Trong bài Truyền thống và cách tân hay tính dân tộc và văn minh thời đại của Trần Nghi Hoàng đăng trên talawas, tôi thích nhất nhận định: “Ngôn ngữ chuyển động như đời sống. Bởi vậy, ngôn ngữ sẽ tồn tại. Ngôn ngữ tồn tại là do khả năng sử dụng Nó của người nghệ sĩ Sáng tạo. Của những tác giả”.
Tuy nhận định này có khuyết điểm là dễ gây hiểu lầm, rằng có một khoảng cách giữa “ngôn ngữ” và “đời sống,” rằng ngôn ngữ và đời sống là hai thực thể riêng biệt, nhưng quan trọng hơn, sự phân lập như một thao tác của tác giả giúp chúng ta nhìn thấy được nguyên lý mang tính sống còn của đời sống. Ðó là: ngôn ngữ không bao giờ là bất tử. Ngôn ngữ có tuổi, nó cũng như một con người: bé nhỏ, lớn khôn, già nua, bảo thủ, và cuối cùng là nhường vị trí cho sinh mệnh khác.
Cuộc đời của chúng ta không đủ dài để chứng kiến cái chết của một từ, một cụm từ, hay một nghĩa sắc thái. Ðiều đó cũng chẳng có gì là kinh khủng, ví như cụ rùa dưới hồ Gươm tuổi thọ hơn hẳn chúng ta. Nhưng điều ấy không có nghĩa là cụ sẽ “muôn năm”, và chúng ta cứ mặc cho cụ lâu lâu lại phải tự ngoi lên hít hít khí trời.
Mỗi ngày chúng ta nói khá nhiều từ, dùng nó hầu như miễn phí, trừ khi gọi điện thoại. Và điều đó, thật là tàn nhẫn, đôi khi làm cho chúng ta nghĩ rằng ngôn ngữ là kho tàng vô tận, bất tử, tha hồ dùng, và chẳng có gì phải quan tâm cả.
Chúng ta thường vá quần áo cũ, gắn lại dép cũ, sơn sửa nhà, thậm chí có cả “người yêu mới”, nhưng không phải ai cũng ứng xử như thế với những lời mình nói ra – với ngôn ngữ, thứ công cụ được dùng liên tục nhiều năm mà chẳng mấy khi bảo dưỡng.
Chúng ta không quan tâm đến cái chết của ngôn ngữ, đôi khi bi tráng và đôi khi tủi nhục.
Nhờ thống nhất được nhiều người sưu tầm Truyện Kiều hai miền mà giờ đây số bản Kiều cổ tìm thấy được đã hơn bốn chục. Khi so sánh chúng với những bản in quốc ngữ, ví dụ như bản của Bùi Kỷ, người ta đã thấy có nhiều sự khác biệt, không hiểu là sai nhầm hay cố ý. Thường đấy là những từ cổ. Một người nghiên cứu truyện Kiều nói với tôi như vậy. Sự thực có thể là, nếu phiên âm truyện Kiều một cách nghiêm ngặt nhất, thì rất nhiều câu sẽ trở nên tối nghĩa, khó hiểu, và tất nhiên là rất khó cảm, đối với không ít bạn đọc ngày nay. Thậm chí, nó còn gây ra một cảm giác khó chịu, không kém gì một sự phản cảm. Và đấy là một trong vô số cái chết của ngôn ngữ, chết thực đáng tiếc. Những bài thơ nôm của Nguyễn Công Trứ cũng vậy, đôi khi chúng trở nên rối rắm và không kém gì một trò chơi chữ vụng về đối với chúng ta.
Ngoài đời, ai cũng gặp phải những địa danh vô cùng thân thương và xúc động, tuy nhiên lại chẳng hiểu nghĩa của từ đó là gì, hoặc người hiểu được chúng không chiếm số đông. Tên nôm của những làng những xóm, những thôn, rất nhiều cái tên, giờ đây trở thành một hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt, những xác từ, từ rỗng, từ vỏ. Nó cũng như tên một người quá cố, cái tên không thể thay một con người.
Ngôn ngữ đang chết, ở nhiều nơi, nhiều người, dưới nhiều dạng. Một số nơi, loài trâu, một thứ gia súc xuất hiện nhiều trong ca dao, giờ đây không còn nữa, báo hiệu sự tuyệt chủng của từ này trong ngôn ngữ chúng ta. Và khả năng cảm thụ một cách toàn vẹn như chúng ta ngày nay với những câu ca dao về “người bạn” thân thiết ấy sẽ chẳng thể còn tìm lại được trong tương lai gần. Người ta có thể phải cố gắng xúc cảm nó như xúc cảm về một loài rô bốt cổ xưa, hoạt động bằng nhiên liệu tự nhiên chiết từ diệp lục.
Cái chết của ngôn ngữ, như thế, chẳng có gì để bàn cãi và chẳng có gì mới mẻ. Nhưng không phải ai cũng quan tâm đến điều này. Và đáng buồn hơn, không phải ai cũng nghĩ rằng có những vùng ngôn ngữ cần được bảo vệ nghiêm ngặt như chúng ta bảo tồn nguồn gien. Lại càng ít người nghĩ, càng ít hơn người ủng hộ những kẻ đang cố gắng cứu sống thứ ngôn ngữ quý bị mai một, bị lạm dụng. Sự thờ ơ, hay là một sự quan tâm mang đầy thiên kiến hoặc giả tạo cũng đủ để cho công sức của những nhà nghiên cứu như Trần Ðức Thảo, Cao Xuân Hạo trở nên mòn mỏi.
Ngôn ngữ báo chí phổ thông với lượng bạn đọc không nhỏ hàng ngày bào mòn xúc cảm con người, vùi chôn những ký ức ngôn ngữ, để trên đó chồng chất những tên bài cẩu thả, đơn điệu, những câu vô thanh, vô sắc, như những khối bê tông của trại giam tinh thần, những lò thiêu di động.
Người ta cũng có thể dễ dàng nhận ra cái chết của ngôn ngữ cả trong thơ, những bài thơ đăng trên Văn Nghệ và các tờ báo khác. Ðấy chẳng phải là những nầm mồ xanh mướt dịu dàng của ngôn ngữ chúng ta?
Những bài thơ, những trang thơ mà rất cực nhọc mới tìm thấy một sáng tạo ngôn từ, nhưng ta thường xuyên phải đau đớn vì thứ ngôn ngữ xơ cứng như bị bê tông hóa, một thứ ung thư di căn của ngôn ngữ.
Không chỉ thơ mà cả văn xuôi cũng rất hiếm khi in dấu ấn tính cách hay tinh thần tác giả. Thậm chí, đôi khi đọc từ điển chúng ta lại còn thấy hứng thú hơn. Cảm thấy chỉ trong lúc tranh luận văn học ( thực chất là cãi nhau, chửi nhau) thì ngôn ngữ của một số nhà văn nhà thơ mới thực sự có hồn, thực có được các tiêu chuẩn của việc dùng từ theo mục đích.
Tuy nhiên điều quan trọng nhất ở đây không phải là cái chết của ngôn ngữ mà là sự “chuyển động” của nó, cái đã giúp nó tồn tại, và sẽ còn giúp cho nó tồn tại. Ai sẽ làm cái việc cực nhọc ấy, và ai sẽ ngăn cản quá trình ấy? Thật lạ lùng, dường như mọi tìm tòi ngôn ngữ hiện đều bị coi thường, thực chất là bị thóa mạ. Ngay cả với không ít những nhà thơ và nhà nghiên cứu lão thành, mà chúng tôi không tiện nhắc tên, không hề quan tâm tới sự sống chết của ngôn ngữ, hơn nữa lại thường phán về những tìm tòi ngôn ngữ của các nhà thơ cách tân bằng những từ ngữ chẳng hay ho gì. Sự ban thưởng lớn nhất của họ với những đứa con tội nghiệp của ngôn ngữ này, là một phán xét đại loại như “họ là những kẻ dám dấn thân”. Ðôi khi người ta lại cho rằng những kẻ đi kiếm tìm sự sống mới cho ngôn ngữ, đi cứu ngôn ngữ, là những kẻ bế tắc về ngôn từ và những kẻ phá hoại ngôn từ. Thật là những đầu óc “giàu” tưởng tượng đến mức thảm hại.
Thưa tác giả Trần Nghi Hoàng, đấy là sự thật về đời sống ngôn ngữ của chúng ta, ở một đất nước mà bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương là ai thì còn cãi nhau chẳng biết đến bao giờ mới đi đến thống nhất được. Ðơn giản là vì bà đã từng bị “chính sử” tẩy chay quá lâu. Và nếu thơ của bà là một sáng tạo dân gian, điều ấy lại càng chứng minh cho cái đời sống ưu tiên quá nhiều cho sự quen thuộc và cũ kỹ.
Kinh nghiệm cho thấy những nhà thơ có tìm tòi ngôn ngữ, khai phá, tạo nên những chiều kích mới cho ngôn ngữ, đánh thức những tiềm năng ngủ yên lâu ngày của ngôn ngữ, luôn là những kẻ tội đồ hứng chịu không biết bao nhiêu sự sỉ vả của đồng loài và sự dè bỉu của các nhà xuất bản. Vì thế mà ảnh hưởng của họ trở nên rất hạn chế. Và vì thế mà thường người ta phải dùng thứ ngôn ngữ đã cũ mèm, thậm chí đã mục ra trong xúc cảm chúng ta, như những cành cây khô những thửa ruộng hoang nham nhở. Hàng ngày người ta sung sướng với những ngôn ngữ giản đơn của báo chí và các mệnh lệnh hành chính, những nỗi ám ảnh của ngôn ngữ chế tài, và yên tâm rằng đấy là ngôn ngữ bất tử, ngôn ngữ đủ đầy. Thật là một sự ngộ nhận không gì to lớn hơn. Hay nói cách khác, đấy là một sự bạc bẽo với chính bản thân mình, không gì đáng xấu hổ hơn.
Hãy thử nghĩ xem, con họa mi còn là con họa mi nữa hay không, nếu nó chỉ biết hót đúng một điệu thôi, mà điệu ấy, lại chẳng phải là của nó, mà là của một con vịt bầu đang bị cắt tiết.
Những con họa mi đích thực đã trưởng thành và những con họa mi ngây thơ đang bắt đầu sự nghiệp, thì thật đáng ngạc nhiên, người ta lại coi chúng như những thứ chim chóc dớ dẩn, hoặc là một sản phẩm của đầu óc bệnh hoạn đơn thuần.
© 2005 talawas