trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
13.10.2004
Hoằng Danh
Hậu “Tản mạn… da cam…”: chứng lý và thái độ tiếp cận
 

1.



Vừa qua, dù tôi đã viết Mọi vấn đề còn để ngỏ để hồi đáp cho những ý kiến không hiểu đúng những gì đã được viết ở Tản mạn về vụ kiện chất độc da cam và nhóm VietUnity, trong đó có đề nghị “không nên vô tình hay cố ý tiếp tục sa vào những tiểu tiết để qui chụp hay phỉ báng”, để tất cả cùng hướng về ngày tòa án có thẩm quyền của Mỹ đưa ra phán quyết đem lại công lý cho nạn nhân tác nhân cam, nhưng vẫn có vài ý kiến tiếp tục công kích nhắm vào bài viết đầu của tôi, ở những vấn đề mà tôi đã nói rõ là không phải trọng tâm.

Nay đã là đầu tháng 10, vụ kiện vẫn chưa khai mở vào giữa tháng 9 như thông tin dự kiến ban đầu. Thiết nghĩ rằng với bài viết sau, quan điểm của tôi về tác nhân cam đã rõ ràng, đến mức không thể rõ hơn nữa, nên có lẽ đã đến lúc tôi không nên tiếp tục ỷ lại vào những người đã lên tiếng thay mình.

2.



Trong số những phê bình, cái có thể xem là giá trị duy nhất đối với tôi chỉ là các link nối vào các tài liệu về chiến tranh Việt Nam được viết bởi các tác giả Âu Mỹ. Về tính xác thực hay không xác thực, và tầm mức của vụ “thảm sát” ở Huế 1968 đến đâu, đây là những tài liệu quan trọng. Và, chính những đường link này cũng giúp tôi khám phá tiếp những điều khác.

3.



Nguyễn VănNguyễn Việt Kiều cùng dẫn tôi đến công trình của D. Gareth Porter viết năm 1974, với kết luận của nó rằng vụ “thảm sát” Huế là kết quả của Tiểu đoàn 10 tâm lý chiến “ngụy quân” và CIA, thậm chí số lượng người chết ít hơn so với con số được thổi phồng chính là do bom Mỹ chứ không hề có bàn tay của phía bên kia. Không có trong tay bất kỳ công cụ nào để kiểm chứng tính xác thực của Porter, nhưng tác phong tìm kiếm căn cứ đích thực luôn khiến tôi truy nguyên về nhân thân học thuật và bản thân của người viết (như tôi đặt vấn đề về gốc gác chính trị của Tony Văn Nguyễn và VietUnity chẳng hạn). Từ đường link đắt giá đó, tôi đến với Pages on the Vietnam War, và tìm thấy tại đây một tài liệu gây sốc khác cũng của Porter, The Myth of the Bloodbath: North Vietnam’s Land Reform Reconsidered (Huyền thoại về vụ tắm máu: xét lại cuộc cải cách ruộng đất ở Bắc Việt).





4.



Tiểu luận vừa nói được công bố tháng 10.1973, dù cuối bài tác giả của nó có dùng từ “thất bại điều hành” để nói về chiến dịch cải cách này, nhưng đây là, xin dẫn, “bài viết đầu tiên đập tan những lời nói dối do CIA chế biến về cải cách ruộng đất ở Bắc Việt năm 1956”.

Hai nhân vật bị phê phán là cung cấp nguồn cho “luận điệu” tắm máu này, là Bernard Fall, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam độc lập với chính quyền Mỹ, và Hoang Van Chí (HVC), nhân vật chủ yếu, một giáo viên trung học ở Thanh Hóa trong thời gian 1950-55.

Bernard Fall bị cho là đã “không thể nghiên cứu từ nguồn tài liệu gốc của Việt Nam, đặt biệt là cơ quan (ngôn luận) chính thức của đảng Lao động, tờ Nhân dân”.

Còn nhận định rằng chiến dịch tắm máu trên tinh thần ý thức hệ của cải cách ruộng đất thì bị cho là xuất phát từ ba khẳng định cơ bản của HVC:

  1. Các lãnh đạo cộng sản Việt Nam theo chân quan thầy Trung cộng, sử dụng cải cách ruộng đất như công cụ thủ tiêu thể xác đối với giai cấp sở hữu đất đai không có sự bảo vệ.
  2. Để bảo đảm hoàn tất sự thủ tiêu này, họ thiết lập tùy tiện những hạn mức các chủ đất phải bị phát hiện và xử tử ở mỗi làng.
  3. Sự giết hại và khủng bố đã đi quá xa đến độ đầy ải (cả) đảng viên, những cựu binh phản kháng và dân lành.

5.



Cần tức khắc xác quyết mạnh mẽ rằng tôi không khẳng định có tắm máu hay không trong cải cách ruộng đất, mà chỉ có liên hệ rằng rõ ràng đã không có tắm máu sau năm 1975 (nhưng chỉ tiếc rằng sau đó hàng loạt con người đã phải vào trại cải tạo nhiều năm trời ròng rã, điều chưa từng xảy ra trong lịch sử hiện đại ở bất cứ đâu khác, ngoại trừ những trại của đế chế Stalin và Hitler; và hàng triệu con người khác đã phải làm cuộc di tản chính trị và kinh tế cũng chưa từng có trong lịch sử – không phải là di tản chiến tranh thường thấy-, trong đó không ít những con người đã mãi mãi ra đi).

Cũng khẳng định rằng với một nước nông nghiệp lậu hậu, cải cách ruộng đất là cần thiết mà bất kỳ đâu cũng diễn ra vào giai đoạn chuyển đổi xã hội từ chế độ phong kiến. Dù sao thì cải cách ruộng đất ở miền Bắc và cả miền Nam sau này đã khiến một bộ phận dân cày biết đến sở hữu đất đai, mà trước đó chưa từng. Tuy nhiên vấn đề là cải cách đó đã được tiến hành như thế nào?

6.



Từ vấn đề cách thức, ba điểm cơ bản của HVC được Porter đem ra hài tội cần được suy nghĩ lại. Hơn 30 năm sau bài viết của Porter và 50 năm sau sự kiện, giờ đây bình tĩnh hơn, không còn những thiên lệch hay lấp liếm không thừa nhận như trước đây (do phải giữ uy tín của chủ nghĩa xã hội và của đảng, do cần cho việc tuyên truyền và ngoại giao…), và dù sao tất cả cũng đã là quá khứ, tôi nghĩ chính phần đông người Việt ta không hề cho rằng ba điểm này là hoàn toàn không có chút sự thật nào, như thái độ ám chỉ của Porter:

  1. Thủ tiêu giai cấp địa chủ phong kiến há không phải là chủ trương của những người cộng sản hay sao? Dù rằng thủ tiêu về mặt thể xác là điều không ai công khai lên tiếng hay thừa nhận, mà cũng có thể đã bị phóng đại, nhưng cả một làn sóng sôi sục cách mạng của đám đông kích động, được huy động có tổ chức vào việc xóa sổ một thành phần xã hội là điều diễn ra quá sức hiển nhiên không chỉ ở cải cách ruộng đất.
  2. Việc đưa ra các hạn mức há không phải là đặc trưng của “chủ nghĩa xã hội tập trung quan liêu” hay sao? Ở đó mọi thứ nhất nhất đều được sắp đặt trước theo những chỉ tiêu, cấp dưới buộc phải hoàn thành. Và các chỉ tiêu này càng cao, cùng với việc hoàn thành nó, thì càng chứng tỏ ưu việt của chủ nghĩa xã hội nói chung, thành tích tiên tiến, xung kích của đơn vị, địa phương, cá nhân nói riêng. Vậy thì ra “quota” và hoàn thành “quota” cải cách ruộng đất, thông qua số lượng vụ việc, diện tích, con người…, khó mà không thể là điều đã diễn ra thực tế ở thời điểm đó.
  3. Chuyện thành tích tố giác (bậy) lẫn nhau giữa những người đồng đội, giữa láng giềng, bạn bè, người thân, để lấy điểm cho mình, há không phải là những trải nghiệm còn nóng hổi cho rất nhiều người từng sống dưới chủ nghĩa xã hội tập trung, bình quân, và tự giác dọ thám lẫn nhau sao? Hậu quả của nó cộng hưởng từ các chỉ tiêu như loại chỉ tiêu cải cách ruộng đất, thì cũng là điều bình thường.

Chuyện đấu tố, bức tố, cho đến hôm nay vẫn không tài liệu lịch sử đảng nào công khai ghi vào, không có bất kỳ số liệu cụ thể nào, lớp trẻ phần đông cũng không hề biết có chuyện đày ải con người trong cải cách ruộng đất qua các trang sách giáo khoa phải học thuộc lòng từ thuở học sinh đến sinh viên. Nhưng không vì thế mà người ta có thể lấp liếm được, ngay cả ở những người có trách nhiệm chính trị. Bài mới đây của Trần Bạch Đằng trên Sài Gòn Giải Phóng Online, Đứng từ TPHCM nghĩ về mặt trận thống nhất dân tộc, đã nhắc: “Lúc sinh thời, Tổng Bí thư Lê Duẩn là người phản đối chuyện “đấu tố” trong cải cách ruộng đất”. Có thể nào cái chuyện đày ải con người như thể chỉ diễn ra tự phát vài nơi, không gì nghiêm trọng, mà một tổng bí thư phải lên tiếng bất đồng?

7.



Tôi phải dài dòng như trên để đi đến điều cần nói (tức là, một lần nữa xin nhắc lại, tình tiết lịch sử chỉ là để làm nền minh họa). Ngoài lập trường của tôi đối với cải cách ruộng đất đã nói ở trên, cần nói thêm rằng tôi không xét đến HVC như thế nào, sự đạp đổ của Porter đối với ông có đúng hay không, hay CIA “pha chế” ra sao, cũng không cần biết đến sự “tô hồng” làm đối trọng những pha chế này như thế nào trong các tài liệu chính thức của Việt Nam. Điều mà tôi muốn nói là về chính Porter.

Việc Porter cho rằng nói về cải cách ruộng đất (hay bất kỳ ai nói về bất cứ điều gì khác trong xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới, và về “dân chủ” hiện nay) mà không căn cứ vào tài liệu gốc và phát ngôn chính thức của đảng Lao động (hay đảng Cộng sản Việt Nam), để bác bỏ những nhận định mặt trái về chủ nghĩa xã hội Việt Nam, thì chính ông đã thể hiện một thái độ hoàn toàn thân cộng mù quáng [1] , tức một niềm tin thiếu suy xét đến độ giống như tin vào chân lý hoàn toàn xác thực, hoàn toàn trọn vẹn, vô điều kiện, không có bất kỳ một hoài nghi trên tinh thần kiểm chứng khách quan nào!

Vậy thì, với một thiên kiến thân cộng mù quáng như vậy, liệu những gì được viết về “thảm sát” Huế có đủ độ tin cậy không? Câu hỏi này tôi không dám trả lời, vì chính tôi, với tư cách không phải một nhân chứng lịch sử tại chỗ, đã tin vào Porter sau khi đọc hai phần của bài “thảm sát”, nhưng phải tức thời hoài nghi cực độ khi đọc bài về cải cách ruộng đất. [2]

8.



Thái độ của Porter là dễ hiểu. Biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc của thế kỷ 20, như Việt Nam. Hình tượng cực kỳ anh dũng khi đương đầu với một siêu cường, như Việt Nam, là điều làm nức lòng bất kỳ ai chuộng công lý. Bênh vực, đấu tranh cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là sự thôi thúc lương tâm của loài người tiến bộ khi đó, thậm chí là có trường hợp đến độ thân cộng mù quáng, không chút hoài nghi cần thiết nào như vậy.

Trong bối cảnh như thế, Bertrand Russell cùng các đại trí thức khác đã mở tòa án xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, mà tài liệu của nó cũng nằm trong số các links được đưa ra để khuyên bảo rằng tôi “phải đọc lại các tài liệu về chiến tranh Việt Nam”.

Thật đắt giá, phiên tòa không chỉ liên quan ở thời điểm chiến tranh, mà có “dây mơ rễ má” cả ở thời hậu chiến, là thời điểm thuộc phạm vi đề cập trong các ý kiến của tôi.

Hào quang chói lòa trong chiến tranh của những người cộng sản Việt Nam đã không ngăn được bóng đen mà cũng chính họ giăng ra vào thời hậu chiến. Không biết rằng người vin vào tài liệu của tòa án xét xử tội ác chiến tranh này – với mục đích bác bỏ điều mà tôi phần nào nhấn mạnh trong Tản mạn… da cam…: những tội lỗi hậu chiến của người cộng sản – có đủ quan tâm, và có đủ tự vấn để thẹn thùng ở điều rằng Jean-Paul Sartre, một trong những nhà văn, triết gia nổi bật nhất của thế kỷ 20, người đã cùng với Bertrand Russell tổ chức tòa án này, đồng thời cũng là người vào tháng 6.1979, tức chỉ bốn năm hậu chiến, khi mà hào quang chiến thắng còn rực rỡ lắm, đã kịch liệt lên án những người mà ông ca ngợi trước đây, về thảm cảnh của thuyền nhân Việt Nam? (Russell thì đã mất vào năm 1970 rồi).

Giả sử nếu có lượng phóng viên dày đặc như phóng viên chiến trường trước đây, tự do có mặt ở khắp chiều dài ven biển Việt Nam, ở khắp các con tàu ọp ẹp giữa trùng trùng biển khơi, cũng như khắp các đường rừng len lỏi từ Việt Nam sang Cambodia và Thái Lan, để ghi nhận, chụp ảnh và thống kê đầy đủ số nhân mạng đã mất và những khổ đau của người sống; và giả sử nếu Sartre không mất chỉ chưa đầy một năm sau đó (tháng 4.1980), biết đâu ông đã không mở một phiên tòa khác, tố cáo tội lỗi của những người gây nên thảm cảnh thuyền nhân?

Thái độ của Sartre tiêu biểu cho sự chính trực trí thức; sẵn sàng lên tiếng vì bất cứ vấn đề và đối tượng nào, theo đúng lương tâm của những người có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần xã hội, đúng như thực chất của đối tượng, ở từng thời đoạn của nó, chứ không phải tin tưởng mù quáng, ca tụng mù quáng một đối tượng đã biến thái tính chất, và càng không phải là luồn cúi, khuất phục trước sự biến thái hay thực chất đáng lên án đó. Không rõ là Porter có được sự chính trực trí thức này không trước những diễn tiến xây dựng chủ nghĩa xã hội thời hậu chiến ở Việt Nam?

9.



Thật sự phải nói rằng với những gì tôi viết ở bài sau, mà vẫn có ý kiến huấn thị về tội ác chiến tranh của Mỹ, thì thật là cố công hết sức gượng gạo và thừa thãi. Bản thân tôi (và cả những ý kiến có liên quan) không hề cho rằng Mỹ không gây tội ác chiến tranh. Tôi tiếp xúc với nhiều tài liệu giáo khoa và lịch sử đảng nói về tội ác của Mỹ. Trên một lần tôi được đưa đi tham quan Bảo tàng chứng tích chiến tranh tại tp. HCM, và lần nào tôi cũng thật sự hết sức xúc động và đầy căm phẫn. Giáo dục “lòng căm thù giặc” như vậy là rất hiệu quả rồi, nên tại diễn đàn này tôi và tất cả bạn đọc không cần phải “được” re-education (“tái giáo dục”, không phải “học tập cải tạo”) lòng căm thù đó, vì đây vốn là nơi trao đổi ý kiến của những người có cách nhìn riêng, không phải là những học sinh hay sinh viên phải tuyệt đối chấp nhận sách giáo khoa, dù là có biến tướng trong trình bày. [3]

10.



Trong khi tiếp cận của tôi tại Tản mạn… da cam… là tiếp cận hướng đến hiện tại và tương lai, dùng những cứ liệu lịch sử và hiện tại để đặt vấn đề về dân chủ, tự do, công lý của chính thời đương đại và sự tiến triển tiếp theo cần có của nó trong xã hội; thì ý kiến phản bác lại là tiếp cận quay về quá khứ, né tránh những vấn đề đương đại của xã hội Việt Nam thời hậu chiến gần và hậu chiến xa [4] , gượng ép “tái giáo dục” người khác, theo đúng tinh thần khoa giáo, về những nội dung quá khứ, một quá khứ mà tôi và những người công tâm cũng không hề không thừa nhận, dù rằng không thể không có những khác biệt trong sự thừa nhận đó.

Không thể lấy hào quang của quá khứ để che phủ bóng đen hiện tại; cũng không vì tội lỗi của người khác mà khỏa lấp được cái tội của mình. Quá khứ và hiện tại, công và tội, xét ở bình diện thể chế và xã hội, luôn có sự minh định rạch ròi trên hiện thực, nhưng thực tế lại luôn bị những người, những thế lực đầu cơ và cưỡng đoạt chính trị (mà hệ quả luôn đi kèm là đầu cơ và cưỡng đoạt kinh tế) cố tình nhập nhằng, lấp liếm.

11.



Tục ngữ có câu “đánh bùn sang ao”. Hành động nhập nhằng, lấp liếm như vừa nói chính là như vậy, là biến đen thành trắng. Tương phản với nó là câu “ngậm máu phun người”, tức biến trắng thành đen. Tôi không rõ trong luận lý học/logic học người ta gọi thủ thuật “đánh bùn…” và “ngậm máu…” này là gì, nhưng xem ra nó quá hữu dụng khi được dùng song hành để vừa phỉ báng người khác vừa chống chế cho mình. Ở đây xin cho phép tôi sa đà vào tiểu tiết để nói đến Xanh Mêlan (XML).

Thật tình tôi ít để tâm tới thư đầu tiên của XML trực tiếp nhắm vào tôi, nhưng đã phải cười rất nhiều (?) khi đọc thư của người này gởi Nguyễn Đăng Thường và Đỗ Kh.

Khi Đỗ Kh. nói lên một thực tế hoàn toàn xác đáng là “càng nên gấp gáp trong khi còn những nhân chứng sống” để nói về những bằng chứng sống cho Mậu Thân Huế và vượt biên, thì XML nhạo lại rằng “có thể nghĩ về việc làm thế nào để đền bù lại đất đai, nhà cửa, quyền lợi cho dân Chăm và dân Khmer. Có thể nghĩ tới việc di dời dân Việt ở miền Nam từ vùng châu Ô, châu Lý ngày xưa ra miền Bắc, nhường lại đất cho họ. Mà việc này phải giải quyết nhanh, nhanh, vì nó xảy ra lâu quá rồi, cách đây mấy thế kỷ rồi, không làm ngay thì con cháu những người Chàm hiện nay sẽ quên mất dĩ vãng cha ông. Chẳng hạn thế”. Tôi nghĩ rằng tư duy logic bình dân nhất cũng không thể không hiểu rằng Đỗ Kh. đang nói đến phạm vi cuộc chiến 54-75 và thời hậu chiến, tức “cục bùn” vẫn nằm ở “vũng bùn” của nó, còn XML thì vội vã bê cục bùn đó đánh sang… sông. Xin thưa rằng, sao XML không nhân tiện mà vác cục bùn này đánh sang… giữa khơi Thái Bình Dương luôn đi, chẳng hạn như: cần gấp gáp đi, nếu không con cháu người Việt sẽ quên mất gốc tích con rồng cháu tiên để tin rằng chúng thuộc dòng dõi của Nữ Oa bên Tàu, vì văn hóa Trung Quốc đang du nhập quá mức; hay: cần gấp gáp đi, không thì dân chúng không biết đến tiến hóa mà tưởng rằng họ là con cháu của hai ông bà tổ từ hồi Chúa trời nặn ra, vì cùng với Công Giáo có trước, Tin Lành nay đang phát triển rất mạnh… !

12.



Ý kiến được đề cập của Đỗ Kh. một lần nữa đặt vấn đề về chứng và lý. Sự kiện Huế Mậu Thân nay đã trở nên mù mờ không chỉ đối với các thế hệ sau, mà ngay cả với thế hệ trong thời gian chiến tranh, vì không phải ai cũng có mặt thực địa khi sự việc xảy ra. Về chứng thì, một bên, những con số, những hình ảnh nào đó được đưa ra và kết luận về sự thổi phồng, bóp méo, để thẳng một đường suy diễn đến… không có. Bên kia, những nhân chứng sống khi đó như Nhã Ca, hay như những gì Trịnh Công Sơn đã viết (dù là những ám chỉ mù mờ), khiến cũng không thể cho rằng sự kiện đó chỉ hoàn toàn là dựng đứng và những người tiến vào Huế khi đó hoàn toàn không có bất cứ tì vết nào.

Khi không có chứng, hoặc chứng quá mỏng, về lý người ta có thể bác bỏ nó. Nhưng đó chỉ là logic của câu chữ, của thiên kiến, của sự thổi phồng hay lấp liếm, còn logic của thực tế lịch sử thì nó vẫn là nó, dù logic thiên khiến có thể khiến nhiều người mù mờ.

Không lẽ nào sự kiện thuyền nhân làm xôn xao cả thế giới hơn một thập kỷ từ sau 1975, do nó không có chứng (không có những thống kê đầy đủ và chính thức nào về toàn bộ những người đã vĩnh viễn không bao giờ đặt chân nơi bến bờ mong ước, không thể có mồ mả nơi hiện trường trên biển để mà đếm và khai quật…), để rồi sẽ có lúc người ta lấy đó làm lý để bác bỏ sự kiện thuyền nhân? (Biết đâu chừng thêm vài thập niên nữa, khi những người ông, người bà từng là nhân chứng sống của giai đoạn này đã qua đời hết, lại không xuất hiện những công trình có cái tên giả định như “The Myth of the Boat-people: Socialism in Vietnam, Reconsidered” để cho rằng câu chuyện thuyền nhân chỉ do một ai đó kiểu như Bernard Fall và HVC đưa nguồn bậy, và CIA tiếp tục chế biến ra?)

Do vậy, tôi ủng hộ việc cần gấp gáp tổ chức thu thập nhân chứng và thống kê, để có một công trình sử học chính thức đúng tầm cỡ, về sự kiện thuyền nhân, cũng sự kiện cải tạo xã hội chủ nghĩa ở cả hai miền, trước và sau 1975. Tôi cũng mong rằng người Việt hải ngoại thôi đừng đấu đá nhau vì những chuyện không đâu nữa, để cùng ngồi lại mà bàn bạc việc thực hiện ý tưởng nêu lên tại Một ý nghĩ bất chợt về một bảo tàng cho riêng mình, để các thế hệ sau còn biết đến chứng tích của cuộc di dân chính trị và kinh tế vĩ đại nhất của thế kỷ 20, của những chuyến vượt biển mà đời sau không được phép quên, để con cháu ghi nhận những bước đường lưu vong gian truân mà cũng thành công nơi đất khách quê người, như một bài học…

Nhưng công trình sử học hay bảo tàng như được đề nghị thì còn quá xa để mà bàn tiếp ở đây, dù trong logic “bùn” nó vẫn còn nằm trong “vũng” của nó. Nên xin được tiếp tục về những logic khác của XML mà ở trên tôi đã muốn nói.

13.



XML phê phán quá rát chuyện người khác tản mạn, lan man, tùy hứng, và nghĩ rằng mình chẳng hề thái quá chút nào cả (!) khi không cho người khác được bàn đến những khía cạnh có liên quan của một vấn đề, nhưng cho phép mình tùy (tiện) hứng đến mức chỉ từ một giao diện website bình thường lại thản nhiên phán nó đến lần thứ hai (sau khi đã có những ý kiến đáp lại cái lần phán đầy vô lý thứ nhất) là “bệnh hoạn” [5] .

Đã có hàng triệu cái giao diện mẹ và hàng tỉ giao diện con đang hiện diện trên liên mạng. Chúng có những chuẩn thức chung, nhưng chuyện biến cách như thế nào là hoàn toàn tùy thuộc vào ý tưởng, trong tương quan với thẩm mỹ, của những người chủ trương và webmaster, và không hề vì sự riêng tư trình bày đó mà người truy cập này hay kia lại đưa ra lời kết án kiểu “ý thức hệ” khi lôi cả hậu hiện đại ra mà nói! Cái này quả là dùng đến logic “ngậm máu…” rồi. Với người thích logic “đánh bùn…” và logic “ngậm máu…” thì một điều vô thưởng vô phạt nhất, thường tình nhất cũng thành chuyện “bệnh hoạn” là phải lẽ rồi.

14.



Logic cao siêu của XML quả là quá dễ hiểu qua lá thư mà tôi đang đề cập. Đó là cái logic phản logic với logic của chính mình. Logic “tùy-hứng” (theo đúng từ của XML) vừa thể hiện như trên đây cũng chỉ là một ví dụ. Độc đáo hơn, trong tám mệnh đề về công lý làm tối mặt tối mũi người đọc, XML đã làm một cú phản logic với chính mình đầy ngoạn mục: khi tung những cú biện chứng kiểu không là có – có là không, có nơi/lúc này – không nơi/lúc khác, có cái này – không có cái kia, có cái này (đồng thời cũng là không có nó) ở lúc/nơi này (mà cũng là ở lúc/nơi khác)… như thế dành cho công lý còn ở mức ý tưởng cho những nạn nhân của phía chính nghĩa Việt Nam trong chiến tranh và hậu chiến, thì đương nhiên “biện chứng” công lý đó cũng áp dụng được cho công lý đối với nạn nhân tác nhân cam, là điều mà XML khăng khăng duy nhất là cần thiết.

Sự ngoạn mục phản logic này không chỉ có thế. Khi cười nhạo người khác rằng “Hãy ngồi cùng nhau và hô vang khẩu hiệu: Công lý phải được thực hiện!”, XML không (thể) biết rằng đang cười nhạo chính mình: cái từ “công lý” hiện đang được hô vang trời dành cho nạn nhân tác nhân cam, tất nhiên trong số đó có cả tôi và XML Và, nếu nhớ không lầm, cái khẩu hiệu “Công lý phải được thực hiện” của tôi, tất nhiên (đối với XML, chỉ) dành cho nạn nhân tác nhân cam, đã được XML nghiêm túc tán thành trong thư đầu tiên. Đây lại là một logic khác nữa của tác giả này.

15.



XML bác bỏ điều mà chẳng ai đòi hỏi, là “công lý mọi lúc, mọi nơi”, để khẳng định “Công-Lý-Đúng Nơi-Đúng-Lúc” hoặc “Công-Lý-Tùy-Nơi-Tùy-Lúc”. Quá đúng với hai khái niệm sau! Nhưng vấn đề là việc gì được xem là công lý và việc gì không nằm trong phạm vi đòi hỏi của điều này. Và vấn đề còn là – không phải là lúc nào là đúng và lúc nào là không (vì rất dễ được trả lời là tùy hoàn cảnh, điều kiện, và tùy như thế nào lại tiếp tục nằm trong phạm vi ngay sau đây), mà là – ai là người có quyền phán đâu là đúng và đâu là không đúng nơi, đúng lúc.

Trong khi tôi thừa nhận công lý cần có cho nạn nhân tác nhân cam, và cả các nạn nhân chiến cuộc của phía bên kia, cũng như những nạn nhân thời hậu chiến, thì XML chỉ thừa nhận cho nhóm đầu. Có thể (chỉ có thể thôi) XML sẽ cho rằng mình thừa nhận cho tất cả, nhưng chưa đến lúc; có nghĩa là tự XML lại cho mình cái quyền là người phán lúc nào là đúng nơi, đúng lúc. Nói rộng ra, không phải chỉ một XML, mà những người như XML, tức những người đứng hoàn toàn về phía quan điểm chính thống ở Việt Nam, cho mình cái thẩm quyền là đối tượng duy nhất ra phán quyết về mọi vấn đề, ngang nhiên chà đạp lên thẩm quyền tương tự và hoàn toàn hiển nhiên của người khác.

Cách nhìn nhận vấn đề như vậy chính là tiếp cận theo kiểu độc quyền công lý, độc quyền chân lý mà khuynh hướng độc tài hay toàn trị vẫn áp dụng. Không lắng nghe, không biết gì đến nhu cầu công lý, nhu cầu cũng đến lúc, đến nơi cần có công lý, của bất kỳ đối tượng nào khác ngoài chính mình ra, là đặc điểm hệ quả của khuynh hướng này. Dưới sự chi phối thể chế và cách suy nghĩ toàn trị, cùng lối tiếp cận độc quyền như vậy, họ mất đi ngay cả khả năng về một so sánh tối thiểu, rằng khi mình khẳng định công lý đã đúng nơi, đúng lúc (chỉ) cho mình, thì người khác tương tự vậy, cũng khẳng định công lý đã đúng nơi, đúng lúc (chỉ) cho họ… Vậy thì, vấn đề hóa ra lại nằm ở sự hòa hợp, hòa giải giữa những khuynh hướng, những nhu cầu đối nghịch.

16.



Lại quay về hòa hợp, hòa giải, vấn đề mà đã 30 năm hậu chiến vẫn còn chủ yếu trên lời nói. Cả hai phía dường như đều chưa sẵn sàng để thật lòng hòa giải, theo tôi phần nào chính là ở chỗ thực thi công lý (nhiều phía) này, và xuất phát từ chỗ cả hai bên đều chưa có sự sám hối đúng mức cần thiết. Lằn ranh chiến tuyến vẫn có vẻ hằn rõ giữa các ý kiến quanh bài viết của tôi [6] . Đọc những ý kiến này có lúc tôi tự vấn phải chăng mình đã vô tình khơi gợi để lại khoét thêm lằn ranh đó? Nhưng không, tôi xác quyết, rõ ràng hòa giải nhất thiết phải đến từ sự giải tỏa của cả hai phía, không chỉ cho riêng mình, mà còn từ chính mình cho phía đối diện; và những gì tôi nói lên, dù với tư cách những minh họa cho vấn đề tự do, dân chủ hiện tại, cũng là góp phần nói lên tiếng nói của một phía đã ở vào vị trí yếu thế, để có thể gióng lên một hồi chuông nho nhỏ cho những người có trách nhiệm chính trị, nhằm có thể bắt đầu chú ý vào mặt khác của vấn đề.

© 2004 talawas


[1]Tôi thật sự không muốn dùng từ “thân cộng”, nhưng có lẽ cái từ “phản động” này mới nói lên được tính chất đó. Còn nói “thân cộng mù quáng” để có thể phân biệt với những mức độ thân cộng khác có thể, như thân cộng có suy xét, thân cộng ly khai, thân cộng phản tỉnh…
[2]Tiện thể đây, Nguyễn Việt Kiều khi trả lời Phạm Tế Giác có cho rằng Mặt trận GPMN đã lên tiếng bác bỏ “thảm sát” Huế và cáo buộc hành động tội ác đó là do phía Mỹ, thì đó cũng là một dạng văn bản gốc, chính thức của phía Việt Nam kiểu như Porter nói đến, vậy liệu có phải là hoàn toàn xác thực? Thực tế là, trừ những kẻ khủng bố dưới những hình thức khác nhau, không một ai, chính phủ nào, mặt trận nào, kể cả Mỹ hay Soviet, trước đây và hiện nay, ngay thời điểm nước sôi lửa bỏng của hành động tội ác nào đó do mình gây ra mà lại vác mặt nhận là mình làm. Tuy nhiên vấn đề là sau đó có sự sám hối hay không, có cho phép có sự sám hối này hay không?

Và lại nhân tiện thể, khi NVK nói về sự ”tự thú trước bình minh” của người Mỹ về Mỹ Lai, Thạnh Phong, Mãnh Hỗ, nó chính là sự sám hối này. Đúng là nhờ tự thú đó “nên mới có chuyện cho mình đọc mới biết hén. Nếu những người lính Mỹ này không cảm thấy hối hận về những việc làm thú tính của mình trước kia và không chịu thú thật thì ngày hôm nay cũng như chuyện “chôn sống” ở Huế, mình cũng cứ nghĩ là do Việt Cộng làm thôi”. Nhưng khi lập luận như vậy, bạn không thấy rằng chính tại Tản mạn… da cam…, tôi đã đặt vấn đề là bối cảnh của tự do, dân chủ mới cho phép sự sám hối và tự thú đó, và tiếp tục nêu câu hỏi rằng bối cảnh “dân chủ” của Việt Nam có cho phép điều đó hay không đối với những hành động tội lỗi của chính “phe ta”, mà ở phạm vi bài này tôi gác “thảm sát” Huế sang một bên, để nói về chuyện đấu tố trong cải cách ruộng đất và chuyện vượt biên? Có cựu cán bộ đấu tố nào tự thú rằng đã đày ải người khác trong đấu tố, hay tự thú về vụ đấu tố nhầm nào không? Có cựu sĩ quan biên phòng, công an nào tự thú về những gì họ đã làm với những người vượt biên hay không?
[3]Lại sa vào một tiểu tiết: nên diễn đạt việc “đánh chiếm thành phố Huế năm 1968 đó là những người có tài đức, là những học sinh ưu tú, các giáo viên yêu nước của các trường nổi tiếng ở Huế, và cũng có những người tôn giáo có tiếng tăm ở Huế”, bằng phrase “tổng tấn công và nổi dậy” (của người dân địa phương) cho đỡ hao giấy mực, đỡ rối rắm, và đúng với chuẩn mực giáo khoa lịch sử hơn mà người viết như vậy sẵn đã được “trang bị“ từ bên nhà.
[4]Tôi chỉ là tạm thời dùng “hậu chiến gần” và “hậu chiến xa” để lấy cột mốc đổi mới (cũng chỉ là cột mốc tạm) tách về hai phía.
[5]Tôi phải thành thật, hoàn toàn thành thật xin lỗi XML và tất cả độc giả khi buộc phải nói rằng sự thản nhiên đó đạt đến mức trơ trẽn, chỉ nhằm chống chế!
[6]Một chi tiết của Đỗ Kh. khiến tôi giật mình, và cũng ngay sau đó nó đem lại phản ứng của Trần Hoài Thư. Đó là chi tiết liên quan đến “giày, dép” giẫm lên chất khai hoang. Không biết tôi có hiểu sai không, nhưng (tôi xin chia sẻ nếu) dường như tâm trạng của Đỗ Kh. khi viết về điều này phần nào như lời (tự) oán trách của những con người cũng gánh chịu những hậu quả nào đó từ chiến tranh (không nhất thiết là da cam), nhưng nay không ai đoái hoài, chỉ vì họ là những người bên kia chiến tuyến. Tôi thầm trách mình rằng khi nói đến nạn nhân da cam cũng đã quên đi bộ phận này trong số đồng bào mình (Tuổi Trẻ Online sau đó, dù không nhiều, đã có đề cập đến những người là nạn nhân da cam do chính hành động phục vụ cho Mỹ của họ. Báo này cũng vừa nhắc đến các nạn nhân chất khai hoang là cựu binh nước ngoài). Công tâm mà nói, trình bày của Đỗ Kh. khiến dễ bị hiểu lầm là muốn giành phần làm nạn nhân da cam cho chính phần bên này chiến tuyến xưa kia của anh, nhưng cũng xin mạn phép nghĩ rằng nếu Trần Hoài Thư có cái nhìn rộng mở hơn, thì không nên giận dữ mà tiếp tục phân biệt “giày hay dép?” làm gì. Đã là người Việt ta, đi giày, đi dép, và cả đi chân trần nữa, đối diện với tác nhân cam của quá khứ, thì đều là nạn nhân cả mà.

 
© talawas 2026