trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
27.1.2003
Cao Xuân Hạo
“Hán -Việt” và “thuần Việt”
 
Trong bài “Dùng chữ quốc ngữ là một tai họa ư?” (Văn Nghệ Quân Đội tháng 6.2002, talawas 23.01.2003), Nguyễn Hoàng Sơn phê phán quan điểm của nhà ngôn ngữ học, giáo sư Cao Xuân Hạo, trên cơ sở một số trích dẫn từ ba bài viết: “Hán-Việt và thuần Việt”, “Chữ Tây và chữ Hán, thứ chữ nào hơn?”, “Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ” trong tập “Tiếng Việt, văn Việt, người Việt” (Cao Xuân Hạo, nxb Trẻ 2001). Chúng tôi xin lần lượt giới thiệu các bài viết này cùng bạn đọc.
talawas

Ðã có một thời

người ta bài trừ hai chữ trực thăng và thay nó bằng mấy chữ máy bay

lên thẳng,trực thăng "từ Hán-Việt", một thứ

từ ngữ "ngoại lai", "đi mượn của người Hán", tức là từ của

tiếng nước ngoài, còn lên thẳng là từ "thuần Việt", là

sản phẩm "cây nhà lá vườn" đáng tự hào của người Việt Nam "chính

cống", tức người "Kinh", người "Giao Chỉ", người

"Keo" hay người "Yuôn".

Việc sử dụng nhiều các từ Hán-Việt được

nhiều người coi là một hành vi lạm dụng, thậm chí vô đạo đức, cần tránh đến mức

tối đa, nhất là khi đã có sẵn những từ "thuần Việt" có thể dùng đề

thay thế, và việc thay thế này được coi là một nghĩa cử có tác dụng "giữ

gìn sự trong sáng của tiếng Việt", một trong những nhiệm vụ hàng đầu của

mọi công dân nước Việt. Việc thay thế trực thăng bằng lên thẳng

đã từng được đánh giá là "một thắng lợi vẻ vang của chủ nghĩa yêu nước", "một thành tựu lớn lao

trong việc bảo vệ nền văn hoá dân tộc".

Ðến khi

trong kỹ nghệ hàng không lần lượt xuất hiện những kiểu máy bay cất cách theo

chiều thẳng đứng, không cần chạy trên mặt đất để lấy đà, tức là "lên

thẳng" thực sự, nhưng lại tuyệt nhiên không phải là "trực

thăng", người ta mới thấy "hố", bèn vội vàng dùng lại hai

chữ trực thăng.

Những

trường hợp tương tự và những tình trạng lúng túng mà phong trào bài xích

"từ Hán Việt" gây ra cũng còn thấy có với những từ ngữ như phi

công, bị thay bằng giặc lái (từ này được thay bằng người

lái khi dùng cho phi công của ta: ai nấy đều đã được nghe anh hùng không

quân Nguyễn Văn Cốc nói trên Ðài phát thanh "Tôi là người lái nhân dân

Việt Nam"); giáo cụ trực quan bị thay bằng đồ dùng để dạy,

không phận bị thay bằng vùng

trời; hải phận bị thay bằng vùng biển (trong khilãnh thổkhông

hề bị thay bằng vùng đất)[1];

hoả tiễn bị thay bằng tên lửa[2]

; công tố viên bị thay bằng ủy viên buộc tội;

tuần dương hạm bị thay bằng tàu tuần biển, v.v., v.v.

[3]

Vậy thiết tưởng cũng nên xét

lại xem nội dung của hai khái niệm HánViệtthuần Việt

gì, để thấy rõ hơn việc bài trừ các từ ngữ Hán-Việt và tìm cách thay thế

nó bằng những từ ngữ "thuần Việt" có phải là một biện pháp

"giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" hay không.

Trước hết phải nói ngay rằng

không làm gì có những từ có thể gọi một cách chính xác là "thuần

Việt", nếu định nghĩa đó là những từ do chính người Việt (dân tộc Việt)

sáng tạo ra từ đầu, chứ không bắt nguồn từ tiếng nói của một dân tộc hay một

tộc người nào khác. Trước khi có tiếng Việt hiện đại đã từng có một thời đai mà

tiền thân của nó là tiếng Việt-Mường, bắt nguồn từ một chi của tiếng Môn-Khmer.

Liệu có thể nói rằng những từ ngữ Việt Mường là "thuần Viêt" không, hay nói rằng những từ ngữ Môn-Khmer

là "thuần Việt-Mường" không? Khó lòng có thể nói như vậy, vì có thể

khẳng định rằng tiếng Việt-Mường là một ngôn ngữ khác chứ không phải là

tiếng Việt, cũng như tiếng Môn-Khmer là một ngôn ngữ khác chứ không phải

là tiếng Việt-Mường. Vậy có thể coi những từ Môn-Khmer hay những từ Việt-Mường

là "thuần Việt" không? Hay đó là những từ mà tiếng Việt đã vay mượn

của tiếng Môn-Khmer hay tiếng

Việt-Mường? Khó lòng có thể chọn một trong hai cách trả lời, vì cả hai đều

không đúng.

Thật ra phải nói rằng đó là

những từ Việt có nguồn gốc trong một ngôn ngữ "mẹ" (hay "ngôn

ngữ bà ngoại") của chính nó[4],

có khác với những từ Thái, những từ Mã Lai, những từ Hán hay những từ Ấn Âu,

vốn bắt nguồn từ những ngôn ngữ không có quan hệ thân tộc với nó.

Vậy

tại sao không nói đó là những từ vay mượn? "Từ vay mượn"(emprunts,

loan words) là một khái niệm cần được định nghĩa trên quan điểm lịch sử, và

trên cơ sở một cái mốc đánh dấu sự thành hình của ngôn ngữ đang xét. Kể từ cái

thời đại mà tiếng Việt-Mường chẳng hạn, có thể coi là đã thành hình như một

ngôn ngữ, hay nói cho đúng hơn, một ngữ trạng (état de langue) có những đặc

trưng khiến nó có thể coi như không còn là thứ tiếng trước kia (hay ngữ trạng

trước kia) nữa, thì những từ ngữ mà nó du nhập từ những ngôn ngữ khác có tiếp

xúc với nó có thể coi là những yếu tố vay mượn, trong khi những từ ngữ mà

"mẹ nó" vay mươn lại không thể coi là như thế, vì những từ ngữ này đã

là những di sản của thời trước do "mẹ nó" để lại và được nó xử lý như

những yếu tố thuộc vốn từ vựng của tiếng "mẹ đẻ". Khi những người nói

tiếng Việt-Mường không còn vay mượn những từ ngữ Thái (gạo, gà, vịt

hơn 100 từ khác) như hồi chưa tách hẳn ra khỏi tiếng

Môn-Khmer, thì những từ này đã được nhập vào vốn từ vựng của tiếng mẹ đẻ của

họ, nghĩa là đã trở thành những từ "thuần Việt-Mường".

Ðối với các từ gốc Hán cũng

vậy, tuy ở đây tình hình có phức tạp hơn một chút. Qua hơn 1000 năm bắc thuộc,

tiếng Việt đã mượn của tiếng Hán một số từ ngữ nhiều gấp bốn lần vốn từ ngữ đã

có trước kia. Trong số từ vay mượn này, có những từ "bình dân" dần

dần được người bản ngữ đồng hoá và dần dần có được một dáng dấp ngữ âm riêng,

được dùng y hệt như những từ gốc của bản ngữ, và đến vài ba thế hệ sau khi vay

mượn, không còn bị người bản ngữ tri giác như những từ ngoại lai nữa. Bên cạnh

đó có những từ ngữ Hán đi vào tiếng Việt theo con đường "bác học", chủ

yếu là qua các văn bản hành chính sự vụ mà ngay trong các triều đại đã giành

được độc lập cũng được viết bằng chữ Hán cổ điển. Ðó chính là tiền thân của các

"từ "Hán-Việt" sau này. Những từ này có một diện mạo ngữ âm được

quy định chính xác theo các tự điển Trung quốc – theo cách chú âm bằng thủ pháp

"phiên thiết". Do đó các nhà nghiên cứu thường thấy cần phân biệt

giũa những từ ngữ gốc Hán "bình dân" và những từ

"Hán-Việt". Dĩ nhiên sự phân biệt này hoàn toàn có cơ sở. Nhưng nó

không đủ để phân biệt đối xử với những từ như đầu, tính, dân, học, hiểu được

coi như những từ "thuần Việt" và với những từ ngữ như đại

bác, tín nhiệm được coi là cần được loại bỏ trong chừng mưc có thể.

Khi dựng lên sự phân biệt

nhân tạo giữa "Hán-Việt" và "thuần Việt", người ta thường

quên mất rằng hầu hết những từ được gọi là "thuần Việt" cũng đều có

nguồn gốc ngoại quốc (Thái, Mã-Lai, Chăm, Căm-Pu-Chia, Quảng Ðông, Ấn Ðộ, v.v.)

không kém gì các từ "Hán-Việt" và các từ mới vay mượn của tiếng Pháp,

tiếng Anh. Thật ra, cái sắc thái đặc biệt mà người ta tri giác được ở các từ

Hán -Việt không phải là do một đặc trưng "ngoại quốc" gì của các từ

này. Chẳng hạn, xét về ngữ âm, các từ Hán-Việt đều có một cấu trúc âm tiết

chuẩn mực của những từ thuần Việt, như các công trình nghiên cứu cấu trúc ngữ

âm của các từ Hán-Việt đã cho thấy, chứ không có một âm hưởng là lạ như các từ

vay mượn như pa-tê, gòong, soóc, xéc, boong, tỉm xắm, vằn thắn (kể cả

những tên riêng Quảng Ðông như Cóong,

Dzếnh).

Sở

dĩ các từ Hán-Việt được một số người Việt "có học" phân biệt với các

từ "thuần Việt". trong đó có cả các từ gốc Hán được phát âm đúng như

trong tự điển phiên thiết như đầu, dân, hiểu, học, là vì những lý do

khác, không mấy khi được ý thức rõ ràng. Ðó là :

1. Những

yếu tố "Hán-Việt" không được dùng "độc lập" như các yếu tố

"thuần Việt", mà chỉ xuất hiện trong những tổ hợp hai tiếng trở lên.

Sự phân biệt này trở nên quan trọng và có dáng "khoa học" kể từ khi

giới học giả Việt Nam phát hiện ra cái chuẩn tắc hình thức của phái ngữ học

miêu tả dùng sự khu biệt giữa " bound forms"free formslàm nguyên tắc toàn

năng và tuyệt đối quyết định mọi thao tác phân tích và thuyết minh ngôn ngữ

học.

Thật

ra nguyên tắc này, tuy có một tác dụng thực tiễn nhất định, nhưng xét về lý

thuyết hoàn toàn không liên quan gì đến ngôn ngữ học, cho nên nếu được ứng dụng

một cách máy móc, sẽ dẫn đến những sự lầm lẫn hết sức thô lậu, như chúng tôi đã

chứng minh trong khá nhiều bài vở, và như giới ngữ học thế giới sau những năm

30 đã thấy rõ. Riêng trong lĩnh vực đang xét, nó dẫn tới những kết quả phi lý

sau đây :

quốc ca một từ nhưng dân ca hai từ
súng trường –—— –- súng ngắn –—-
hải quân –—— –- không quân –—-

Cái

chuẩn tắc thô thiển này phủ nhận tư cách từ của tất cả những từ bao giờ

cũng đi với một phụ ngữ (bổ ngữ hay định ngữ); đó là các vị từ ngoại động

(transitive verbs) như nai (lưng) hay các danh từ đơn vị (unit

nouns) như chiếc (đũa) chẳng hạn, và làm nảy sinh ra những sự ngộ nhận

đáng xấu hổ trong lý thuyết ngữ học phổ thông, như khái niệm "loại

từ" ("classifier") chẳng hạn, mà mãi gần đây (đến tận 1994) vẫn có người ta còn chưa thấy rõ tính phi

lý.

2. Trong tiếng Việt, các từ "Hán-Việt" làm thành một lớp riêng, có những

đăc trưng ngữ pháp (a) và tu từ (phong cách học) (b) riêng.

a. Về ngữ pháp, các từ tổ

Hán-Việt tuy cũng chứa đựng những mối quan hệ cú pháp (đẳng lập hay chính phụ)

rõ rệt không kém các từ tổ "thuần Việt", nhưng mối quan hệ cú pháp

này chặt hơn nhiều, một phần là nhờ cái "trật tự ngược" (phụ trước

chính sau) so với các từ tổ thuần Việt.

Chẳng hạn quan hệ cú pháp

chính phụ trong xạ thủ hay phi công chặt hơn nhiều so với mối quan hệ tương đương trong người

bắn hay người lái : trong khi xạ thủ Nam chỉ có thể hiểu một

cách, thì người bắn Nam không cho biết đó là kẻ đã bắn anh Nam hay là

người lính tên là Nam (chắc hẳn cách

hiểu thứ nhất (trọng âm [111]) tự nhiên hơn cách hiểu thứ hai (trọng âm [011])

[5].

Tính chất "chặt"

của môí quan hệ cú pháp này giữa hai từ"Hán-Việt" làm cho các từ tổ tương tự dễ được hiểu đúng hơn

nhiều khi được dùng làm thuật ngữ chuyên môn (khoa học hay kỹ thuật), nhờ đó mà

khi cần cấu tạo một thuật ngữ, từ "Hán Việt" bao giờ cũng có ưu thế

hơn hẳn từ "thuần Việt", tuy có một thời, nhân danh tính "đại

chúng", người ta đã thay những thuật ngữ như khủng long hay

nhược điểm bằng những thuật ngữ như thằn lằn kinh khủng

[6]

hay điểm yếu (đến bây giờ thuật ngữ sau lại bị thay nhầm bằng yếu

điểm, vốn có nghĩa khác hẳn). Hồi ấy, người ta còn yêu cầu đặt thuật ngữ

khoa học làm sao mỗi người chỉ cần biết đọc chữ quốc ngữ là hiểu ngay được nội

dung. Phải chi có thể làm được như vậy, thì có lẽ toàn dân ngay từ sáu bảy tuổi

đã không còn phải đi học nữa, vì đã hiểu được đủ thứ khái niệm như nguyên

tử, điện tử. lượng tử, tích phân, vi phân, v.v. sau khi những từ Hán-Việt

được chuyển thành từ "thuần Việt".

"thuần Việt" dễ hiểu thật, nhưng đó chính là nhược

điểm lớn nhất của nó, vì khi một thuật ngữ quá dễ hiểu, thì cách hiểu "quá

dễ" ấy có rất nhiều xác suất là lối "vọng văn sinh nghĩa" – tức

là cứ nhìn chữ mà đoán mò ra nghĩa, cho nên có thể sai hoàn toàn. Trong nhiều ngành, trên thực tế đã có hàng

ngàn thuật ngữ được hiểu như thế, chẳng hạn như tình thái, hàm nghĩa, ngữ

dụng, sở chỉ, v.v. là những thuật ngữ có vẻ dễ hiểu đến nỗi ai cũng cho là mình hiểu rồi, cho nên không thấy

cần đọc sách nữa.

Chính

tính chất trừu tượng, khó hiểu (?) của thuật ngữ Hán-Việt tránh được cho ta cái

hiểm họa ấy.

b. Về

phương diện ngữ nghĩa, hầu như ai cũng đã thấy từ lâu rằng phần lớn các từ Hán

Việt đều có một sắc thái ngữ nghĩa (hay tu từ) khiến cho nó khác một cách khá

rõ với các từ thuần Việt dường như

đồng nghĩa với nó. Ðó là sắc thái "trang trọng", hay "thi

vị", hay "cổ kính", hay "bác học", hay "mờ

ảo"của các từ Hán-Việt. Ðiều đáng ngạc nhiên là lẽ ra cái sắc thái đặc thù

ấy phải cho thấy ngay rằng những từ ấy đã trở thành những từ

"thuầnViệt" từ lâu, chính vì trong tiếng Hán nó không hề có, thì

ngược lại nó lại được dùng như một cái cớ để bài bác và để tìm đủ cách loại

trừ.

Trong

tiếng Hán, nữ chỉ có nghĩa là "gái", phụ nữ chỉ là

"đàn bà", trượng phu là "đàn ông" (hay

"chồng"), hoa đăng chỉ là "đèn hoa/bông", sơn

động chỉ là "hang núi", lam sơn chỉ là "núi

xanh", tử sĩ chỉ là "quân lính chết", mãnh hổ chỉ

là "con cọp mạnh", tràng kỷ chỉ là "cái ghế dài", lôi

chỉlà "mưa giông", phong ba chỉ là "sóng

gió", hài chỉ là "giày"[7]

Sở dĩ khi chuyển sang tiếng

Việt những từ ngữ này có được cái sắc thái "thi vị". "cổ

kính" hay "bác học" và cái sức mạnh tu từ của nó chính vì nó đối

lập với những từ ngữ "thuần Việt" (hay "nôm na"), và đó

chính là nguyên nhân làm cho nó có được cái sắc thái ngữ nghĩa hay tu từ mà nó

vốn không có trong tiếng Hán, và cái sắc thái mới ấy cũng chính là bằng chứng

hoàn toàn chắc chắn cho thấy rằng nó đã là một bộ phận hữu cơ của hệ thống từ

vựng của tiếng Việt, hay nói gọn lại, nó đã hoàn toàn trở thành những từ ngữ

của tiếng Việt, tức những từ ngữ "thuần Việt".

Chính

cái phong vị riêng (trang trọng, bác học, v.v.) của các từ ngữ Hán-Việt đã cám

dỗ một số người làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng sính dùng loại từ

ngữ này. Ðáng lẽ nói "bàn nhanh" thì người ta thích nói "hội

ý" hơn; đáng lẽ nói "nói chuyện phiếm" thì người ta thích nói

"mạn đàm" hơn, đáng lẽ nói "đi thăm" hay "đi xem"

thì người ta thích nói "tham quan" hơn, v.v.

Trước

tình hình đó, hồi kháng chiến chống Pháp chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy cần nhắc

nhở cán bộ trong cuốn Sửa đổi lối làm việc (dưới bút danh XYZ) là nên

nói năng với quần chúng một cách giản dị hơn, dễ hiểu hơn, bình dân hơn, đừng

dùng những từ ngữ quá trang trọng, quá bác học mà thành ra khó hiểu. Nói tóm

lại, phải dùng từ ngữ sao cho thích hợp với quần chúng.

Về sau,

những lời dặn dò chí lý ấy dần dần bị hiểu sai thành một chủ trương thanh lọc

từ ngữ ngoại lai, và người ta hè nhau tìm cách thay thế những từ Hán-Việt nằng

những từ "thuần Việt", nghĩa là những từ ngoại lai khác, gốc Thái, Mã

Lai, Môn-Khmer, Ấn độ, v.v. trong khi xây dựng thuật gốc Mã Lai, gốc Chàm, gốc

Ấn, v,v., trong đó có cả những thuật ngữ khoa học và kỹ thuật.

Người

ta tưởng làm như vậy là bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, trong khi đó chính

là làm cho tiếng Việt nghèo đi, và thay những cách nói đúng đắn, hay ho và

thích hợp với tình huống, với ngôn cảnh hay văn cảnh bằng những cách nói ngô

ngọng, lạc lỏng, thậm chí vô lễ và man rợ. Nếu gọi con gái bạn mình bằng quý

nữ chẳng hạn là lố lăng, thì gọi một người đàn bà bằng đồng chí

gái hay y tá gái cũng lố lăng không kém. Thủ tướng

gái không bằng nữ thủ tướng. nhưng đầy tớ gái lại

hơn nữ đầy tớ. Ngài Tổng thống và vợ không bằng Ngài

tổng thống và phu nhân, nhưng thằng Út nhà tôi

phu nhân lại không bằng Thằng Út nhà tôi và vợ nó. Nói

chung những sự kết hợp không tương thích đều cho những kết quả xấu.

Gần đây

ta thấy xuất hiện những từ ngữ kỳ quặc mà lại hoàn toàn thừa, nhưng được những

người sính chữ "sành điệu" hoan nghênh, chẳng hạn như cụm từ chí

ít mà theo gương một vài nhân vật thời thượng người ta ưa dùng thay cho ít

nhất, ít ra hay tối thiểu. Từ tổ này vừa lai

căng vừa sai trái. Trong tiếng Hán cũng như trong tiếng Việt, chí không

bao giờ có ý nghĩa "cực cấp tương đối" (superlatif relatif), thường

được diễn đạt bằng hơn cả, nhất hay

tối. Nó chỉ có thể có nghĩa "cực cấp tuyệt đối" (superlatif

absolu), tức là cái nghĩa thường được diễn đạt bằng rất, lắm, như

trong chí phải, chí lý, chí tôn, chí hiếu, chí công, chí minh.


[1] Về sau từ vùng

biển lại bị thay bằng lãnh hải

[2] Ngày trước, thứ tên có châm lửa dùng để bắn

vào những mục tiêu có thể bốc cháy được gọi là hoả hổ . Gía để dành tên

lửa để dịch thuật ngữ này thì thích hợp hơn nhiều so với cách dùng tên lửa để dịch

missile hay fusée , vì thứ "đạn" này chẳng giống mũi tên

chút nào.

[3] Ðể chứng minh rằng

tiếng Việt đủ giàu để tự cung cấp những thuật ngữ cần thiết, có người đã đề

nghị thay "Ðại hội Phụ nữ toàn quốc" bằng "Buổi sum họp lớn của đàn bà cả nước" và ở

một cuộc hội thảo năm 1979 có người đề nghị dịch các thuật ngữ chỉ tâm bệnh

tính dục như zoophily, gerontophily, necrophily, v.v. bằng những

thuật ngữ bắt đầu bằng loạn dâm như loạn dâm con vật, loạn dâm người già, loạn dâm xác chết v.v. thay

cho các thuật ngữ cũ như ái thú, ái lão, ái thi, v.v.

[4] Dĩ nhiên các thuật

ngữ này đều phải hiểu theo một nghĩa có tính chất ước định chứ không phải theo

nghĩa đen.

[5] Thí dụ của Nguyễn

Tài Cẩn (1965)

[6] Ðây là một lỗi ngữ

pháp rất nặng : kinh khủng, một định ngữ trang trí, không thể kết hợp với thằng

lằn, nhất là trong một thuật ngữ, vốn chỉ có thể chấp nhận một định ngữ hạn

định (phân loại) cf. Cao Xuân Hạo. Cấu trúc của Danh ngữ. Tiếng Việt, Mấy

vấn đề… (1998)

[7] Những từ

"Hán-Việt" không có một tử "thuần Việt" tương phản với nó

làm thành một cặp đâiệp thức (doublet),

như đầu, hiểu, đông, tây, nam, bắc, v.v. thì không có những sắc

thái tu từ này

Ðăng lần đầu trong Kiến thức ngày nay số 118

năm 1993

 
© talawas 2026