèo có hiệu quả cao đã giảm tỷ lệ người nghèo tuyệt đối từ 70% giữa những năm tám mươi xuống còn 15% trong năm 2003.
Ở Trung Quốc ngược lại trong những năm 1989/90 lại diễn ra một xu huớng phát triển đối nghịch. Các cuộc biểu tình của sinh viên thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế, việc đàn áp đẫm máu phong trào này và tiếp theo đó là việc sa thải nhiều nhà chính trị cải cách trong ban lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, phản ứng của nước ngoài giờ đây lại tạo một khoảng cách lớn hơn đối với Trung Quốc khiến cho quá trình cải cách tạm thời bị chững lại, trong khi đó ở Việt Nam quá trình này đạt một bước nhảy vọt lớn về phía trước.
4. Trung Quốc vượt trội, trong khi quá trình cải cách ở Việt Nam tạm thời bị ngưng trệ
Vào giữa những năm chín mươi tốc độ cải cách ở hai nước lại diễn ra khá khác nhau.
Nếu như sau khi phong trào biểu tình của sinh viên bị đàn áp và Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc đó là Hồ Diệu Bang bị cách chức chính sách cải cách ở Trung Quốc đã phải chịu một bước thụt lùi nghiêm trọng, thì vào một thời gian không lâu sau đó người ta đã nhận ra đây là một tình trạng sẽ không tồn tại lâu dài và cả ban lãnh đạo mới cũng quyết tâm tiếp tục công cuộc cải cách kinh tế. Dấu hiệu nổi bật nhất cho việc tiếp tục chính sách cải cách là chuyến công du của Đặng Tiểu Bình về miền Nam Trung Quốc vào năm 1992 và khái niệm “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” được áp dụng ở Đại hội Đảng lần thứ 14 diễn ra tiếp theo đó. Những tuyên bố trên phương diện chính trị đi kèm với các biện pháp cải cách kinh tế vĩ mô, chẳng hạn việc thả nổi giá và loại bỏ dần hệ thống kế hoạch nhà nước.
Kể cả cuộc khủng hoảng châu Á cũng không gây được ảnh hưởng gì nhiều đến Trung Quốc. Trong khi kinh tế ở các nước láng giềng phải chịu những giảm sút nặng nề về tăng trưởng, Trung Quốc đã chứng tỏ họ là mỏ neo của sự ổn định về kinh tế trong một khu vực đang bị chao đảo bởi khủng hoảng. Việc gia nhập WTO thành công cho đến nay là bằng chứng cuối cùng cho quyết tâm của giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ đi đến tận cùng con đường dẫn tới kinh tế thị trường và thị trường thế giới.
Còn Việt Nam thì ngược lại vào nửa đầu của thập kỷ chín mươi – nếu so sánh với sự phát triển kinh tế trước đó – đã có được một sự phát triển kinh tế tột bậc. Trong khi nạn lạm phát bị đẩy lùi một cách căn bản, kinh tế đã đạt mức tăng trưởng với tỷ lệ khoảng 10% hàng năm, đầu tư nước ngoài liên tục gia tăng, và Việt Nam đã bắt đầu được coi là “hổ mới”. Ngoài ra Việt Nam cũng thành công trong việc ổn định ngân sách nhà nước. Thông qua các cải cách “trên phương diện kỹ thuật” hệ thống ngân hàng và thuế quan cũng như việc tái tổ chức bộ máy nhà nước, nguồn thu ngân sách đã gia tăng một cách rõ rệt. Kể cả các doanh nghiệp quốc doanh thông qua việc hợp doanh với đối tác nước ngoài cũng thừa hưởng những nguồn lợi đáng kể từ chính sách mở cửa.
Việc tái củng cố sức mạnh của các thiết chế nhà nước tương phản một cách mạnh mẽ với sự gia tăng các hiện tượng xã hội ngoài mong muốn (tệ nạn xã hội) song hành với việc mở cửa kinh tế thị trường. Ở các cấp lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính vì vậy đòi hỏi hạn chế cải cách và tăng cường thành phần kinh tế nhà nước và công nhận nó như là thành phần kinh tế chủ đạo ngày càng đặt ra một cách gay gắt hơn.
Những yêu cầu này có thêm trọng lượng khi mà cuộc khủng hoảng châu Á cũng tác động đến nền kinh tế của Việt Nam. Bởi thị trường vốn của Việt Nam trên căn bản vẫn còn khép kín, Việt Nam đã tránh được những cơn chao đảo về tài chính mà các nuớc láng giềng bị cuốn vào. Tuy nhiên một cách gián tiếp Việt Nam cũng phải chịu các tác động của cuộc khủng hoảng này, bởi vì khu vực khủng hoảng là một thị trường tiêu thụ quan trọng của Việt Nam và là nơi bao gồm một phần lớn các nhà đầu tư ở Việt Nam. Ngoài ra các quốc gia này, do sản phẩm của họ trong quá trình khủng hoảng châu Á giảm giá thành một cách rõ rệt, lại đã trở thành đối thủ cạnh tranh của Việt Nam về thị trường tiêu thụ, đầu tư và tín dụng quốc tế. Kết quả là tỉ lệ tăng trưởng của Việt Nam đã đi xuống một cách rõ rệt và đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm hụt một cách nghiêm trọng. Những người ủng hộ cho đường lối mở cửa thị trường nay đứng trước sức ép phải biện hộ cho đường lối của mình và bị các đối thủ của họ quy trách nhiệm về những lệch lạc trong phát triển xã hội và chính trị cũng như về sự phát triển kinh tế thiếu sót.
Tuy nhiên rốt cuộc thì những người chống lại chính sách cải cách cũng không thể đưa ra một hình mẫu kinh tế và phát triển khả dĩ thay thế cho việc tiếp tục một cách triệt để chính sách cải cách. Và như vậy sau một giai đoạn đình trệ tương đối vào nửa thứ hai của thập kỷ chín mươi, cải cách lại bắt đầu có chiều hướng trỗi dậy, chẳng hạn Luật doanh nghiệp bắt đầu có hiệu lực từ 1.1.2000 và các điều kiện đầu tư được cải thiện một cách căn bản. Mặc dù đầu tư trực tiếp của nước ngoài chưa đạt đến chỉ tiêu mong muốn, hoạt động xuất khẩu và xúc tiến thị trường mới đang được tăng cường.
Tổng kết
Mặc dù cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam xét từ lô gich nội tại có nhiều điểm tương đồng, nhưng trong trình tự của những bước đi cụ thể có thể thấy rõ những điểm khác nhau được quy định bởi các khác biệt về địa lý và lịch sử. Điều có ý nghĩa quyết định ở đây là vào đầu quá trình cải cách, ban lãnh đạo Trung Quốc đã nắm trong tay những nguồn lực kinh tế lớn hơn nhiều lần so với nước láng giềng. Những nguồn lực này tạo ra một sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn và một quá trình cải cách mặc dù có tốc độ chậm song mang tính ổn định cao hơn. Chính sách cải cách ở Trung Quốc có nguồn gốc từ quyết định chủ động của giới lãnh đạo nhiều hơn là do tác động của các phong trào tự phát từ dưới lên.
Ngược lại các nhà cải cách Việt Nam đã phải chịu một áp lực cao độ. Nguồn lực kinh tế mà họ có được có quy mô nhỏ hơn nhiều lần so với Trung Quốc, thường họ phải đương đầu với những phong trào rất mạnh mẽ và phần lớn là tự phát từ dưới cơ sở lên, nơi nhiều biện pháp cải cách đã được tiến hành mà không có sự chuẩn y của cấp trên, và họ phải tìm cách để khắc phục việc viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa bỗng nhiên bị mất đi. Tương ứng với những đặc điểm này, các biện pháp cải cách cụ thể với hệ quả to lớn đã được đưa ra một cách nhanh chóng, thậm chí đột ngột, tiếp theo đó lại là sự tái diễn của những giai đoạn thụt lùi, đình trệ, song bản thân những giai đoạn đó cũng không kéo dài. Có thể phỏng đoán rằng với sự tiếp tục của quá trình cải cách, sự phát triển ở Việt Nam cũng sẽ diễn ra một cách ổn định hơn.
Có những vấn đề kinh tế tương tự, mặc dù với quy mô khác nhau, được đặt ra như là thách thức lớn nhất trong hiện tại cho thành công của chính sách cải cách ở hai nước.
- Tạo đủ chỗ làm việc cho các học sinh rời khỏi nhà trường và cho những người bị mất việc làm do hậu quả của cải cách
- Cải cách hệ thống ngân hàng và phương thức cấp tín dụng kém hiệu quả
- Hạn chế thâm hụt về ngoại thương và ngân sách
Ngoài ra cũng tồn tại những điểm tương đồng ở
các vấn đề chính trị như là hệ quả của chính sách cải cách về kinh tế.
Có thể nêu vắn tắt các vấn đề này như sau:
Trên phương diện kinh tế, việc cạnh tranh các nguồn lực kinh tế và thị trường tiêu thụ được công nhận như là động lực cơ bản của phát triển kinh tế.
Trên phương diện chính trị, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như Đảng Cộng sản Việt Nam bảo vệ vai trò lãnh đạo của mình và chống trả một cách quyết liệt tư tương đa nguyên và cạnh tranh quyền lực chính trị.
Tuy nhiên các Đảng Cộng sản cầm quyền chỉ còn rất ít các phương tiện vật chất so với thời gian trước đây để thực hiện độc quyền lãnh đạo này, bởi lẽ một khi người ta để tuột quyền lực kinh tế khỏi tay mình thì người ta cũng sẽ mất luôn quyền lực về chính trị. Bất cứ một ai ở Việt Nam hay ở Trung Quốc ngày nay nếu có tiền đều có thể mua được những hàng hoá và dịch vụ mà trước đây được phân phát như là phần thưởng cho sự trung thành đối với Đảng. Và rốt cuộc thì bất cứ ai có tiền thì thông qua hoạt động tham nhũng đều có thể làm chôn vùi thể chế thống trị, ít nhất là ở trên một phương diện cụ thể nào đó.
Độc quyền lãnh đạo của Đảng như vậy đang phải chịu những thách thức và tác động xói mòn từ nhiều phía và Đảng Cộng sản của cả hai nước cũng không còn duy trì độc quyền tổ chức của mình nữa. Họ cho phép – dù ở một mức độ hạn chế – các tổ chức phi chính phủ như các tổ chức nghiệp đoàn, tổ chức từ thiện v.v. ra đời và đặc biệt ở vùng nông thôn họ tìm cách củng cố quyền tham gia quyết định cao hơn của người dân (ở Trung Quốc: Bầu chủ tịch ở cấp địa phương; ở Việt Nam: Nghĩa vụ công khai hoá ngân sách địa phương v.v.)
Tuy nhiên chưa có những cơ cấu nào đã tự khẳng định để khả dĩ tạo ra sự cạnh tranh trên bình diện chính trị như đã nó đã tồn tại từ lâu trên bình diện kinh tế.
Đây không phải là vấn đề có thể giải quyết được nhanh chóng, bởi việc áp đặt các mô hình dân chủ phương Tây cũng hầu như sẽ không giúp ích gì cho việc khắc phục các vấn đề đang tồn tại.
Mặt khác thì cũng dễ nhận thấy rằng một khi không có cạnh tranh chính trị và không tồn tại một khung thiết chế có khả năng chuyển tải sự cạnh tranh này mà không cần đến bạo lực thì cũng không thể nào hạn chế được các tệ nạn xã hội, trước hết là vấn đề tham nhũng và lợi dụng chức quyền.
© 2003 talawas
|