Nguyễn Trương Quý
Hà Nội vui sao
Những cửa đầu ô
Tíu tít gánh gồng
Đây Ô Chợ Dừa
Kia Ô Cầu Dền
Làn áo xanh nâu
HN tươi thắm
Sống vui phố hè
Bồi hồi chàng trai
Những đôi mắt nào
Quanh co chen chân rộn ràng Đồng Xuân
Nguyễn Đình Thi
Nói không quá cường điệu, HN là hình ảnh của một đời sống chợ búa. Chợ lớn, từ thời là kinh đô của các triều đại phong kiến. Thành-thị, dù yếu tố “thành” có thể đổi khác, phần “thị” vẫn sống bền và tự xoay xoả, sinh sôi phát triển. Bảy chục phố từng mang tên Hàng cho thấy phố chợ là một đặc trưng của HN xưa. Dù tên gọi chính thức của chính quyền có biến đổi, dù có lúc không còn là kinh kỳ, thì cái tên Kẻ Chợ vẫn được dân gian dùng. Đọc lại hồi ký và tạp văn của Tô Hoài, thấy thời những năm 1920, dân vùng Bưởi vẫn gọi đất nội thành (chắc là chỉ khu 36 phố phường) bằng tên ấy. Nghĩa là chỉ cách có chừng 5-6km thì đã thấy xa ngái lắm, vì lối sống và quang cảnh sinh hoạt khác biệt. Một thế kỷ đi qua, vùng đất ấy lại nhập vào nội đô và đô thị hoá chóng mặt. Chỉ khoảng 15 năm trước, lũ học trò đi học thêm nhà ông giáo ở dốc trên đường Bưởi vào làng Vĩnh Phúc đã thấy heo hút, bãi đất cỏ mọc chen nhà tập thể tạm, đây đó những vườn nhà xen lẫn ruộng màu, thậm chí còn có ruộng lúa. Ngôi nhà của bố mẹ tôi mua khi rời khu tập thể cất trên một thửa ruộng. Các cụ nói, kể cũng tiếc, ngày ấy mới ký Hiệp định Paris, nghĩa là im bom đạn, không dám mua gần đường vì lẫn hố bom, lại lắm mồ mả, vả lại quen như kiểu làng mạc thôn xóm quần tụ, mua ở giữa làng, có láng giềng sẵn… thế mà sau người ta xây ầm ầm, chả làm sao, mà ở mặt đường lại làm ăn khấm khá, mình giờ đây hoá ra tít tịt trong ngõ ngách, dẫu đất rộng vẫn cứ kém giá trị. Nói chung, vẫn không buôn bán gì được, và không có lấy ưu thế “nhất cận thị, nhị cận giang”. Chung quy vẫn là chuyện cái chợ. Nhà mặt chợ, nghĩa là có đồng ra đồng vào, tiền tươi thóc thật. Không bán bung thì chỉ cần cho thuê cũng đã tươm. Hai lần cháy chợ Đồng Xuân là những ngày tháng “vàng son” của các nhà mặt phố ở 3 phường: Cửa Đông, Đồng Xuân và Hàng Mã. Dân buôn có kêu than thiệt hại nhưng họ vẫn sẵn lòng bỏ ra tháng tháng dăm triệu thuê lấy mấy mét vuông chợ vải Phùng Hưng, nghĩa là ta phải hiểu, đất phố chợ không khác gì bờ xôi ruộng mật, lãi lời đến chóng mặt.
Sao HN nhiều chợ thế, chợ to chợ nhỏ, chợ xanh chợ cóc, chợ đổi vai chợ bắc qua… Dễ thấy đó là nguồn sống của cả triệu người không chỉ nội thành mà còn cả dân các huyện giáp Thủ đô của 5 tỉnh lân cận. Có vẻ nhìn thoáng thì thấy lộn xộn và tự phát nhưng nếu ta không sống kiểu quá “đồ hộp” hay “tủ kính” thì ta mới thấy, nó có một trật tự riêng và sự co giãn tuyệt vời với đời sống, mà không siêu thị hay trung tâm thương mại nào đáp ứng cho hết.
Thử làm một bài toán. Nơi tôi ở là một khu dân cư có thể gọi là đông, bị cách với đường lớn bởi một đường tàu. Muốn sang đường lại phải đi một đoạn nữa mới qua được dải phân cách. Mà từ đó đến cái chợ theo quy hoạch gần nhất là 2km. Bà già nội trợ thấy ngại lắm, xách làn đi bộ mua mớ rau về đến nhà thì chắc hết hơi mà cơm chưa xong. Thế thì lộn lại vậy. Khu này có 7 trụ sở cơ quan xí nghiệp, nghĩa là có từng ấy khu tập thể cỡ nhỏ, cùng với khu dân cư làng xóm từ thuở phố chưa có tên. Mô hình trước là 3 tổ dân phố, nay đông quá, tách thành 10 tổ. Cơ cấu mỗi tổ có khoảng 50-100 hộ, tức là “cụm dân cư số 4” có 4000-5000 nhân khẩu, kể thêm 2000 người ở trọ là sinh viên, công nhân, người lao động thời vụ, ô sin, cũng đáng nể đấy chứ. Vậy là địa phương và nhân dân cùng làm, một chợ nhỏ được họp ở giữa khu, quanh một ngã ba, lấy xuất phát điểm là một thùng rác dạng container. Thật ra cái chợ đã manh nha từ lâu, từ cái cửa hàng gạo của công ty lương thực ngày xưa, rồi cái canteen của một cơ quan. Đã rất quen với việc có đông người thời xếp hàng mua gạo, nên dần dà cái chợ được hình thành như thế, và dân cư thấy cũng tiện, vả chăng, chính quyền sở tại cũng trên cơ sở hợp pháp, có thu thuế, có đội trật tự an ninh, có nơi thông báo những chính sách… phổ cập hơn là nhà văn hoá hay trụ sở uỷ ban thường cửa đóng then cài luôn. Bữa ăn tươi hơn, bà nội trợ nắm vững tin tức trước cả khi bản tin Thời sự tivi loan báo.
Vậy chợ to làm gì? Siêu thị chẳng lẽ mọc lên để trưng bày là chính. Có thể nhiều người cho là dân HN lắm chuyện, ăn uống thế nào chẳng xong, mà lại ky bo thế, không mấy khi đưa nhau đi ăn hiệu hay là sắm sanh cuối tuần. Lúc nào cũng chỉ chăm chăm vào ăn mặc mà không có biết chơi. Cuối tuần y như rằng các ông anh bà chị lại kéo đàn kéo lũ về nhà ông bà, trẻ con thì hò hét loạn xạ với tranh giành xem phim siêu nhân, các bà rầm rập đi chợ rồi hí húi pha chế, các ông thì ngồi bình luận thời sự, ăn uống no say rồi lơ mơ qua chiều mát lại giải tán. Ông bà già lại thấy vui và lại mong đến cuối tuần tới! Nhà ông bà gần chợ hay thật, ở chợ nhà con đắt rẻ thế này, ở đây hàng quà chán thế… Chợ lớn chỉ còn làm chức năng bán sỉ và đổ hàng đi các tỉnh, ngoài ra bán những đồ đặc chủng của mình: vịt quay chợ Hôm, hải sản chợ Hàng Da,.. các hàng vải hay đồ gia dụng đương nhiên là có những dãy phố đảm trách. Siêu thị khuyếch trương mãi khía cạnh rau sạch thịt sạch mà vẫn chỉ có ngoại kiều với dân thích “sống Tây” tiếp cận. Tất nhiên là người ta cũng không tiếc chi phí thêm cho chuyện “sạch” kia nhưng hình như các bà các cô vẫn thích nâng lên đặt xuống hay là muốn thể hiện sự đảm lược của mình trong việc chọn được miếng thăn nõn tươi ngon? Siêu thị vẫn mới chỉ tranh được việc bán những hàng gia dụng đặc biệt hoặc đồ mẫu mã đặc biệt, mà thường thì hay mua khi mừng tân gia, khi mới lấy vợ, khi có khách quý sắp đến nhà… Siêu thị vẫn không thắng nổi tâm lý so sánh và tằn tiện của người dân, họ so sánh và nhận thức rằng, mặt hàng siêu thị chỉ có thể hơn nước mạ, nhân viên không hơn những kiểm soát viên trật tự, đi chợ cũng có khi mua của con bé xinh xinh ngồi cạnh cột điện bán hàng ngoan lắm hay đừng mua của mụ méo mồm cân điêu. Ra khỏi siêu thị là họ không còn cảm giác liên hệ với nơi bán, vì mặt hàng giống nhau, người bán cũng đồng phục và không phải chào hỏi gì, cùng lắm có mẩu giấy bảo hành, tờ hoá đơn.
Thế các quy hoạch có tính đến xu hướng phát triển không? Mạng lưới chợ và dịch vụ thương mại “rộng khắp” theo nhu cầu dân sinh có ăn khớp với ý đồ vĩ mô? Đồ án quy hoạch quy mô tiểu khu dân cư 30 hecta, các sinh viên thường xếp khu dịch vụ và thương mại ở tầng trệt của một toà nhà cao tầng, kinh doanh ắt phải “đóng, mở cửa kính” hay là “come in, please” chứ không thể có một chợ Mơ, chợ Đuổi ở đây được. Đồ án quy hoạch đô thị, ta hay quan tâm đến yếu tố văn hoá và khai thác cấu trúc hành chính phân tầng hoặc là hay nén những cụm dịch vụ thành các block chứ không lường trước chuyện làm sao những bà con nông dân dù đô thị hoá về địa lý nhưng tâm lý “mua đầu chợ bán cuối chợ” vẫn duy trì, nay bị gò vào mua bán theo kiểu công nghiệp dịch vụ, rút cục lại bung ra vỉa hè. Các đô thị, tất nhiên cái lõi luôn có một tầng lớp thị dân và công chức tiêu thụ theo quy chuẩn, nhưng đến vòng ngoài là mô hình pha trộn và hình thái mua bán chợ cóc, chợ xanh thắng thế, khi hạ tầng cơ sở và cơ cấu nghề nghiệp dân cư loang lổ da báo.
Chẳng hạn, ta ca ngợi vẻ đẹp của những cô gánh hàng hoa đi vào thành phố, cô có thể đạp xe, chở một thúng vàng rực hoa cúc hay trắng tinh loa kèn, ta thích gọi cô dừng lại và mua của cô cả mấy chục bông, dù cô không có giấy gói và phụ tùng dây nhợ như dân bán hoa ở quầy trong cửa hàng, nhưng hoa rất rẻ và thái độ thì cũng hiền lành như chồng hoa mới cắt, chứ không kênh kiệu hoặc hét giá chói tai như cô bán đầu chợ Kim Liên. Ấy, đứng ở đường hoặc vỉa hè thế này, ta đã vi phạm nghị định 36/CP và 51/CP rồi, rồi cô gái bị lập biên bản, xe hoa bị giữ, tối nay lấy gì mà mua thịt mua rau đây…
Hiện các dự án thay đổi chức năng các khu chợ gặp phải vô số khó khăn. Chợ Hôm chuyển mình thành tổ hợp dịch vụ, có áo cưới ảnh viện, có thẩm mỹ Ê va, có cà phê thời trang… thì buộc lòng vịt quay, thuỷ sản, rau Đà Lạt phải dạt về chợ song sinh Đức Viên kế cận. Cả tầng 2-3 vắng vẻ và thưa thớt, không mấy ai lặn lội lên tầng lầu để mua sắm những thứ có thể mua ngay mặt phố Trần Xuân Soạn bên kia đường. Chợ Mơ nghe đâu đã có luận chứng hình thành một tổ hợp thương mại đa chức năng, các hộ kinh doanh trong chợ và các nhà bán lẻ quanh ngã tư Trung Hiền nháo nhác đi tìm “cửa” để đặt chỗ ngay từ bây giờ. Hiện tại, chợ này vẫn là nơi tập kết rau xanh và gà qué từ ngoại thành vào ca trước 3h sáng (giống chợ Long Biên nhưng chợ kia là đầu mối lớn nhất miền Bắc). Sẽ thay đổi thế nào để việc phân phối này không phải là thứ chẳng dính dáng đến trung tâm thương mại kia, mạnh ai nấy chạy. Nhưng hãy còn lâu lắm, cái việc dẹp chợ nâng lên hạ xuống cũng như kiểu công an đi khỏi hàng phố ùa ra sắp đặt lại. Tháng trước, mới chỉ là kiến nghị thôi, các hàng quà rong chỉ được bán đến 7h sáng là nghỉ. Vì các hàng này làm mất mỹ quan, chỉ toàn tận dụng vỉa hè, sắp Xi Gêm đến nơi rồi, cũng phải thông thoáng thế nào… Nhưng nghĩ thấy cũng sợ, mình đi làm lúc 8h, lại hay ăn sáng muộn, chắc phải vào restaurant quá. Nói vui chứ vẫn có thể điều chỉnh, nhưng các nhà văn mình lại toàn nói sai chính sách, toàn ca ngợi thú ăn hàng quà rong không à. Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Băng Sơn, có viết đấy chứ… Sách du lịch nào cũng kê ra vài hàng quà ở phố ấy phố nọ, mà nhiều hàng cũng đi lên từ vài mét vuông vỉa hè, hai đầu đòn gánh nuôi cả nhà ăn học…
Những ai đi chợ, hay là phải đi chợ? Chắc chắn các vị quan chức được miễn, miễn cho đến ngày vui thú điền viên. Nhưng họ lại có thể hoạch định chỗ nào có chợ và chỗ nào cấm. Đến hôm bà vợ bị ốm chẳng hạn, ô sin về quê, con cái vắng nhà, cụ mới lần đầu xách làn đi chợ và thấy chợ không phải là trung tâm thương mại hay cửa hàng tự chọn, mà là một thế giới chưa biết đến. Ta vẫn phải thấy rằng, chợ là nơi người lao động, người nghèo và dân ngoại tỉnh ngụ cư nhặt nhạnh đồng rau đồng cháo, nơi có thể cho phép chi tiêu vừa vặn với túi tiền eo hẹp. Ăn xin, trộm cắp, lừa đảo, rõ hơn chỗ nào khác. Nhưng chợ cũng là một nơi quen thuộc và xa xưa nhất của dân mình, nếu không nói là thân thương. Những cái tên chợ Chờ, chợ Sủi, chợ Đại Cống Thần nhắc nhở người xa xứ về một điểm hẹn thời thơ ấu theo mẹ lên tỉnh được ăn quà hay một định vị có tính phồn vinh của quê hương. Bóng dáng của chợ đầu làng, chợ huyện dưới cây đa to, quán nước chè, “dăm miếng cau khô, mấy lọ phẩm hồng”, mấy ông thợ nề đợi việc, ông thợ ngoã kiêm nghề kể chuyện, bà già hàng xén lắm điều… thật vẫn quen thuộc ở chợ HN. Có điều, đô thị của ta luôn luôn bị giằng co giữa mô hình tiểu khu cho công nhân viên chức hoặc phố lớn cho giới thượng lưu với các xóm ngõ làng phố lao động ngoài tiêu chuẩn thang bậc cơ cấu, nên chợ không có tính giao tiếp như nơi phát sinh ở nhà quê mà cũng không sao môđun hoá thành hệ thống dịch vụ dây chuyền. Chợ Hàng Da, chợ Âm Phủ 19-12 dẫu là chợ nhà giầu nhưng chắc gì dịch vụ đã đủ “văn minh” hay vệ sinh an toàn thực phẩm đảm bảo? Các anh giai Sài Gòn can tội đi chợ Hàng Da lúc 10h sáng hỏi xem hàng mà không mua, bị cô hàng xinh tươi xỉa xói “mới sáng ra đã ám quẻ” rồi lại còn bị đốt vía. “Anh ơi, mua gạo em đi. Gạo em gạo quê đấy”, ơ hay, gạo không trồng ở quê thì cày đường nhựa Thủ đô mà gieo chắc. Thì bao năm ăn gạo kho mốc theo sổ, nay thì tiêu chuẩn quê – “hương đồng gió nội” lại là một định tính đầy tốt đẹp. Chỉ ở chợ ta mới gặp những giao thoa của đời sống các nơi phong phú như thế.
Nên đi chợ đi, để khỏi sau này ta lại ngồi trong “Trung tâm thương mại Dừa – Coconut Commercial Center” (!?) mà cảm khái rằng ngày xưa nơi đây là chợ Dừa, Ô Chợ Dừa lừng danh mà ta chưa hề đến.
© 2003 talawas