 |
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
|
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
|
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
|
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
|
|
|
|
|
|
|
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
|
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
|
Lịch sử
2.11.2008
Trình Ánh Hồng
|
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
|
Lịch sử
2.11.2008
Trình Ánh Hồng
|
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
|
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
|
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
|
|
|
 |
|
24.2.2004
Thái Kim Lan
Góp ý với Ðỗ Xuân Phương
Tôi vui mừng được đọc bài của ông Ðỗ Xuân Phương (ÐXP), bài góp ý đầu tiên về nội dung của bài tiểu luận Trả lời câu hỏi: Khai Sáng là gì? của triết gia I. Kant.
ÐXP đã nêu lên một vài điểm so sánh giữa tư tưởng Khai sáng (KS) của Kant, Giác ngộ của Ðạo Phật và Ðạt Ðạo của Lão tử, và nêu lên điểm tương đồng giữa Kant và Cao Xuân Huy trong nhận định Khai sáng hay Chủ toàn đều dựa vào “việc dùng lý trí của chính mình và phát ngôn trong nhân cách của riêng mình”.
Về khái niệm chủ toàn của GS Cao Xuân Huy tôi chưa nắm vững dù đã được GS Nguyễn Huệ Chi cho tôi có cơ hội đọc được tác phẩm ghi lại những lời giảng của GS CXH, nhưng chưa có dịp đi sâu.
Tôi xin góp ý về một vài điểm tương đồng trong tư tưởng Khai sáng của Kant và Giác ngộ của Sakyamuni (Phật) nhất là trên quan điểm nhân bản.
Có thể nói tư tưởng trong KS và lời dạy phá vô minh của Phật đã gặp nhau ở điểm “con người”.
- Chúng ta biết KS đã được viết năm 1784, 3 năm sau tác phẩm Phê bình lý tính thuần túy (PBLTTT, Kritik der reinen Vernunft, 1781), có nghĩa là trong giai đoạn tư tưởng phê phán của Kant. Trong giai đoạn này Kant đã không còn bênh vực những lập luận chứng minh sự hiện hữu của thượng đế như trong thời tiền phê phán của ông. Trong PBLTTT Kant đã thành công trong việc phản bác tất cả những loại chứng minh sự hiện hữu của thượng đế trên lãnh vực siêu hình học (PBLLTT, trang 611 – 670) để đưa ý niệm này vào địa hạt của lòng tin (Glaube), mà ông phân biệt với tri thức (Wissen). Thành quả này có được nhờ sự phê phán và phân tích tri thức luận “chẻ” các khái niệm Tư Duy và Hiện Hữu (thường được dịch là “tồn tại”, Bùi Văn Nam Sơn dịch) minh bạch ra làm hai lãnh vực nội hàm và ngoại hàm. Trong PBLTTT thành quả của cuộc khảo sát khả năng tri thức của trí tuệ con người – gồm giác tính (Verstand) và lý tính (Vernunft) – cho thấy ý niệm thượng đế chỉ là một ý niệm điều hành, hướng dẫn (“heuristisch”) (có nghĩa là không có giá trí tổng quát thực tại) và thuộc về lòng tin trong lãnh vực đạo đức.
- Ðối với tư tưởng đương thời đây là một tác động “nghiền nát” tất cả siêu hình học cổ điển, như Mendelsohn đã chỉ trích Kant trong công việc phê phán những khái niệm siêu hình học “thượng đế”, “bất tử”, “tự do”. Nhưng với kết quả ấy “der Zermalmer der Metaphysik” (người nghiền nát nền siêu hình học) đã đem lại cho chủ thể hoàn toàn quyền tìm thấy chân lý bằng con đường nhận thức qua trí tuệ con người.
- Gần như tương đương, những nhà thần học duy thần thường cho Ðạo Phật là “vô thần” trong nghĩa không chấp nhận có một Thượng đế như là nguyên nhân tối cao, nguồn gốc sinh ra mọi thực thể, vì,-cũng như kết quả khảo nghiệm tri thức luận của Kant hơn hai mươi thế kỷ trước, – khái niệm thượng đế như một bản ngã trường tồn, bất di bất dịch và toàn hảo theo Sakyamuni trên bình diện tri thức luận bao hàm những nghịch lý với chính ý niệm ấy (theo kinh vô ngã tướng). Một ý niệm bao hàm nghịch lý không thể là một ý niệm toàn hảo, có thể gây ra vô minh khi chúng ta nương hoàn toàn vào nó để có được “chính kiến”, tri thức đúng thật, nấc thang đầu tiên mà con người bước lên trên đường đi đến giác ngộ. Ðức Phật cũng như Kant, không từ chối thượng đế như là ý niệm thần linh trên những lãnh vực khác hoặc là những vị thần trong cảnh giới khác với cảnh giới con người (theo Phật) hay là nhân vật được mặc khải như chúa Giê-su (Kant)
- Trong định nghiã “Khai Sáng” Kant đã giao trọn công cuộc khai sáng này hoàn toàn vào tay của con người, và chỉ có con người mới có thể tự đưa mình thoát ra khỏi tình trạng lệ thuộc, vị thành niên trên nhiều phương diện… Ðọc kỹ định nghĩa ta sẽ thấy hai yếu tố chủ đạo của toàn bài được Kant diễn tả trong nghĩa gấp đôi:
- tích cực như ông ÐXP đã nêu ra: trí tuệ của con người nên được vận dụng để vượt ra khỏi sự chỉ đạo ngoại lai và con người có thể quyết định chọn lựa cho mình con đường khai sáng với dũng khí của con người. Nghĩa tích cực này là hệ luận của nghĩa phê phán:
- tiêu cực trong định nghĩa “vị thành niên” là hiện tượng con người bị lệ thuộc người đỡ đầu vì KHÔNG vận dụng trí tuệ của mình một cách độc lập DO LỖI CỦA CON NGƯỜI gây ra. Cụm khái niệm “do lỗi con người gây ra” mang nặng tính phê phán và quan điểm của Kant trên lãnh vực tôn giáo. (Ðây là lý do tại sao tôi đã bổ túc thêm chữ “”lỗi” cho rõ nghĩa trong bài dịch nhuận sắc, talawas 18.02.04). Cụm từ “selbst verschuldet” chỉ rõ đây là môt “lỗi” mà con người chứ không ai khác hơn gây ra, không phải là một thứ “tội tổ tông” theo quan niệm Thiên chúa giáo cùng với những hệ luận giáo điều theo sau: phải được Chúa “rửa” sạch mới hết tội. Với định nghĩa “vị thành niên” là do “lỗi con người gây ra”, Kant xác định trước hết khả năng thoát ly của con người, nằm chính ở trí tuệ và ý chí của con người, nằm trong tay của con người chứ không phải trong tay thượng đế quyết định: vì con người làm lỗi thì con người có thể sửa lỗi. Từ đó khái niệm trưởng thành nằm trọn ở sự khai hoá con người để đạt chính kiến cho hành động. Con người như thế có quyền LỰA CHỌN xác định số phận của mình theo đúng với khả năng tư duy của mình. Cụm từ “phương châm” tiếng Ðức là “Wahlspruch”. “Wahlspruch” (ở đây là “Sapere Aude”: hãy có can đảm tự sử dụng trí tuệ của mình) thường được dùng trong những cuộc tranh cử, để cử tri lựa chọn sau khi đã nghe trình bày lý luận về các đường hướng hoạt động khác nhau. Trong trường hợp KS Kant sử dụng nó thoạt tiên vừa như một lời kêu gọi chọn lưạ đồng thời như một tiền đề cho sự triển khai khái niệm”sử dụng tự do công khai” trong đó con ngưòi phải dùng trí tuệ để quyết định con đường cho chính mình. Lựa chọn là khả năng tự do của con người khác với tùy thuộc theo định mệnh áp đặt lên con người. Từ đó khai sáng là chống lại tất cả những chính sách và lý thuyết ngu dân, hệ luận tiếp theo trong KS. Kant đã nêu rõ sự ngu dân của tinh thần giám hộ trong tôn giáo mà ông cho là tình trạng tệ hại nhất, làm tê liệt trí tuệ và lòng dũng cảm nhất. Trong lúc trình bày các tệ đoan Kant luôn luôn nhắc nhở con người phải tự thân khai hoá (sich bearbeiten, sich herausarbeiten = tự vận dụng, tự lao lực để vươn lên) trong những đoạn kế tiếp.
- Trong lời dạy của Ðức Phật có hai đoạn nói lên sự sử dụng trí tuệ độc lập như là điều kiện tiên quyết để con người có thể đạt được giác ngộ:
Trong đoạn giảng về “chính kiến” như bậc thang thứ nhất từ đó con người khởi hành đạt đến chân lý mà đức Phật gọi là ánh sáng bình minh vừa xuất hiện trên bầu trời vô minh:
“Này Kalama (bản tiếng Ðức Kalamer), không nên dựa vào điều nghe nói, không nên dựa theo những gì mà người này nhắc lại lời người đi trước, không dựa theo những lời đồn đãi, không nên dựa theo các văn bản truyền thống, không nên dựa vào những lý do lý trí và những chuỗi suy luận đơn thuần, những nhận xét bên ngoài, cũng không nên dựa theo những điểm trùng hợp với quan niệm và thắc mắc suy tư của mình, cũng không theo hiện tượng giả tạo bên ngoài của thực tại và không theo vì người ấy là đạo sư của mình! Này Kalama, chỉ khi nào ngươi tự nhận biết rằng, điều này hay điều nọ là xấu hay đáng vất bỏ, đã được các thức giả phán xét trách cứ và nếu sử dụng chúng chỉ đem đến bất hạnh và đau khổ, thì này Kamala, người sẽ tự mình chấm dứt tà kiến, bất hạnh và khổ đau”
(Kinh Tăng Chi Bộ, Quyển III, 65, bản Ðức ngữ của Nyanatiloka, Der Weg zur Erlösung, trang 55).
Nổi bật nhất và được truyền tụng hơn mấy nghìn năm là lời cuối cùng của Phật trước khi nhập diệt trước sự bi lụy của thị giả Ananda:
“ Này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa người khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ tựa.”
(Kinh Ðại Niết Bàn II, Digha-Nikaya 16, Thích Minh Châu dịch)
Ngọn đèn là trí tuệ của con người, chánh pháp là thành quả của trí tuệ nhà hiền triết hay của vị học giả theo Kant! Ta thấy còn đoạn nào “kant” hơn nữa trong nhận thức nhân bản đạo Phật, và hơn thế nữa trong thực hành…
Tính nhân bản trong đạo Phật thẩm thấm trong tất cả giáo lý giác ngộ như một “vị mặn của biển cả” – như Phật đã nói về tính nhất quán này trong lời dạy của Phật – và ÐXP nêu ra khi nói về vô minh – đều nằm trong định nghĩa gẫy gọn của Phật về con người là
một thực thể hơn “cái máy”, gồm thể xác (sắc) và tinh thần (Tưởng và Thức): khả năng “gây lỗi” và khả năng “diệt lỗi”:
“Trong tấm thân cao sáu trượng với Tưởng và Thức này đều bao hàm cả thế giới vạn vật, sự hình thành và cả sự chấm dứt thế giới cũng như bao gồm cả CHÁNH ÐẠO giải thoát chấm dứt luân hồi ”
(Tăng chi bộ kinh, A VI 43)
Từ định nghĩa đó, sức mạnh giác ngộ không thể lấy ở đâu khác hơn là sức mạnh tĩnh thức
của con người tự tìm lấy chân lý và khai phóng vô minh, như Ðỗ Xuân Phương đã
nhận định.
Kurt Schmidt đã nhận xét trong tiểu luận của ông Vài nét Phật học trong tư tưởng của Kant (Buddhistisches bei Kant, Thái Kim Lan dịch, tiểu luận trong “Leer ist die Welt”
của K. Schmidt, Nxb Chritiani, Konstanz): Kant đã không biết chi về lý thuyết Phật giáo,
vậy mà tư tưởng của ông đã rất gần với Ðức Phật, nhất là trên lãnh vực tri thức luận, đạo đức học và quan điểm tôn giáo.
Trên đây chỉ là một vài góp ý về tính nhân bản trong tiểu luận của Kant. Các khái niệm Khai sáng, Giác ngộ và Chủ toàn chưa được đề cập đến, mong có thể có dịp đi sâu hơn để thấy những dị biệt trong tương đồng.
*
Viết thêm: Bản dịch thứ 8 bài KS của I. Kant trên talawas, bản dịch của ông Phạm Minh Ngọc, có nhấn mạnh văn phong của Kant là văn phong của một lời hiệu triệu. Theo tôi tiểu luận Khai sáng được trình bày “công khai” để ta có được một nhận thức trung thực về khai sáng mà câu hỏi của linh mục Zöllner đặt ra: Khai Sáng là gì, chính ông ta đã nói tiếp theo là: “câu hỏi này cũng như câu hỏi Chân lý là gì”. Ðây là một tiểu luận được trình bày ra để quần chúng qua đấy được “giác ngộ” nói như Ðỗ Xuân Phương, chứ không phải
để hưởng ứng theo kiểu hô khẩu hiệu. Nên văn phong đầy triết lý, có nghĩa phân tích và chiết giải.
Tháng Hai, 2004
© 2004 talawas
|
|