|
21.9.2004
Bùi Thị Trạc Tuyền
Góp thêm vài ý về bản dịch Habermas
Đọc bài góp ý dịch Habermas của ông Đỗ Kim Thêm (talawas, 09.9.2004), tôi thấy thích thú và bổ ích. Thích thú vì được học thêm nhiều về mấy chữ khó. Thích thú hơn nữa là ở thái độ góp ý: ôn tồn, nghiêm chỉnh và xây dựng, một thái độ cần thiết trong chuyện chữ nghĩa. Chữ nghĩa vốn khó khăn, khiêm tốn học hỏi và chân tình giúp đỡ nhau thì học thuật nước nhà mới có cơ tiến triển được. Cảm kích nhân đọc bài góp ý, tôi cũng xin khép nép góp thêm vài lời cho vui. Không có bản chính của Habermas và bản dịch của ông Phạm Kỳ Đăng trong tay, nên chỉ căn cứ vào những điểm góp ý riêng lẻ của ông Thêm mà thôi, do đó khó chính xác và có thể “đoạn văn thủ nghĩa”, xin miễn chấp.
Phần 1: Sử dụng thuật ngữ
- Đúng là cần phải chú thích “điển cố”: “Januskopf” và giải thích nội dung của nó trong văn cảnh: tính hai mặt của thời hiện đại: sự “Khai sáng” với cả mặt ưu và mặt khuyết của nó.
- “die zivilisierende Rolle eines demokratisch aufgeklärten Common sense”: Câu này có lẽ cần đặt trong bối cảnh “phong trào khai sáng” ở Anh, Pháp thế kỷ 17, 18 mới hiểu được.
- “die zivilisierende Rolle”: “vai trò văn minh hóa”. Thông thường người ta đối lập giữa “Natur” và “Kultur”. Vai trò của “Kultur” là “văn minh hóa” (zivilisieren), rồi “đạo đức hóa” (moralisieren) những gì còn “mông muội” trong “trạng thái tự nhiên” (Naturzustand). (có thể hiểu là “khai hóa” như ông Thêm, song, việc thực dân đế quốc lạm dụng chữ “khai hóa” là chuyện khác, không liên quan ở đây; còn ông Đăng dịch (nhầm ?) là “dân sự hóa” chắc vì thấy có chữ “demokratisch” ở sau. Chắc không phải là “dân sự hóa”, vì đó không phải là chức năng của “Common sense”. (trừ khi hiểu theo nghĩa “gián tiếp”: Common sense khơi mào cho cách mạng, rồi cách mạng “dân sự hóa” xã hội, theo nghĩa thay xã hội phong kiến bằng “xã hội công dân” hay “xã hội tư sản” (bürgerliche Gesellschaft). Phải xem cả đoạn mới hiểu được.
- “Common sense”: theo tôi, nên giữ nguyên, không cần dịch, để trung thành với tác giả. Sau đó, nên chú thích rõ ý nghĩa. Đúng như ông Thêm nói, ý nghĩa “xã hội học” thông thường của Common sense là “lẽ phải thông thường”, “lẽ thường”, nhưng ở đây nên đặt vào bối cảnh của nó: “Common sense” là “đặc sản” của triết học Anh có từ thời Trung cổ và là thuật ngữ ưa chuộng ở thời Khai sáng (duy nghiệm) Anh (nhất là ở John Locke, ông tổ phái duy nghiệm và người mở đường cho cách mạng dân chủ Anh), sau đó ở J. J. Rousseau (Pháp) với chữ “le bon sens” (“lương thức”, “lương năng”) và ở Kant với chữ “gemeiner Verstand”, “gesunder Menschenverstand” (lý trí thông thường, lý trí con người lành mạnh). Ông Đăng có lý khi bảo có thể dịch là “lý trí lành mạnh”, vì thực ra cả ba chữ: “lẽ thường”, “lương thức”, “lý trí lành mạnh” đều nói lên được nội dung của “Common sense” là “lẽ phải thông thường” của “người ngoài đường” (Man auf der Straße) [vd: “tôi có hai bàn tay”, “quả đất tồn tại trước khi tôi sinh ra”] đối lập lại với mọi thứ “tư biện” triết học (Tiếng Đức hay dùng chữ “Binsenwahrheit”).
Tóm lại, câu trên có thể dịch là: “vai trò văn minh hóa của một thứ Common sense đã được khai sáng một cách [bằng cuộc cách mạng] dân chủ”.
- “Die juristische Bedeutung”: đồng ý với ông Thêm và nên dịch là “ý nghĩa [hay nội dung] pháp lý”…
- “kognitiv verarbeiten”: nên chăng dịch là: “xử lý về mặt nhận thức” ?
- và f.: đồng ý với ông Thêm. Với các thuật ngữ khó, chuyên biệt (geozentrisch, anthropozentrisch, Autorschaft…), nên chịu khó tra cứu từ điển thì ít phạm sai lầm về kiến thức mà ai cũng có thể mắc phải.
- “entpersonalisiert”: trong câu: “Die Natur wird in dem Maße, wie sie der objektivierenden Betrachtung und kausale Erklärung zugänglich gemacht wird, entpersonalisiert”. Ông Đăng dịch là: “Chính tự nhiên bị tước đoạt nhân tính”…; ông Thêm thì hiểu là: “Thiên nhiên không còn thuộc về cá nhân ai nữa, khi mà thiên nhiên được mở lối qua cách quan sát một cách khách quan hoá và giải thích bằng những liên hệ nhân quả”.
Nếu hiểu theo nghĩa “luật học” và “xã hội học”, ý ông Thêm rất đúng, nhưng tôi e ở đây ông Đăng cũng có lý (tùy theo văn cảnh), vì bản thân “giới Tự nhiên” (die Natur), – khác với “quyền lực nhà nước” hay các vật thể khác – , không ai có thể “chiếm hữu” riêng được cả. Do đó, phải chăng ở đây cũng có nghĩa là “Giới tự nhiên bị phi nhân cách hóa”, bởi khoa học đã “vén màn ảo thuật” (Entzauberung/Max Weber) vốn che phủ “giới Tự nhiên” do các quan niệm “tiền-khoa học”: giới Tự nhiên là sản phẩm tự giác của Thượng đế; là “chủ thể” có sinh hồn như một “nhân cách”, “nhân vị”; là “vương quốc của những quy định mục đích luận”…? Nên xem lại kỹ hơn trước khi “quyết một bề”!
- “Aber auch die avanciertesten Ansätze scheinen an jene Differenz von Sein und Sollen nicht heranzureichen, die wir meinen, wenn wir Regeln verletzten”.
Ông Đăng dịch: “Nhưng rồi kể cả những dự kiến năng nổ nhất kia xem chừng không đủ sức vươn tới lấp đi sự chênh biệt nọ giữa Tồn Tại và Cần tồn được biết tới nếu như ta phạm quy tắc”.
Đồng ý với ông Thêm rằng không nên dịch “Ansatz” là “dự kiến” mà là “phương thức làm việc được đặt ra để nhằm giúp ta thực hiện mục tiêu, đề án hay kế hoạch, trong khảo cứu thì gọi đó là khảo hướng”. Còn “avancierteste” không thể là “năng nổ” mà có thể là “tiên phong nhất”. Ngoài ra, “Sein und Sollen” dịch là “Tồn tại và Cần Tồn” thì quả khó hiểu, nhưng tiếc là ông Thêm không dịch lại cả câu. Ngoài các điểm trên, tôi thấy ông Đăng dịch chữ “nicht heranreichen an jede Diffenzenz” là “không đủ sức vươn tới lấp đi sự chênh biệt nọ giữa…” Tôi e hai chữ “lấp đi” là thừa và gây hiểu lầm cả ý nghĩa câu văn.
Theo tôi, có thể thử dịch thế này: “Nhưng cả các cách tiếp cận tiên phong nhất hình như cũng không vươn đến được [hay: cũng không tiếp cận được] sự dị biệt giữa cái ĐANG LÀ và cái PHẢI LÀ nói trên; sự dị biệt mà ta xem là có nếu [giả thử] ta vi phạm các quy tắc”.
Giữa cái: “ĐANG LÀ” và cái “PHẢI LÀ” (Sollen: devoir être) bao giờ cũng có khoảng cách và khi ta vi phạm các quy tắc [hiện hành] có nghĩa ta nhận thức rằng cái “đang là” chưa phải là cái “phải là”!
2. Kỹ thuật chuyển ngữ
- “Dieses Bild passt nicht zu einer postsäkularen Gesellschaft, die sich auf das Fortbestehen religiöser Gemeinschaften in einer sich fortwährend säkularisierenden Gesellschaft einstellt. Ausgeblendet bleibt in diesem zu engen Bild vor allem die zivilisierende Rolle eines demokratisch aufgeklärten Common sense, der sich im kulturkämpferischen Stimmengewirr gleichsam als dritte Partei zwischen Wissenschaft und Religion einen eigenen Weg bahnt”.
- Ông Đăng dịch: “Nhưng bức tranh này không ăn nhập gì đến xã hội hậu thế tục đang xoay xoả theo sự tiếp tục của những cộng đồng tôn giáo trong một xã hội không ngừng thế tục hoá. Trong bức tranh quá hẹp này, chỉ còn thấy lu mờ dần vai trò dân sự hoá cuả một trí năng điều hoà khai sáng dân chủ đóng vai trò phái thứ ba đang mở đường riêng cho mình giữa khoa học và tôn giáo trong muôn giọng ồn ào xung lệnh văn hoá”.
- Ông Thêm cho rằng dịch như thế tối quá, không sao hiểu được, và đề nghị dịch lại: “Hình ảnh này không phù hợp với một xã hội hậu thế tục đang thích nghi để tôn giáo tiếp tục tồn tại trong một xã hội vẫn không ngừng thế tục hoá. Trong hình ảnh nhỏ bé này, vai trò khai hoá của những ý niệm thông thường được soi sáng một cách dân chủ bị tan biến. Trong cảnh hỗn loạn của những phong trào đấu tranh văn hoá thì những ý niệm này tự vạch ra cho mình một lối đi riêng như là thành phần thứ ba đứng giữa Khoa học và Tôn giáo”.
Câu dịch của ông Thêm quả sáng sủa hơn, nhưng đọc kỹ, ta thấy câu của ông Đăng, tuy tối, đã diễn đạt được cái ý cốt yếu của câu: “trong bức tranh quá hẹp này, chỉ còn thấy lu mờ dần… đóng vai trò phái thứ ba… Mượn ý của cả hai ông, xin thử dịch lại như sau:
“Bức tranh này không phù hợp cho một xã hội hậu thế tục đang thích nghi với việc tiếp tục tồn tại của những cộng đồng tôn giáo trong lòng một xã hội vẫn không ngừng thế tục hóa. Nhất là trong bức tranh quá chật hẹp này, vai trò văn minh hóa của một thứ Common sense đã được khai sáng bằng [cách mạng] dân chủ, – vốn tự mở một con đường đi riêng hầu như (gleichsam) với tư cách là phe thứ ba giữa Khoa học và Tôn giáo trong cơn hỗn loạn của những giọng điệu đấu tranh [bảo vệ] văn hóa – vẫn còn bị lu mờ (bleibt ausgeblendet)”.
- “Er [chắc là “Common sense”] behauptet gegenüber den Wissenschaften eine eigensinnige Perspektivenstruktur“.
- Ông Đăng dịch: “Đối với khoa học, trí năng đó khẳng định một cấu trúc mở hướng riêng”.
- Ông Thêm đề nghị dịch lại: “Đối với khoa học, lẽ thường tình khẳng định một cấu trúc về viễn tượng với một ý nghĩa riêng biệt”.
Theo tôi, “eigensinnige” là cách chơi chữ khá tế nhị. Nếu chỉ là “riêng”, “riêng biệt”, thì thường viết là: eigene hoặc mit (hay nach) eigenem Sinn. “Eigensinnige” ở đây chắc có nghĩa là “bướng bỉnh, ngoan cố”. (Habermas rất “sành” Hegel, nên cách chơi chữ này có khả năng lớn là mượn của Hegel: “der eigne Sinn ist Eigensinn…”. (Ý tưởng riêng là ý tưởng ngoan cố …”, xem: Phänomenologie des Geistes, 136). Do đó, thiết tưởng nên thử dịch là: “Đối lập lại với các ngành khoa học, cái Common sense khẳng định một cấu trúc về viễn tượng riêng biệt, bướng bỉnh [của mình]”.
- “Mit diesem, wie ich denke, naturalistisch nicht greifbaren Autonomiebewußtsein behauptet der Common sense auf der andere Seite auch den Abstand zu einer religiösen Überlieferung, von deren normativen Gehalten wir gleichwohl zehren“.
- Ông Đăng dịch: “Mặt khác, theo tôi nghĩ, vói ý thức tự chủ không thể nắm bắt được một cách tự nhiên, trí năng này còn khẳng định một khoảng cách tới tôn giáo lưu truyền thường cấp nguồn sống cho chúng ta bằng nội dung quy phạm của nó”
- Ông Thêm dịch: “Theo tôi nghĩ, với ý thức tự chủ không thể hiểu được bằng lí thuyết tự nhiên, lẽ thông thường, mặt khác, còn xác định việc sự tách rời của mình trước việc truyền giáo, mà nội dung đạo đức của nó chúng ta cùng lúc từ bỏ”
Vài nhận xét:
- naturalistisch: đúng như ông Thêm nói, đây là “tự nhiên chủ nghĩa”, và có nghĩa là: ý thức về sự tự chủ, tự trị (Antonomie) về đạo đức hay pháp quyền không thể nắm bắt được (nicht greifbar) theo kiểu “tự nhiên chủ nghĩa” của Common sense mà phải do sự phản tư, thậm chí do sự “phê phán Lý tính thực hành” theo nghĩa của Kant.
- Überlieferung: ông Thêm cho rằng đây không phải là “tôn giáo lưu truyền” mà là “truyền giáo”. Thật ra chữ Überlieferung là chữ “Đức ròng” đồng nghĩa với chữ “ngoại nhập” (Fremdwort) là Tradition, do đó chỉ có nghĩa là “truyền thống” hay “cựu truyền”, đúng như cách hiểu của ông Đăng.
- zehren von: ông Thêm cho rằng “zehren” ở đây là “từ bỏ, hủy diệt, phá hoại, đánh mất giá trị”. Theo tôi, “zehren an etwas” mới có nghĩa bóng là như thế, còn “zehren von etwas” (đúng như ông Đăng hiểu) lại là “von etwas leben, sich von etwas ernähren” (sống, nuôi dưỡng bằng cái gì). Còn “gleichwohl” không phải là “cùng lúc” (gleichzeitig, gleichfalls) mà là “tuy vậy”, “dù vậy”… (doch, trotzdem, jedoch…).
Vậy, tôi thử đề nghị dịch như sau:
“Theo tôi nghĩ, cùng với ý thức về sự tự trị không thể nào nắm bắt được theo lối tự nhiên chủ nghĩa này, Common sense, mặt khác, cũng khẳng định khoảng cách với một truyền thống tôn giáo mà chúng ta dù sao vẫn còn thụ hưởng các nội dung quy phạm của nó”.
- “Und auch das egalitäre Vernunftrecht hat religiöse Wurzeln. Aber diese vernunftrechliche Legitimation von Recht und Politik speist sich aus längst profanisierten Quellen”.
- Ông Đăng dịch: “Và ngay cả pháp luật kiến lập bởi lí trí mang tính bình quyền cũng có cội rễ tôn giáo. Nhưng sự hợp thức hoá cho luật pháp và chính trị theo quyền lực của lí trí uống nguồn đã từ lâu trần tục”.
- Ông Thêm cho cách dịch này “Tây quá”, nhất là các chữ “Uống nguồn đã từ lâu trần tục”. Và ông bảo: “Speisen sich không thể hiểu theo nghĩa ăn uống trong mạch văn này. Nguồn ở đây là cơ sở, nền tảng, nên không thể ăn uống được”, do đó hiểu như sau: “Và ngay luật lí trí bình đẳng cũng có nguồn gốc tôn giáo. Nhưng sự hợp pháp hoá cho luật pháp và chính trị được cung ứng từ những nguồn gốc đã được thế tục hoá từ lâu”.
Hai câu không khác nhau nhiều. Cần nhất ở đây là hiểu cho đúng chữ “Vernunftrecht”. Ông Đăng đã hiểu đúng khi dịch là “pháp luật kiến lập bởi lý trí”. Thật thế, trong nhiều cách hiểu khác nhau về luật pháp hay Pháp quyền (Recht), các lý luận về “pháp quyền tự nhiên” (Naturrechtliche Theorien) cho rằng Pháp luật đặt cơ sở trên những sự kiện siêu thời gian như các điều răn của Thượng đế, trên “sự Tồn tại” chung của thế giới hay trên Lý tính (Vernunft). Còn Egalität là sự bình đẳng trước pháp luật (một trong các tiêu ngữ của cách mạng Pháp), nhưng chữ “egalitär” lại giao động giữa hai ý nghĩa: bình đẳng, bình quyền (nghĩa tích cực) và “bình quân” (nghĩa có phần tiêu cực hơn một chút). Chữ “Speisen sich aus” là chữ gợi hình, có thể dịch là “hấp thu dưỡng chất từ…” cũng không sao, có khi còn “hay” nữa ! Còn dịch là “được cung ứng từ” thì chính xác, nhưng có thể mất đi chút “văn hoa bay bướm” vốn là “văn phong” của Habermas!
Tóm lại, đọc qua bài góp ý, ta thấy quý ông Thêm ở tính nghiêm khắc, chuộng sự chính xác, một đức tính quan trọng của người làm khoa học. Nhưng “cùng lúc”, ta cũng yêu ông Đăng vì, tuy chỉ qua vài câu rời rạc, “khúc tuy chưa trọn, tình đà thoảng hay” và tạm gác đôi “lầm lỡ” có thể sửa chữa được, ông có cái sức hiểu “quảng đại âm thầm” (chữ của Bùi Giáng, và J. Hyppolite cũng khen Baillie ở bản dịch tiếng Anh quyển Phänomenologie des Geistes của Hegel là “traduction large”). Nếu ông chịu khó thêm một chút, anh em và đàn em còn nhờ ông được nhiều.
Ôi, Habermas viết rất khó đọc. Ông “làm duyên làm dáng” dữ quá, khiến K. Popper (“máu” thực nghiệm Anh) bực mình, “sửa lưng” liên tục (ông Thêm đã có cho ví dụ). Hồi còn được “học” (học gì đâu, chơi là chính) với ông ở Frankfurt, tôi nhớ ai cũng ngán nghe ông giảng, chẳng hiểu gì hết! Ông nhỏ người, giọng nói cũng nhỏ, mà nói toàn những câu có “Kaliber” cỡ như trên thì làm sao hiểu. Anh em còn đồn nhau: viết luận án trình ông, ông bảo nội dung thì được nhưng viết sao “đơn giản” quá vậy? Về viết lại! Di căn của “Hegelei” hay thói đỏm dáng của trí thức trường ốc? Tôi đâm sợ, nên viết gì cũng “cảnh giác” sợ “lây bệnh” của ông. Nôm na, trong sáng, giản thực là quý nhất, đúng như lời khuyên của ông Thêm. Nhưng bao giờ mới đạt được?
Đó là nói chung, còn việc dịch thuật lại “khảm kha bất bình” hơn nữa, vì người dịch luôn ở thế bị động. Tác giả viết tối và khó, người dịch không được phép làm cho sáng và dễ, mặc dù phải cố làm cho bản dịch “đọc được” (lesbar, lisible). “Tín, đạt, nhã” là ba pháp bảo của việc dịch; trừ những bậc thiên tài, mấy ai biến được ba món ấy thành “tam vị nhất thể”. Được điểm này thì dễ mất điểm kia. Rút cục, cần sự cẩn trọng (lẫn dũng cảm) và rèn luyện nơi người dịch; cần sự châm chước và tiếp tay của người đọc. Khó vậy thay!
Sài Gòn, 17.09.2004
© 2004 talawas
|