Góp ý về vấn đề dịch Jürgen Habermas qua bản dịch “Mở hướng tới Đức tin và Tri thức”
Tôi có dịp được đọc bài “Mở hướng tới Đức tin và Tri thức” trên mạng talawas. Đây là bản dịch Việt ngữ từ nguyên bản Đức ngữ diễn văn cảm tạ của Jürgen Habermas, nhân dịp ông được giải thưởng Hoà Bình của ngành phát hành sách Đức tại Frankurt ngày 14.10.2001. Bản dịch của ông Phạm Kỳ Đăng đã gây cho tôi nhiều ngạc nhiên và thích thú. Đây là một công trình đáng được ca ngợi, vì người dịch đã chọn công việc khó khăn. Sau khi đọc bản dịch tôi có nhiều nghi vấn và so lại với nguyên tác. Nhân dịp này tôi muốn được trao đổi với ông Đăng và các độc giả có quan tâm đến đề tài này. Tinh thần cầu học và trao đổi đã thúc đẩy tôi viết bài này. Tôi hy vọng sẽ đem đến cho ông Đăng một nguồn cảm hứng mới để xem lại bản dịch của mình. Đối với các bạn có nghiên cứu Jürgen Habermas và yêu thích dịch thuật, tôi mong tiếp tục được thảo luận trong tinh thần xây dựng. Bài này không phải là một công trình của một nhà ngữ học hay một dịch giả chuyên nghiệp, mà đúc kết từ những suy nghĩ của một nguời đọc không chuyên nghề cầm bút, ở đây sẽ không bàn đến các vấn đề nội dung tư tuởng của Jürgen Habermas và về lí thuyết dịch thuật, mà chỉ đi sâu vào hai vấn đề chủ yếu: sử dụng thuật ngữ và kỹ thuật chuyển ngữ của ông Đăng (sau đây được gọi là người dịch cho tiện)
1. Sử dụng thuật ngữ
Ai cũng biết không có một chuẩn mực nào trong việc sử dụng thuật ngữ trong tiếng Việt, nhất là khi được dịch từ tiếng nước ngoài. Trước hết, vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta phải hiểu đúng các thuật ngữ và ý niệm của tác giả; có hiểu đúng thì mới dịch đúng; dịch đúng rồi mới dịch hay. Dĩ nhiên, vì hiểu khác nhau, nên cách dịch cũng khác nhau, nhưng làm sao giữ được tinh thần mà tác giả muốn nói, đó là vấn đề chính. Chúng ta hiểu tư tưởng Jürgen Habermas khác biệt nhau, đó là chuyện bình thường.
Jürgen Habermas là một nhà tư tưởng đương đại và có nhiều danh phẩm được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Những lập thuyết của ông (thí dụ như Theorie des kommunikativen Handelns và Deliberative Theorie) được giới trí thức quan tâm và có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Những thành quả này thiết tưởng không cần đề cập thêm [1] . Tuy nhiên, điều đáng nói là văn phong độc đáo của Jürgen Habemas trong Đức ngữ. Hầu như ai cũng gặp khó khăn khi đọc ông, vì ông sử dụng những thuật ngữ của riêng mình đặt ra để diễn đạt những tư tưởng phức tạp, cô đọng và tối tăm. Thí dụ như cụm từ interaktionsfolgenrelevante Verbindlichkeiten, thì chỉ có ông là nguời duy nhất nghĩ ra và sử dụng mà thôi. Với văn tài này ông đã gặp nhiều chỉ trích, ngay cả Karl Popper cũng đã nêu lên để chứng minh. Jürgen Habermas viết: „Theorien erweisen sich für einen speziellen Gegenstandsbereich dann als brauchbar, wenn sich ihnen die reale Mannigfaltigkeit fügt“. Để hiểu được câu này Karl Popper đã phải đơn giản hoá như sau: “Theorien sind auf ein spezielles Gebiet dann anwendbar, wenn sie anwendbar sind” [2] .
Qua lối hành văn này liệu người dịch có hiểu tác giả khi dịch bài “Mở hướng tới Đức tin và Tri thức” không, đó là nghi vấn cuả người đọc. Sau đây là một vài ví dụ:
a. Januskopf der Moderne trong câu: “Auch im Europa, dem die Geschichte Jahrhunderte eingräumt hat, um eine sensible Einstellung zum Januskopf der Moderne zu finden ist, ist die Säkularisierung immer noch […] besetzt” được dịch là cái đầu Janus lưỡng diện của thời hiện đại. Đây là huyền thoại La Mã cổ thời, hình một vị thần có hai đầu đặt trước cửa nhà để che chở cho toàn gia đình, và không phải người Việt nào cũng đều hiểu đuợc huyền thoại La Mã. Thiết tưởng nguời dịch nên chú thích cho người đọc để hiểu rõ hơn. Đây là một lối dịch mà không nói lên được gì hết, nếu không được giải thích.
b. Common sense trong „die zivilisierende Rolle eines demokratisch aufgeklärten Common sense”. Ngưòi dịch chuyển sang là vai trò dân sự hoá của trí năng điều hoà, lại chú thích thêm là có thể dịch là lí trí lành mạnh.
Zivilisierende Rolle là vai trò khai hóa, giáo hoá, truyền bá văn minh, thường đươc dùng để biện hộ cho đế quốc trong thời kỳ mở mang thuộc điạ, trong Pháp ngữ là mission civilisatrice. Động từ zivilisieren phảỉ hiểu là Zivilisation bei jemandem einführen, truyền bá văn minh, không phải là Zivilist werden, không có liên hệ đến dân sự (zivil) hay dân sự hoá trong mạch văn này. Điểm đáng chú ý là vai trò dân sự hoá hoàn toàn vô nghĩa trong tiếng Việt, vì một vai trò không thể dân sự hoá được. Dân sự hoá một chính quyền quân sự hoặc là quân sự hoá một guồng máy dân sự thì có nghĩa, vì cả hai là động từ. Trong mạch văn này, vai trò dân sự hoá một trí năng điều hoà lại càng vô nghĩa hơn.
Common sense là Anh ngữ được tác giả sử dụng trong nguyên bản. Đây là một ý niệm cơ bản trong Xã Hội Học mà trong bất kỳ sách Xã Hội Học Nhập Môn nào bằng Anh ngữ hoặc sách về Đạo Đức Học đều có nói đến hay trong các từ điển đều có ghi. Xin thí dụ:
“… Common sense used as a term to describe such statements of what everybody knows, directs our attention as social scientist to the underlying theories, perscpectives and assumptions that are mobilized through simple statements and claims. A society`s stock of common sense can therefore be seen as a repository or storeroom of bits of knowledge on which people can draw in discussing society and its problems”. [3]
Common sense: lẽ phảỉ thông thường thực tế có được từ kinh nghiệm sống chứ không phải là do nghiên cứu đặc biệt, lẽ thường. [4]
“Die Lebens- und Alltagserfahrung des Praktikers, einschließlich geltender Normen – und Regelsysteme, common sense-Überlegungen […], die aus der Theorie nicht ableitbar ist, aber auch weitergehende Improvisationen, die zu theorierelevanten Innovationen führen können”. [5]
Nếu chúng ta chấp nhận lời giải thích trên đây là đúng, thì cách dịch của người dịch không còn phù hợp với ý tác giả. Người dịch đã sáng tạo lối dịch này và có đề nghị sử dụng như “lí trí lành mạnh”. Chúng ta có thể liên tưởng đến gesunder Menschenverstand, nhưng cũng không thuyết phục được khi so với mạch văn trên của tác giả (Laienverstand, Wirklichkeitssinn). Ta thấy dễ hiểu hơn, khi demokratisch aufgeklärter Common sense được dịch thành những “ý niệm thông thường được soi sáng một cách dân chủ”.
c. Die juristische Bedeutung trong đoạn: “Das Wort Säkularisierung hat zunächst die juristische Bedeutung der erzwungenen Übereignung von Kirchengütern an die säkulare Staatsgewalt”. Ngưòi dịch chuyển là: “Chữ thế tục hoá mới đầu có ý nghĩa tư pháp. Thật ra “juristisch” không có ý nghiã tư pháp (privatrechtlich) mà là pháp luật nói chung. Tư pháp phải hiểu là mối quan hệ pháp luật giữa các thể nhân hay pháp nhân tư pháp, thí dụ như khế uớc thuê nhà, lao động, không phải là quan hệ giữa nhà nước với giáo hội, cả hai là những pháp nhân công pháp. Công pháp và tư pháp là hai chuyên ngành trong luật pháp. Người dịch chưa phân biệt được ý niệm cơ bản này trong tiếng Việt cũng như Đức nên dịch là tư pháp cho chữ “juristisch”, thay vì dùng ý niệm chung là luật pháp thì đúng hơn.
d. kognitiv verarbeiten trong đoạn: “Das religiöse Bewußtsein muss erstens die Begegnung mit anderen Konfessionen und anderen Religionen kognitiv verarbeiten”. Câu này được dịch là: “Thứ nhất ở cấp độ nhận thức, ý thức tôn giáo phải chịu đựng được cuộc gặp gỡ những tín ngưỡng và tôn giáo khác”. Kognition là một ý niệm chung cho tất cả mọi quá trình và cấu trúc liên hệ đến cảm nhận (wahrnehmen) và hiểu biết (erkennen), thí dụ như suy nghĩ, hoài niệm, tưởng tượng v.v. Trong mạch văn này được hiểu như sự thay đổi và thích nghi về mặt nhận thức của tôn giáo này đối với tôn giáo kia theo ý cuả Rückbesinnung oder Selbstbesinnung, một trong những kognitive Verarbeitung. Tác giả không hề đề cập đến sự chịu đựng.
e. geozentrische und anthropozentrische trong câu: “Kopernikus und Darwin haben das geozentrische und das anthropozentrische Weltbild revolutioniert” (“Kopernikus và Darwin đã cách mạng hoá bức tranh thế giới mang tính trung tâm vũ trụ và trung tâm nhân loại”). Điểm này người dịch đã hiểu ý niệm của tác giả, nhưng không dịch trung thực Ở đây là hai học thuyết (Lehre, Theorie) không phải là đặc tính. Tính trung tâm vũ trụ và tính trung tâm nhân loại không diễn đạt khiá cạnh học thuyết hay khảo hướng. Geozentrismus là thuyết địa tâm, lấy địa cầu làm trung tâm cuả thế giới để giải thích; Anthropozentrismus, thuyết nhân tâm (trước đây còn gọi là thuyết nhân loại bản vị) ngược lại lấy nhân loại làm trung tâm thế giới để giải thích. Như vậy, đây không phải là đặc tính, đặc điểm của bức tranh thế giới.
f. Autorschaft und Zurechnungsfähigkeit trong câu: “Aber verändert sich damit jenes intuitive Bewußtsein von Autorschaft und Zurechnungsfähigkeit, das alle unsere Handlungen begleitet?” Người dịch cho là: “Nhưng liệu vì thế mà ý thức đầy linh cảm nọ về tư cách tác giả và năng lực chịu trách nhiệm luôn chỉ đạo hành vi của chúng ta sẽ thay đổi theo?” Autorschaft và Zurechnungsfähigkeit là hai ý niệm cơ bản trong Hình luật nói về yếu tố tạo nên thủ phạm (Täterschaft) và khả năng quy trách xem có thể bị tội hình hay không, không phải là tư cách tác giả (của một tác phẩm?) và năng lực chịu trách nhiệm.
g. entpersonalisiert trong câu: “Die Natur wird in dem Maße, wie sie der objektivierenden Betrachtung und kausale Erklärung zugänglich gemacht wird, entpersonalisiert”. Người dịch chuyển là: “Chính tự nhiên bị tước đoạt nhân tính”. Thật ra, Entpersonaliserung không phảị là bị mất đi nhân tính. Personalisierung diễn tả một quá trình thay đổi cho phù hợp với nhu cầu cá nhân của một người. Personalisierung: verschienene Einstellungen nach persönlichem Bedarf eingestellt werden können. Khi hiểu như vậy thì Entpersonalisierung là không còn phục vụ cho riêng ai (cá nhân hoá) nữa. Một thí dụ khác để chứng minh việc sử dụng Entpersonalisierung: Trong chế độ độc tài thì quyền lực nhà nước nằm trong tay cá nhân người lãnh đạo, trong mọi trường hợp thuộc phạm vi của ông ta, trái lại trong chế độ dân chủ thì quyền lực mất đi tính cách cá nhân, quyền lực này được biểu thị như một quyền lực thuộc về cơ cấu, và các nam nữ chánh trị gia chỉ được kêu gọi để thay mặt hành sử quyền lực trong một thời gian [6] .
Trong mạch văn của tác giả hẳn nhiên không có đề cập đến vấn đề nhân tính (persönliche Eigenschaft), phải bị đánh mất bởi thiên nhiên. Ta có thể hiểu như sau: Thiên nhiên không còn thuộc về cá nhân ai nữa, khi mà thiên nhiên được mở lối qua cách quan sát một cách khách quan hoá và giải thích bằng những liên hệ nhân quả.
h. Die avanciertesten Ansätze và Sein und Sollen trong câu: “Aber auch die avanciertesten Ansätze scheinen an jene Differenz von Sein und Sollen nicht heranzureichen, die wir meinen, wenn wir Regeln verletzten”. Lời dịch Việt: “Nhưng rồi kể cả những dự kiến năng nổ nhất kia xem chừng không đủ sức vươn tới lấp đi sự chênh biệt nọ giữa Tồn Tại và Cần tồn được biết tới nếu như ta phạm quy tắc”.
Ansatz là một phương thức làm việc được đặt ra để nhằm giúp ta thực hiện mục tiêu, đề án hay kế hoạch của mình, trong khảo cứu thì gọi đó là khảo hướng. Còn dự kiến trong tiếng Việt có một ý nghĩa khác hằn, ý kiến đã định trước, dự định, dự đoán hay chuẩn bị làm một cái gì, nghiêm túc hơn thì có thể gọi là đề án hay kế hoạch (có thể hiểu là Projekt, Vorhaben, Plan). Do đó không thể dịch Ansatz là dự kiến được, vì Ansatz giúp chúng ta thực hiện dự kiến của mình, chứ tự nó không là dự kiến.
Avancieren là một động từ rất quen thuộc đưọc sử dụng trước tiên trong lãnh vực quân sự rồi chuyển sang nghệ thuật. Nó chỉ hành vi đi tiên phong, đi đầu, xung kích hay tiền vệ để chiếm giữ mục tiêu. Trong nghệ thuật, Avantgardisten để chỉ nghệ sĩ dám muốn dám làm nhằm rời bỏ các khuynh hướng cũ để tạo điều mới lạ. Người viết thú thực không hiểu chính xác lắm từ năng nổ, nhưng hình dung ra có thể là năng động (flexible?, dynamisch?) nên cũng xin dè dặt truớc sự sử dụng này. Nhưng die avanciertesten Ansätze không thể là “dự kiến năng nổ” như ngưòi dịch đưa ra.
Sein und Sollen: Tồn tại và Cần Tồn. Cách dịch này còn quá xa lạ trong trong tiếng Việt, có thể do người dịch sáng tạo, nhưng nó có diễn đạt đưọc ý niệm mà tác giả đưa ra trong mạch văn không, đó là vấn đề. Sein và Sollen là ý niệm cơ bản mà bất cứ một nhà hoạch định nào trước khi đưa ra kế hoạch đều gặp phải. Đây là sự so sánh giữa hai giá trị, hai tình trạng đang có và một tình trạng sẽ có, muốn đạt được qua việc thực thi kế hoạch đề ra. (Ist-Soll Unterscheidung hay Tatsache-Wert Analyse). Trong mạch văn này cho thấy một khái niệm đạo đức hơn là kế hoạch. Differenz von Sein und Sollen và Differenz von Sollen und Wollen là biến thái khác nhau của một nền đạo đức chung [7] , mà nội dung không thể đề cập ở đây, chủ yếu Sollenethik đưọc xem là Strebenethik. [8] Do đó, tồn và cần tồn không diễn tả đưọc ý niệm tác giả đưa ra. Thiết tưởng nên chú thích diễn giải thêm cho sáng tỏ hơn.
Cách hiểu và sử dụng thuật ngữ trong nguyên tác của người dịch đã đưa chúng ta đi đến nghi ngờ khác, đó là kỹ thuật chuyển ngữ. Sau đây là một vài ý kiến tiêu biểu.
2. Kỹ thuật chuyển ngữ
Vấn đề lý thuyết về kỹ thuật chuyển ngữ không đặt ra ở đây, nhưng một điểm chung phải thừa nhận là bản dịch không những phản ảnh được trung thực về nội dung, mà còn giúp cho người đọc hiểu được nội dung. Bản dịch chỉ hiểu được khi có tính Việt ngữ, đặc biệt là trong sáng. Người đọc nêu lên tiêu chuẩn này xem bản dịch đạt được không. Vì không thể nhận xét toàn bộ bản dịch, nên chỉ đưa ra một vài thí dụ:
a. Lời dịch: “Nhưng bức tranh này không ăn nhập gì đến xã hội hậu thế tục đang xoay xoả theo sự tiếp tục của những cộng đồng tôn giáo trong một xã hội không ngừng thế tục hoá. Trong bức tranh quá hẹp này, chỉ còn thấy lu mờ dần vai trò dân sự hoá cuả một trí năng điều hoà khai sáng dân chủ đóng vai trò phái thứ ba đang mở đường riêng cho mình giữa khoa học và tôn giáo trong muôn giọng ồn ào xung lệnh văn hoá”.
Đọc đoạn văn này nhiều lần người đọc không sao hiểu được. Khi so với nguyên tác thì thấy:
“Dieses Bild passt nicht zu einer postsäkularen Gesellschaft, die sich auf das Fortbestehen religiöser Gemeinschaften in einer sich fortwährend säkularisierenden Gesellschaft einstellt. Ausgeblendet bleibt in diesem zu engen Bild vor allem die zivilisierende Rolle eines demokratisch aufgeklärten Common sense, der sich im kulturkämpferischen Stimmengewirr gleichsam als dritte Partei zwischen Wissenschaft und Religion einen eigenen Weg bahnt”.
Những ý niệm về vai trò dân sự hoá và lý trí điều hoà đã bàn đến ở trên. Một số vấn đề mới có thể thấy như sau:
“Xoay xoả”: sich einstellen. “Xoay xoả” là một từ mới lạ đối với người đọc, không biết là đúng hay sai, cũng có thể là “xoay sở” do lỗi đánh máy. Một cá nhân có thể tự xoay sở lấy trước một tình huống khó khăn, xa lạ mà không cần ai giúp đỡ; một xã hội thì ngược lại không xoay sở, mà là tự lực, thích nghi. Thích nghi dễ hiểu và phổ cập hơn.
“Muôn giọng ồn ào xung lệnh văn hoá”: Kulturkämpferisches Stimmengewirr. Đây là sự hỗn độn trong các tiếng nói của những người đấu tranh văn hoá. Tình trạng ồn ào, to tiếng, lớn giọng so với tình trạng hỗn loạn, vô trật tự hay không kiểm soát được là hai tình trạng khác nhau, cần phân biệt. “Xung lệnh văn hoá” không diễn tả được kulturkämpferisch, vì “xung lệnh” không thể là kämpferisch.
Đoạn trên có thể được hiểu như sau: Hình ảnh này không phù hợp với một xã hội hậu thế tục đang thích nghi để tôn giáo tiếp tục tồn tại trong một xã hội vẫn không ngừng thế tục hoá. Trong hình ảnh nhỏ bé này, vai trò khai hoá của những ý niệm thông thường được soi sáng một cách dân chủ bị tan biến. Trong cảnh hỗn loạn của những phong trào đấu tranh văn hoá thì những ý niệm này tự vạch ra cho mình một lối đi riêng như là thành phần thứ ba đứng giữa Khoa học và Tôn giáo.
b. Lời dịch: “Đối với khoa học, trí năng đó khẳng định một cấu trúc mở hướng riêng”. Nguyên tác: „Er behauptet gegenüber den Wissenschaften eine eigensinnige Perspektivenstruktur“.
„Cấu trúc mở hướng riêng“ không thể diễn đạt được eigensinnige Perspektivenstruktur, vì Perspektiven không mở ra một cái hướng nào hết, mà là một phối cảnh, viễn tượng, viễn cảnh đưọc nhìn thấy mà thôi.
Dễ hiểu hơn có thể dịch là: Đối với khoa học, lẽ thường tình khẳng định một cấu trúc về viễn tượng với một ý nghĩa riêng biệt.
c. Lời dịch: „Mặt khác, theo tôi nghĩ, vói ý thức tự chủ không thể nắm bắt được một cách tự nhiên, trí năng này còn khẳng định một khoảng cách tới tôn giáo lưu truyền thường cấp nguồn sống cho chúng ta bằng nội dung quy phạm của nó“.
Nguyên tác: „Mit diesem, wie ich denke, naturalistisch nicht greifbaren Autonomiebewußtsein behauptet der Common sense auf der andere Seite auch den Abstand zu einer religiösen Überlieferung, von deren normativen Gehalten wir gleichwohl zehren“.
Điểm đáng chú ý ở đây naturalistisch không là „một cách tự nhiên“ mà thuộc về Naturalismus; religiöse Überlieferung không phải là „tôn giáo lưu truyền“ mà là truyền giáo, còn zehren trong mạch văn không thể hiểu là cấp nguồn sống, mà từ bỏ, huỷ diệt, phá hoại, đánh mất giá trị. Ý nghiã này dể chấp nhận hơn khi trong mạch văn nói về sự tách biệt khỏi tôn giáo. Do đó đoạn trên có thể hiểu như sau:
Theo tôi nghĩ, với ý thức tự chủ không thể hiểu được bằng lí thuyết tự nhiên, lẽ thông thường, mặt khác, còn xác định việc sự tách rời của mình trước việc truyền giáo, mà nội dung đạo đức của nó chúng ta cùng lúc từ bỏ.
d. Lời dịch: „Và ngay cả pháp luật kiến lập bởi lí trí mang tính bình quyền cũng có cội rễ tôn giáo. Nhưng sự hợp thức hoá cho luật pháp và chính trị theo quyền lực của lí trí uống nguồn đã từ lâu trần tục.
Nguyên tác: „Und auch das egalitäre Vernunftrecht hat religiöse Wurzeln. Aber diese vernunftrechliche Legitimation von Recht und Politik speist sich aus längst profanisierten Quellen.“
“Uống nguồn trần tục” là vô nghĩa trong tiếng Việt. Speisen sich không thể hiểu theo nghĩa ăn uống trong mạch văn này. Nguồn ở đây là cơ sở, căn cơ, nền tảng, nên không thể ăn uống được.
Theo ý này thì có thể hiểu như sau: Và ngay luật lí trí bình đẳng cũng có nguồn gốc tôn giáo. Nhưng sự hợp pháp hoá cho luật pháp và chính trị được cung ứng từ những nguồn gốc đã được thế tục hoá từ lâu.
Những thí dụ kể trên cho thấy phẩm chất toàn bộ của bản dịch còn rất nhiều vấn đề đáng bàn đến. Tựu chung, người dịch đã gặp nhiều khó khăn trong sử dụng thuật ngữ, sáng tạo thuật ngữ thiếu cơ sở khả tín và rời xa mạch văn của tác giả. Đặc biệt hơn, người dịch đã không mang lại sự trong sáng và tính Việt trong khi chuyển ngữ. Bản dịch cần được sửa đổi để hoàn chỉnh hơn. Hy vọng bài viết này là một đóng góp nhỏ và trong tương lai người dịch sẽ cho ra đời nhiều dịch phẩm giá trị hơn.
© 2004 talawas
[1]Để tìm hiểu về các tư tưởng của Jürgen Habermas một cách tổng quát xin đọc: Reese-Schäfer Walter, Jürgen Habermas, Einführung, Campus. 2001, Frankfurt
[2]Wolf Schneider, Deutsche fürs Leben, Rowohlt, 1995, S. 34.
[3]Esther Sagara, Embodying the Social: Constructions of Difference, p. 14, The Open University, 1998
[4]Từ điển Anh Việt, Viện Ngôn Ngữ Học, 1995, trang 308
[5]Hans Krämer, Integrative Ethik, Suhrkamp, S. 340
[6]In der Diktatur ist die staatliche Macht eine reine personelle, nämlich jene des Diktators und allenfalls seines Umfeldes. In der Demokratie ist die Macht hingegen entpersonalisiert, sie präsentiert sich als eine strukturelle Macht, und die Politikerinnen und Politiker sind lediglich dazu berufen, diese Macht während einer bestimmten Zeit stellvertretend für den Souverän ausüben. (Gret Haller: Empörungsbewirtschaftung, Personalisierung und Politische Verantwortung, 2004
www.grethaller.ch/reformatio_2004.html)
[7]die verschiedenen Varianten der Einheitehtik, Hans Krämer, Integrative Ethik. S. 108
[8]Hans Krämer, Integrative Ethik S. 82