Bùi Quang Ngọc
Qua điện thoại, anh Ðào Minh Tri có gợi ý tôi đọc một tham luận về vấn đề dân tộc và hội họa đương đại trong cuộc họp này. Nhưng tôi tin chắc rằng , trong tất cả những người là họa sỹ hoặc nhà điêu khắc đang ngồi đây ít nhiều đều tâm niệm và hiểu biết có khi đến thuộc lòng vấn đề bản sắc dân tộc đó còn hơn tôi. Những nghị quyết, những tham luận hoặc những bài báo, với những chỉ tiêu định hướng, đã làm mòn con đường ta đang đi và cứ thế, chúng ta ngoan ngoãn trượt theo triền dốc có sẵn mà vẫn tự lấy làm hài lòng về những thành tích đạt được của mình. Thực ra, chính tôi cũng tự hỏi mình, tôi đã làm được gì cho nghệ thuật hay đã lợi dụng cái được cho là nghệ thuật cho thực dụng hàng ngày, để vinh thân phì gia. Có khi cảm thấy mình quá hèn, cả cuộc đời bị băm nát như trong lò mổ, đôi lúc tĩnh tâm đếm nhặt, chắp vá lại những mảnh hình hài đã vụn nát của mình giữa đêm khuya lòng đau xót. Ðời sống vật chất có đầy đủ bao nhiêu mà tinh thần bị dát mỏng thì cũng như trống rỗng. Tôi cảm thấy có lẽ đã tự đánh mất mình – hay – chúng ta đã đánh mất thiên nhiên từ lâu, cả hai phía, trong và ngoài; đánh mất những năng lực cần thiết trong nhãn quan tổng thể rộng lớn hơn của không gian và thời gian. Ranh giới giữa thiên nhiên và nghệ thuật bị đảo lộn bởi những định kiến, những tham vọng áp đảo, muốn cải tạo thế giới – bởi những động cơ vụ lợi bằng quyền lực – bởi niềm tin quá vững chắc vào câu chuyện thần thoại hợp lý hóa về sự bền vững đời đời. Tất cả chỉ muốn xóa bỏ đi cái bản ngã chủ quan của mỗi cá thể con người . Nhưng chính từ đó – đời sống tâm linh nẩy mầm, chủ nghĩa cá nhân hiện đại bắt đầu phôi thai. Ðây là phần nhận thức thô thiển của tôi về cái gọi là hành động sáng tạo mỹ thuật trước khi sang vấn đề khác.
Không có một vùng đất nào không có nguồn cội, không một gia tộc nào không có tổ tiên. Cội nguồn là cái nôi, cái nền mà từng cá thể con người đắm mình trong đó, trên đất cằn, trên rêu ẩm, từ một gốc cây, mỗi ngọn cỏ đều thấm dấu máu thịt trong từng tế bào sống của mỗi sinh linh. Một cái gì thiêng liêng nhưng rất mơ hồ ẩn dấu trong ta. Chưa có một đơn vị tiêu chuẩn nào định hình được nó. Vậy bản sắc dân tộc là gì? Theo tôi, tâm hồn và trái tim ta chính là thước đo tự nhiên cho cái tiêu chuẩn mơ hồ đó. Nếu cứ bị nhắc hoài nhắc mãi thì chính cái bản sắc chính thống đó trong mỗi cá thể cũng bị xúc phạm mà tự hoài nghi chính mình.Vấn đề thật lớn lao nhưng cũng thật tự nhiên, ai dám định vị một cách khoa học vùng tâm linh đó của con người. Nguồn gốc truyền thống cổ truyền dầu có nhỏ nhoi bao nhiêu đi nữa vẫn thấm đượm hương vị quê hương trong mỗi con người.
Hãy bàn từ cái trống đồng – Tôi nghĩ rằng những cấu trúc nét liền của văn minh Maya rất gần với hoa văn trống đồng. Hoặc người da đỏ đã di cư từ châu Á sang châu Mỹ, từ eo Bering khi lục địa xưa còn liền mạch. Từ Hoa nam đến tận Nam dương đều có rất nhiều – Liên văn hóa của một vùng sinh thái đã đồng hiện cái công cụ của một vùng văn minh phù sa -có thể nguồn gốc trống đồng từ một nơi sản sinh ra, chiếc trống thô sơ nhất chứ không phải chiếc trống tinh tế nhất như trống Đông Sơn, là chiếc trống cuối cùng (?)…vv
Vậy sự liên quan văn hóa của các vùng đất (các dân tộc) là rất gần nhau. Lại hỏi – Văn hóa Hán từ phương Bắc, văn hóa Ân từ phương Nam đã hình thành nên cái gọi là văn hóa Việt – đã lưu lại những gì trong nghệ thuật tạo hình? (ở đây tôi không bàn đến sân khấu và âm nhạc). Trường họa Pháp đã để lại dấu ấn gì? – ai cũng biết trước năm 1925 (năm thành lập trường Mỹ thuật Ðông Dương) mỹ thuật bản địa của chúng ta chưa có gì – khuyết danh – chỉ có những tranh khắc vàng và trắng nhỏ nhoi – nghèo nàn ngày tết – giống đúc tranh Tầu – thuộc giống Folk Art. Tượng Phật và chùa chiền là Tàu hoặc Ấn thu nhỏ. Xã hội tiểu nông quá nghèo đói, vậy mà chúng ta vẫn êm đềm ngâm mình trong cái nôi quê hương bé nhỏ đó. Tàu: 1000 năm – Tây: 100 năm – Mỹ: mấy chục năm. Sự xáo trộn là đường cắt chủ nghĩa thực dân của các dòng văn minh có khi lại phù hợp với cái gọi là toàn cầu hóa hiện nay: Trào lưu đa văn hóa hậu hiện đại .
Không phải nhắc nhở nhiều nguồn gốc cổ truyền từ trong máu của mỗi người. Ai đó sợ Âu hóa – nghe đây: Tô Ngọc Vân, họa sỹ chuẩn mực bậc thầy của chúng ta Tây đến 99%. Hội viên hội họa Pháp 1932. Ông vẽ theo quan sát chứ không vẽ theo quan niệm thần thái của phương Ðông. Lại nữa: hầu như các bậc văn nghệ tên tuổi của chúng ta đều do Pháp đào tạo: Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn, Lưu Văn Sìn, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng… Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Tư Nghiêm…cho đến các ngành khác như Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận … Hàn Mặc Tử, Thạch Lam… Nguyễn Xuân Khoát v.v… – từ lò nào ra?, vậy mà tác phẩm của họ vẫn cứ là Việt Nam. Nói tóm lại, nghệ thuật là một tiến trình chứ không là một thành tựu, hành động sáng tạo mới là điều quan trọng, sản phẩm chỉ là phụ thuộc.
Sau Cách mạng Tháng 10 hàng chục họa sỹ của nước Nga từ bỏ nước nhà lưu vong và trở nên nổi tiếng như những khuôn mặt xuất sắc nhất của nghệ thuật thế giới. Giữa cao trào của Thế chiến Thứ I (1914 – 1918) nhóm Ða Ða xuất hiện lần thứ nhất. Những cái tên như Tristan Tzara, Marcel Duchamp, Man Ray, A.Bréton được xếp cạnh nhau như là những khuôn mặt đại diện cho sự hư vô chủ nghĩa trong nhận thức, vô chính phủ trong thái độ, buông thả tiềm thức và vô thức, hoàn toàn phủ nhận quá khứ, chống lại mọi trật tự xã hội đương thời, ngờ vực những khả năng của truyền thống, coi thường những giá trị thẩm mỹ truyền thống. Dù tồn tại ngắn ngủi, vậy mà trào lưu Ða Ða lại là trào lưu có nhiều đóng góp hơn hẳn các trào lưu nghệ thuật khác trước và sau nó. Ðặc biệt chủ nghĩa Ða Ða chi phối to lớn đến các hình thức nghệ thuật cuối Thế kỷ XX.
Chúng ta nghĩ sao về dân tộc và hiện đại khi trong âm nhạc từ cách đây mấy chục năm nhạc sỹ Debussy đã sử dụng chất liệu âm nhạc ngũ cung của Phương Ðông. Cuối Thế kỷ XX John Cage (Nhạc sỹ Mỹ) sáng tác bản giao hưởng cho sự biến dịch (Music of change) lấy cảm hứng từ bộ Kinh dịch của Phương Ðông. Năm 1997 Nguyễn Thuyết Phong – Giáo sư dân tộc nhạc học được Hoa kỳ trao giải National Heritage (Di sản Quốc gia) về đề tài âm nhạc cổ truyền Việt nam và nhạc Phật giáo.
Những ví dụ đưa ra ở trên cho thấy chỉ có hành động sáng tạo là có giá trị .Chính vì lẽ đó, trong nghệ thuật – bản thân tôi đánh giá Marcel Duchamp cao hơn và có ích hơn Picasso – người (thậm chí tới giờ) – vẫn còn như một bóng ma ám ảnh giới nghệ thuật.
Cái đẹp đã từng được phát hiện, giờ đây, cái đẹp phải được phát minh, người nghệ sỹ không phản ánh thế giới mà phản ánh chính vận hành nội tâm của mình, và sự thử nghiệm dũng cảm còn giá trị hơn thành tựu tác phẩm.
* Đầu đề của Talawas