trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
21.1.2003
Lê Quỳnh
Hà nội trong mắt người nước ngoài
 

Lê Quỳnh ̣(LQ): Hà Nội có một vị trí đặc biệt đối với người Việt Nam. Vậy còn người nước ngoài nhìn Hà Nội như thế nào? Lê Quỳnh đã tiếp xúc với một số nhà nghiên cứu, nhà báo nước ngoài đã từng sống, từng viết về Hà Nội. Cuộc trò chuyện hi vọng là bức tranh nhỏ vẽ lại ấn tượng của một số nhà nghiên cứu nước ngoài về những thay đổi trong cuộc sống văn hóa tại Hà Nội những năm gần đây. Những thay đổi, những vấn đề của Hà Nội phần nàó cũng phản ánh những vấn đề của Việt Nam ngày nay.

Dana Sachs là một nhà văn nữ người Mỹ từng sống tại Hà Nội nhiều năm. Bà đã dịch nhiều truyện ngắn Việt Nam sang tiếng Anh và viết một quyển sách có tên The House on a Dream Street: Memoir of an American woman in Hanoi (Ngôi nhà trên phố mơ: Hồi kí của một phụ nữ Mỹ sống tại Hà Nội). Bà Dana Sachs kể lại cảm giác lần đầu tiên tới Hà Nội năm 1990

Dana Sachs: Lần đầu tiên khi tôi tới Hà Nội năm 1990, đang là mùa đông. Trời lúc đó rất u ám và hơi nặng nề. Rất ít cửa hàng, và người Hà Nội cứ hay ngắm nghía người nước ngoài mà không nói chuyện gì cả. Nói chung là cảm giác hơi chán. Thế nhưng khi tôi sống lâu hơn tại Hà Nội, thì cảm giác không còn giống như lúc đầu nữa. Bởi vì thành phố thay đổi rất nhanh và con người cũng thân thiện hơn. Tôi thích đi vào những ngôi làng xung quanh Hà Nội, có gì đó thanh bình và cổ kính. Tôi nhớ một lần nhìn thấy người phụ nữ gánh một quang tàu phớ đi trên đường làng. Với một người phương Tây, cảm giác lúc đó như tách khỏi cuộc sống bận rộn. Tôi có thể ngồi xuống và thưởng thức bát tàu phớ mà bà ấy vừa làm. Đó là cảm giác rất đặc biệt với một người vốn chỉ quen với đồ hộp mua trong cửa hàng mà thôi.

LQ: Đến năm 1993, một người Mỹ khác có mặt tại Việt Nam. Ông Jason Gibbs là một người rất yêu âm nhạc Việt Nam và đã có nhiều bài nghiên cứu về nền tân nhạc Việt Nam đầu thế kỉ 20

Jason Gibbs: Cảm giác đầu tiên là khi bước xuống sân bay, thấy nhiều người có vẻ như là lính thì thấy rất lạ vì chắc chắn là đi vào một nước cộng sả̉n rồi. Khi đi vào đường thì thấy giao thông rất là lạ so với nước Mỹ. Người Việt Nam rất tò mò, muốn quen với người nước ngoài. Tôi cố gắng trao đổi nhưng lúc đó chưa nói được nhiều. Dù vậy, cũng vui lắm.

LQ: Nếu như đó là những ấn tượng đầu tiên về cuộc sống hàng ngày ở Hà Nội đầu thập niên 90, thì có một người Na Uy đến Hà Nội với mục đích nghiên cứu về hội họa ở đây. Cô Anne Kristine Naess vừa hoàn thành luận án thạc sĩ nghiên cứu hội họa Hà Nội những năm 90

Anne Kristine Naess: Ở Hà Nội có nhiều họa sĩ quá. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy con số này rất cao, và số tranh mà họ vẽ cũng rất nhiều. Tại châu Âu, có lẽ mật độ sản xuất thấp hơn tại Hà Nội và sự quan tâm tới nghệ thuật cũng có phần khác. Dĩ nhiên có nhiều họa sĩ ở Hà Nội một phần vì ở đây có những trường mỹ thuật tốt. Nhưng phần khác, cũng bắt nguồn từ sự quan tâm của các gallery nước ngoài, từ Pháp, Hồng Kông hay Singapore. Họ gửi người đến Việt Nam tìm tranh, và giá tranh tăng vọt. Có lẽ giai đoạn cuối thập niên 80 đầu 90 là thời kì bùng nổ nhất và tôi nghe kể có những họa sĩ vẽ nhiều tới mức tranh của họ phải xếp tạm trong mảnh sân sau nhà bởi vì sau này tình hình kinh tế bên ngoài không tươi sáng như trước khiến các họa sĩ khó bán tranh hơn. Và đây cũng là một điều đặc biệt trong hội họa Việt Nam vì khách hàng chính của các họa sĩ Việt Nam là người nước ngoài. Họ vẽ cho thị trường nước ngoài bởi thực tế rất ít người Việt Nam mua tranh, mà các họa sĩ thì vẫn phải kiếm sống. Tôi nghĩ sau này nếu các bảo tàng Việt Nam muốn dựng lại không khí hội họa trong nước thập niên 80, 90 thì sẽ rất khó bởi vì đa số các tác phẩm giá trị đều đã bán ra nước ngoài.

LQ: Đây cũng là suy nghĩ mà bà Dana Sachs chia sẻ

Dana Sachs: Tôi nghĩ có hai dạng hội họa tại đây. Một loại dường như dành riêng cho thị trường du lịch, với những motif công thức về Việt Nam như đứa trẻ chăn trâu, cô gái mặc áo dài. Nhưng cũng có một thế hệ họa sĩ trẻ muốn đem lại những điều mới cho hội họa Việt Nam.

LQ: Theo cô Anne Kristine Naess thì làm một họa sĩ trẻ ở Hà Nội không phải là một điều dễ dàng. Một vấn đề chủ yếu trong luận án của Kristinne là việc hình thành các mạng lưới quan hệ trong thế giới nghệ thuật tại Hà Nội trong thập niên 90

Anne Kristine Naess: Tôi thấy là khi các gallery nước ngoài tới Hà Nội mua tranh, họ thường dựa vào một số mạng lưới quan hệ nhất định. Điều này cũng có lý của nó khi mà người nước ngoài bước vào một môi trường xa lạ, sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu có ai đó đưa sẵn cho họ một danh sách các nghệ sĩ nổi bật. Mặt khác, nếu người họa sĩ không thuộc các mạng lưới quen biết này, rất khó cho anh ta được biết tới trừ phi anh ta thật xuất sắc. Từ khoảng 7 năm qua, thì cơn sốt hội họa đã giảm nhiêṭ tại Hà Nội, có thể vì tác phẩm của họa sĩ Việt Nam không còn đủ lạ đối với người phương Tây nữa, và tình hình kinh tế gần đây cũng không còn dễ dàng, nên tôi có cảm giác các gallery tại Hà Nội cũng không còn mạo hiểm giới thiệu nhiều họa sĩ chưa được biết tới. Trong bối cảnh đó, thì các mối quan hệ càng trở thành trọng tâm trong môi trường hội họa Hà Nội.

LQ: Hà Nội thập niên 90 tới nay đã thay đổi rất nhiều. Nhưng dĩ nhiên khi nói tới Hà Nội, người ta vẫn phải nhắc đến truyền thống nghìn năm văn vật của Hà Nội. Chúng ta đã quen với quan niệm nói rằng Hà Nội sắp tròn 1000 năm tuổi. Tuy vậy, câu hỏi Hà Nội bao nhiêu tuổi vẫn là một chủ đề tranh luận đối với một số nhà nghiên cứu nước ngoài. Keith Taylor là giáo sư dạy tại đại học Cornell, Hoa Kỳ. Với quyển sách The Birth of Vietnam (Sự khai sinh Việt Nam) xuất bản năm 1983, giáo sư Keith Taylor được xem là một trong những chuyên gia nước ngoài hàng đầu về Việt Nam. Và trong mười năm qua, ông nói ông đã có nhiều thay đổi trong suy nghĩ của mình:

Keith Taylor: Vấn đề đó [ý kiến khẳng định Hà Nội sắp 1000 năm tuổi] nếu người ta muốn tin như thế thì được. Nhưng về mặt nghiên cứu thì là vấn đề khác. Theo tôi, lịch sử thì hoàn toàn khác. Thành phố mà hiện nay chúng ta gọi là Hà Nội thì trước kia là Thăng Long. Nhưng nếu cả hai có phải là cùng một thành phố (same city) hay không thì đó là vấn đề, vì từ một thế hệ đến thế hệ sau, một thời kì đến thời kì sau, tình hình thay đổi rất nhiều. Hà Nội như một thành phố phải chờ đến thế kỉ 19 mới có. Trước kia Thăng Long là thành phố của vua, có vua, Hà Nội thì chưa bao giờ có vua. Hà Nội là thành phố mà sau khi vua đi Huế đầu thế kỉ 19 mới có. Muốn nói thế thì không chỉ thế kỉ 11 mà từ thế kỉ thứ 7, đã có thành phố. Năm 1010 là năm mà Lý Công Uẩn xây dựng một thành phố mới ở đấy gọi là Thăng Long. Nhưng vì sao cái đó là Hà Nội mà thành phố Đại La của Cao Biền không phải là Hà Nội thì tôi không hiểu. Nếu nói Thăng Long là Hà Nội thì Đại La cũng là Hà Nội.

LQ: Giáo sư William Logan, thuộc đại học Deakin, Australia, là tác giả quyển sách Hanoi: A Biography of a City (Hà Nội: Tiểu sử một thành phố) xuất bản năm 2000. Ông có một quan điểm có lẽ gần gũi hơn:

William Logan: Điều này tùy thuộc bạn lấy điểm bắt đầu từ đâu. Nhưng nếu bạn bắt đầu bằng sự tạo dựng một kinh đô mà vẫn còn tồn tại cho tới cuối thế kỉ 19 thì tôi nghĩ bạn sẽ lấy năm 1010 làm điểm bắt đầu. Đây là quan điểm chính thức của chính phủ Việt Nam và với tôi thì, Thăng Long và Hà Nội cũng là một.

LQ: Trước câu hỏi này, giáo sư Mandy Thomas, thuộc đại học quốc gia Úc và cũng là người viết nhiều về Hà Nội, cho rằng câu hỏi Hà Nội bao nhiêu tuổi không hẳn đã quan trọng bằng việc chính người Hà Nội xem vấn đề lịch sử của thành phố như thế nào:

Mandy Thomas: Keith Taylor là một sử gia về Việt Nam còn William Logan lại quan tâm tới những khía cạnh kiến trúc tạo nên Hà Nội. Còn tôi thì để ý những diễn biến của một thành phố hiện đại. Một phần rất lớn dân số Việt Nam đã ra đời trong vòng 25 năm qua, tức là dân số rất trẻ. Tôi nghĩ đối với đa số thanh niên đang sống tại Hà Nội, lịch sử chỉ là làn gió bao quanh nhưng không có nhiều ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày của họ. Vì thế, các vấn đề lịch sử về Hà Nội có thể là mối bận tâm của các học giả nhưng không nhất thiết quan trọng với những cư dân của chính Hà Nội. Chính suy nghĩ này trở thành vấn đề khi người dân phá bỏ những kiến trúc cũ để xây nhà mới mà không có cảm giác mất mát. Vì thế, câu hỏi Hà Nội bao nhiêu tuổi, hay những vấn đề lịch sử liên quan ngày càng được dùng đến kêu gọi bảo tồn thành phố nhưng nó cũng tạo nên mâu thuẫn. Người Hà Nội thì muốn có cả hai thứ: họ vừa muốn truyền thống được bảo tồn, giữ những con phố cổ dễ thương nhưng đồng thời cũng bị ảnh hưởng bởi những hình ảnh hiện đại như siêu thị, nhà cao tầng. Vì thế, làm sao vừa bảo tồn sự quyến rũ của thành phố cũng như biến nó thành nơi sống và làm việc của cư dân sẽ là thử thách đặc biệt cho Hà Nội trong khoảng một thập niên tới đây.

LQ: Nếu đang nói về tương lai thì bà nghĩ gì về lớp trí thức trẻ trưởng thành tại Hà Nội?

Mandy Thomas: Tôi nghĩ có một lứa trí thức mới trong nghệ thuật, văn hóa mà tiếng nói của họ bắt đầu xuất hiện và được lắng nghe tại Hà Nội. Hiện nay, nhiều người trẻ tích cực thể nghiệm hơn. Họ tiếp xúc nhiều ảnh hưởng văn hóa và cố gắng đưa các xu hướng toàn cầu vào nghệ thuật Việt Nam. Về mặt nào đó, họ được tự do bởi vì họ có thể để nhiều nguồn ảnh hưởng thể hiện trên tác phẩm của họ. Nhưng mặt khác, sự gò mình vào khuôn phép vẫn làm một phần của văn hóa Việt Nam bởi vì chính trị có ảnh hưởng tới mọi mặt văn hóa. Phần nữa, hệ thống giáo dục cũng có đóng vai trò ảnh hưởng. Tôi nghĩ ở Việt Nam, thế hệ trẻ không được dạy đầu óc phê phán. Mà khi ta không có một nền văn hóa phê phán, thì người ta rất khó xem trọng sự khác biệt hay cách nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường. Ở Hà Nội hay Việt Nam cũng vậy, rất khó tìm thấy một cá nhân thật sự riêng và khác biệt có lẽ vì sự khác biệt không phải là giá trị được đa số đánh giá cao. Tại Việt Nam, người ta đánh giá cao những gì phục vụ được cho nhà nước, quốc gia, những gì được coi là quan trọng cho các giá trị văn hóa Việt Nam, thí dụ như gia đình, làng xã.

London 12/2002

 
© talawas 2026