trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
3.2.2007
Sức Mấy
Giải pháp cho Iraq
 

Bút hiệu Sức Mấy vốn được dùng cho những bài phiếm luận, là loại văn đọc cho vui. Vậy nếu có ai nghĩ rằng nội dung bài này xúc phạm tới cá nhân hay tập thể nào đó, tức là đã lầm lẫn chuyện tầm phào với chuyện đứng đắn. Và không nên lầm lẫn như vậy.

Bài diễn văn 34 ngàn chữ đọc trong 50 phút về Tình trạng Liên bang (State of the Union) của Tổng thống Bush vào tối 23-1 không có điều gì mới về cuộc chiến Iraq. Ông đã chỉ nhắc lại những gì đáng lẽ được đọc vào cuối năm ngoái, nhưng hoãn tới tối ngày 10 tháng 1 năm 2007. Vì trì hoãn, nội dung bị tiết lộ, nên từ hôm trước, báo chí đã đăng ông Bush sẽ tăng hơn hai chục ngàn quân, và những người chống ông đã chuẩn bị sẵn sàng. Chính vì thế, bài diễn văn quan trọng của ông đã bị gán cho nhãn hiệu DOA, “dead on arrival”, tức là khi tới bệnh viện đã chết rồi. Ông Bush cũng biết mình sẽ bị chỉ trích, nên đã nói trước: “Quý vị đáng kính có cái nhìn khác, và sẽ nói ra những chỉ trích của mình” (Honorable people have different views, and they will voice their criticisms). Sức Mấy cũng thuộc hàng đáng kính, nên cũng có quan điểm riêng.

Trước hết, ông Bush đáng khen ở chỗ đã thẳng thắn nhìn nhận: tình trạng hiện nay ở Iraq không thể chấp nhận được, và người chịu trách nhiệm về các sai lầm chính là ông (Where mistakes have been made, the responsibility rests with me). Nhưng ngay khi nhận trách nhiệm về những sai lầm cũ, ông Bush đã phạm sai lầm mới, là quyết định mang vào Iraq thêm 21.500 quân.

Chiến lược mới của ông Bush dựa vào sự hữu hiệu của quân đội và cảnh sát Iraq. Trong thông điệp ngày 23-1, ông nói chiến lược mới đòi hỏi nhiều hơn từ chính quyền dân cử Iraq (We are carrying out a new strategy in Iraq – a plan that demands more from Iraq’s elected government). Và rằng họ đã hứa sẽ điều động thêm quân của họ để giữ an ninh ở Baghdad – và họ phải làm như vậy (They have promised to deploy more of their own troops to secure Baghdad – and they must do so). Bà Hillary Clinton, người mới tuyên bố ra tranh cử tổng thống, cũng nói ông Bush cần đòi hỏi nhiều hơn từ phía Iraq, để quân Mỹ sớm rút về.

Trở lại hôm 10-1, ông Bush nói sẽ có 18 lữ đoàn binh sĩ và cảnh sát dàn ra tuần tiễu khắp chín quận của Baghdad, “lập trạm kiểm soát trên đường phố, và đi từng nhà để đạt sự tin tưởng của người dân Baghdad” (conducting patrols, setting up checkpoints, and going door-to-door to gain the trust of Baghdad residents).

Theo Tường trình của Nhóm Nghiên cứu về Iraq (Iraq Study Group Report) mới công bố hôm 06-12-06, chỉ có nhiều nhất 50% quân đội Iraq sẵn sàng ứng chiến, binh lính vô kỷ luật, và mỗi tháng được nghỉ một tuần đem lương về nhà. Vẫn theo bản nghiên cứu, tình trạng ngành cảnh sát còn tồi tệ hơn. Phần lớn cảnh sát Iraq là thành phần của các phe nhóm vũ trang kình chống nhau. Bằng chứng hiển nhiên: Trong cuộc hành quyết Saddam Hussein sáng 30-12-06, những nhân viên tham dự phải được chọn lựa kỹ càng, nhưng khi treo cổ tử tội, bất chấp lệnh trên, họ đã lén quay phim rồi cho phổ biến rộng rãi, và tung hô lãnh tụ một nhóm quá khích võ trang: “Moqtada! Moqtada! Moqtada!”

Chính phủ Iraq là chủ, và là người trả lương, còn không tin được nhân viên của mình trong những nhiệm vụ cực kỳ tế nhị như treo cổ Saddam, làm sao cảnh sát Iraq có thể tạo được lòng tin trong dân chúng, như ông Bush mong mỏi?! Nếu lực lượng cảnh sát là người của Moqtada al-Sadr, đi từng nhà dân để kiểm soát an ninh, mà người dân thuộc phái Sunni, chuyện gì sẽ xảy ra?

Nửa tháng sau vụ treo cổ Saddam đầy tai tiếng, mà chính Tổng thống Bush cũng phải than phiền là giống như một vụ trả thù (looked like it was kind of a revenge killing), lại diễn ra vụ treo cổ kinh hoàng hai bộ hạ của Saddam vào ngày 15-1, là Awad Haman Bander, cựu chánh thẩm tòa án cách mạng của Saddam Hussein, và trưởng cơ quan tình báo Ibrahim, cũng là anh em cùng cha khác mẹ của Hussein. Tử tội này bị đứt cổ, gây công phẫn trong dư luận. Giải pháp mới của ông Bush dựa vào sự hữu hiệu của Iraq để Mỹ có thể sớm rút quân. Nhưng Mỹ đã làm hết mọi sự, bắt Saddam và mấy bộ hạ, đưa cho Iraq chỉ việc treo cổ, mà làm cũng không xong, còn trông mong gì?

Nhiều người hiện nay đã so sánh Iraq với Việt Nam. Điều này có thể đúng phần nào, nhưng không phải Việt Nam năm 1973, mà Việt Nam năm 1954, với vị thủ tướng không phải ông Ngô Đình Diệm, mà là một người của Bình Xuyên. Ông Bush nói Thủ tướng Maliki đã hứa với ông sẽ thẳng tay với các phe phái vũ trang. Nhưng làm sao có thể thực hiện điều này, khi chính ông Maliki cũng thuộc một trong các phe nhóm vũ trang? Nhờ Moqtada al-Sadr ủng hộ, ông mới có thể làm thủ tướng. Làm sao ông có thể dẹp Moqtada và cái sào huyệt Sadr City?

Ông Bush còn nói hơn hai chục ngàn quân tăng thêm sẽ được dùng tại Baghdad, làm việc cùng với các đơn vị Iraq, và “đồng sàng” (embedded) với họ (These troops will work alongside Iraqi units and be embedded in their formations).

Ông nói rằng mỗi sư đoàn quân Iraq sẽ hoạt động liên kết với một lữ đoàn quân đồng minh. Ông không biết rằng chính sự hiện diện của quân Mỹ đã gây phẫn nộ trong dân chúng Iraq. Tăng thêm sự hiện diện của quân ngoại quốc, là tăng thêm phẫn nộ. Hơn nữa, “cấy” (embedded) quân Mỹ vào các đơn vị quân Iraq, hay hoạt động chung với họ, là tạo thêm sự lệ thuộc của quân Iraq vào quân nước ngoài. Họ sẽ có thói quen không thể hoạt động độc lập, và Mỹ không thể rút lui, trái với mục tiêu của chiến lược mới.

Sau khi đưa ra đường lối mới, mà những người đáng kính như Sức Mấy đều thấy là vớ vẩn, ông Bush nói: “Vấn đề là liệu chiến lược mới có đem chúng ta tới gần kết quả hơn hay không. Tôi tin là sẽ có.” (The question is whether our new strategy will bring us closer to success. I believe that it will). Vấn đề mà Sức Mấy nhìn thấy là liệu niềm tin của ông Bush đúng hay sai? Chính ông đã trả lời ngay trong phần mở đầu thông điệp: Mới cách đây hơn một năm, sau cuộc bầu cử 2005 thành công tuyệt vời (stunning achievement), “Chúng tôi nghĩ rằng… chúng ta có thể hoàn thành sứ mạng với ít quân Mỹ hơn. Nhưng năm 2006, chuyện trái ngược đã xảy ra” (We thought that… we could accomplish our mission with fewer American troops. But in 2006, the opposite happened). Điều ông tin tưởng vào năm 2005, đã đưa tới kết quả trái ngược vào năm 2006. Vậy điều ông tin tưởng vào năm 2007, chắc cũng gặt hái kết quả trái ngược vào năm 2008.

Bị chỉ trích gắt gao từ mọi phía, ông Bush đã dùng bài nói truyện vào Thứ Bảy hàng tuần trên Radio (13-01-07) để thách thức những ai chỉ trích ông phải đưa ra đề nghị hay hơn, nếu không, chỉ là kẻ vô trách nhiệm. Ông nói: “Những ai từ chối cho kế hoạch này (của ông) một cơ may thực hiện, có nghĩa vụ cung ứng một một kế hoạch khác có nhiều triển vọng thành công hơn. Chống tất cả mọi điều trong khi lại không đưa ra đề nghị gì là vô trách nhiệm” (But those who refuse to give this plan a chance to work have an obligation to offer an alternative that has a better chance for success. To oppose everything while proposing nothing is irresponsible).

Người đáng kính như Sức Mấy không thể để ông Bush ngụ ý là vô trách nhiệm. Do đó, sẽ trình bày sau đây không phải một hay hai, mà bốn kế hoạch thần sầu cho Iraq, để ông Bush tha hồ lựa chọn.

Theo Binh thư yếu lược của Tôn Tử, khi dụng binh, biết mình biết người trăm trận thắng cả trăm. Sở trường, sở đoản của Mỹ là gì, và kẻ thù của Mỹ mạnh yếu ở chỗ nào? Ai cũng biết Mỹ giàu tiền, giỏi kỹ thuật, là những điểm mạnh. Nhưng yếu về sinh mạng. Thật ra, không phải Mỹ sợ chết, nhưng là một dân tộc trẻ trung, ham vui (fun loving), nếu vui mà chết, thì sẵn sàng. Phóng xe vù vù trên xa lộ, khá vui, mỗi năm đụng nhau chết khoảng 50 ngàn, gần bằng tổng số binh sĩ chết vì chiến tranh Việt Nam trong mười năm. Trai gái hẹn hò, làm tình với nhau cũng khá vui, rồi mỗi năm giết trên dưới một triệu bào thai, cũng OK. Nhưng chết trong rừng Việt Nam, hay trên đường phố Baghdad, không vui tí nào. Chết một người, đã là quá nhiều, huống chi đã trên ba ngàn người. Nhiều hơn số người bị chết trong biến cố 11-9. Kẻ thù của Mỹ nghèo tiền, nhưng giàu nhân mạng. Dân Hồi giáo cuồng tín không chết vì vui, mà sẵn sàng chết để được lên thiên đàng. Ông Bush quyết định đem thêm quân vào Iraq, là dùng cái yếu của mình để chọi với cái mạnh của địch. Không biết mình biết người, thất bại là cái chắc.

Vậy tất cả mọi kế hoạch để giải quyết chiến tranh Iraq, muốn thắng, đều phải dựa vào thế mạnh của Mỹ, là chỉ dùng tiền cùng kỹ thuật, và không được đụng tới chỗ yếu, là sinh mạng. Sau đây là bốn đường lối giải quyết:

Đế đạo

Iraq tuy thuộc một trong những vùng văn minh sớm nhất của nhân loại, nhưng không phải là một quốc gia đã được thành lập hàng ngàn năm như Việt Nam. Vùng này đã qua tay nhiều thế lực thù nghịch như Ba Tư, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ, và nước Iraq hiện nay chỉ mới được nước Anh đặt tên cùng phân định ranh giới sau Đệ nhất Thế chiến. Tám mươi phần trăm của hai mươi sáu triệu dân Iraq hiện nay là người Ả Rập, cùng theo Hồi giáo, nhưng thuộc hai hệ phái đối nghịch nhau: Gần 60% theo phái Shiite, hơn 30% phái Sunni. Gần 20% dân số còn lại là người Kurds. Từ khi lập ra nước Iraq, ba nhóm dân số chính này không hòa thuận với nhau. Gần nửa thế kỷ qua, Saddam Hussein thuộc phái Sunni, đã dùng sắt máu để cai trị. Hai nhóm kia đành chịu khất phục. Nay Saddam không còn, với từ bảy tới tám triệu võ khí cá nhân (trong số có hơn một triệu AK) do đạo quân của Saddam bị giải tán để lại, các phe thù địch tìm cách hạ nhau là điều đương nhiên. Khi anh em một nhà quyết ăn thua đủ với nhau, người ngoài không thể làm gì được.

Cách tốt nhất là chia Iraq thành ba nước độc lập. Một nước của người Shiite ở phía Đông Nam; một nước của người Sunni về phía Tây Bắc; và nước của người Kurds ở phía Đông Bắc. Đã có tiền lệ trong lịch sử. Ấn Độ và Pakistan vốn cùng một vùng thuộc địa của Anh. Năm 1947, Anh trả lại độc lập, hai nhóm dân chính theo đạo Hindu và Hồi giáo không chịu nhau. Đành phải chia thành hai nước Ấn và Pakistan. Tuy cùng tôn giáo, nhưng đến năm 1971 Tây Pakistan và Đông Pakistan lại xung đột về kinh tế và văn hóa. Sau một trận đánh nhau, Đông Pakistan tách rời thành nước Bangladesh.

Một ví dụ khác: Mã Lai và Singapore vốn là thuộc địa của Anh. Sau khi được độc lập, năm 1962 Singapore sát nhập với Mã Lai, thành lập liên bang Malaysia. Nhưng Mã Lai và Singapore bất hòa với nhau, năm 1965 Singapore tách ra thành quốc gia độc lập. Thay vì giết nhau như người Shiite và Sunni hiện nay ở Iraq, người Mã Lai và Singapore đã phát triển trong hòa thuận hơn ba chục năm qua.

Gần đây hơn, nước Tiệp Khắc (Czechoslovakia) sau 42 năm dưới quyền cai trị của cộng sản, khi trở thành dân chủ sau cuộc cách mạng nhung (velvet revolution) năm 1989, vì xung khắc nội bộ không hàn gắn được, đã phải tách ra thành hai nước độc lập là Cộng hòa Czech và Slovakia vào năm 1993. Nước Nam Tư (Yugoslavia) cũ, sau khi nhà độc tài Tito không còn nữa, cũng xung khắc nội bộ, và từ năm 2003 đã đổi tên thành “Serbia và Montenegro”, một hình thức liên bang rất lỏng lẻo, với hai tiểu quốc Serbia và Montenegro. Liên bang có tổng thống chung, nhưng mỗi tiểu quốc có tổng thống và thủ tướng riêng. Hai tiểu quốc hầu như độc lập với nhau, chỉ cùng liên hệ trong lãnh vực ngoại giao và quốc phòng.

Trở ngại là hiện nay cả ba nhóm ở Iraq đều không muốn ra riêng, chỉ vì món dầu hỏa béo bở. Khu vực người Sunni không có dầu, nếu thành quốc gia độc lập, họ sẽ mất nguồn lợi dầu từ các khu vực kia. Khu vực có đa số người Shiite có mỏ dầu, ở vùng gần Kuwait, nhưng ít hơn khu vực của người Kurds. Người Kurds vẫn thiết tha mong được độc lập, nhưng có một khu vực nhiều dầu chưa hoàn toàn nằm trong tay họ. Nếu đòi độc lập sớm, có thể bị mất khu vực này. Hơn nữa, giáp giới với khu người Kurds trên đất Iraq, còn có người Kurds trên đất Iran và đất Thổ Nhĩ Kỳ. Hai nước này chống lại giải pháp cho người Kurds ở Iraq độc lập, sợ dân Kurds trên đất mình cũng làm theo.

Đây là chỗ Mỹ có thể can thiệp bằng sở trường của mình. Ở đâu thiếu mỏ dầu đen, hãy cho họ một mỏ dầu xanh. Nghĩa là dùng đô la Mỹ bù vào chỗ thiếu hụt, và thỏa mãn những nước sợ mất đất. Trong diễn văn 10-1, ông Bush chủ trương chia đều tiền bán dầu cho toàn dân Iraq (Iraq will pass legislation to share oil revenues among all Iraqis). Trong thông điệp tối 23-1, ông Bush nhắc lại chủ trương chia đều tiền bán dầu cho toàn dân Iraq, coi đó như một hành vi hòa giải (Iraq’s leaders have committed themselves to a series of benchmarks to achieve reconciliation – to share oil revenues among all of Iraq’s citizens). Đây là một sai lầm nghiêm trọng, vì điều này đào sâu thêm chia rẽ. Khi anh em một nhà giàu nghèo không giống nhau; khi thằng anh sẵn sàng chết để giữ của và thằng em cũng sẵn sàng thí mạng cùi để được chia phần, nếu cưỡng bách phải chia đồng đều, chúng sẽ thù nhau hơn nữa.

Giải pháp tốt nhất là chia ba nhóm thành ba nước độc lập. Nước nào có mỏ dầu, được giữ riêng cho mình, không phải chia cho ai sất cả. Nước nào ít hay không có dầu, Mỹ sẽ bù vào để phát triển kinh tế, hầu đạt lợi tức ngang bằng với nước có nhiều dầu nhất. Ví dụ tổng sản lượng của nước Kurds độc lập, có nhiều dầu nhất, là 10 tỉ đô la mỗi năm, trong khi tổng sản lượng của nước Sunni độc lập, ít dầu nhất, chỉ có 2 tỉ. Mỹ sẽ chi cho Sunni mỗi năm 8 tỉ để phát triển kinh tế. Tiền của Mỹ sẽ giảm dần, tỉ lệ nghịch với mức phát triển. Cho đến khi Sunni ngang với Kurds, thì thôi. Với nước Shiite cũng vậy, nhờ có ít dầu, nếu khi độc lập, tổng sản lượng chỉ có 6 tỉ, Mỹ sẽ chi cho 4 tỉ để ngang bằng với các nước kia, và cũng giảm dần tùy theo mức phát triển kinh tế. Để Iran và Thổ khỏi chống đối, Mỹ sẽ mua lại theo thời giá đất đai của tất cả những người Kurds muốn di chuyển tới sống tại nước Kurds mới độc lập, rồi trả lại cho hai nước này. Tất nhiên, việc phân chia thành ba nước không dễ dàng như trên lý thuyết, ví dụ phía Tây Nam sông Euphrates là vùng “xôi đậu”, nơi dân Ả Rập theo cả hai phái Sunni và Shiite cùng sinh sống. Sau khi chia, sẽ có chuyện di cư, Mỹ sẽ bỏ tiền mua tài sản của những người ra đi, tặng lại cho chính quyền nước họ rời bỏ, và lo cho họ định cư yên ổn nơi nước mới nhập cư.

Có người sẽ cho rằng giải pháp Đế đạo trên đây quá đắt. Thật ra, nó quá rẻ so với số tiền ông Bush đang chi tiêu ở Iraq. Hơn bốn năm qua, Mỹ đã tốn hơn bốn trăm tỉ đô la. Đổ đồng, mỗi năm hơn một trăm tỉ, hay mỗi tuần khoảng hai tỉ rưỡi. Lập mỏ dầu xanh cho Iraq đỡ tốn nhơn nhiều. Và chắc chắn không tốn giọt máu nào.

Vương đạo

Đế đạo là đường lối hành động cao nhất, nghiêm chỉnh nhất, nhân từ nhất, nhưng chỉ hợp với những người có đủ tư cách và ở địa vị cao, như các vị hoàng đế. Nếu ông Bush cảm thấy mình không xứng đáng, có thể chọn cách hành xử thấp hơn, dành cho hàng vua chúa, gọi là Vương đạo.

Trước hết, cần làm một cái test để hiểu rõ sự quan trọng của tôn giáo, chủng tộc, và quốc gia. Một người sẵn sàng chết vì đạo, là coi tôn giáo trọng hơn bản thân. Một người trong gia đình tranh ăn nhiều hơn, hay ngon hơn, hoặc trốn việc, làm ít hơn những người kia, là coi bản thân hơn gia đình. Khi người trong gia đình bênh nhau đánh người ngoài vì quyền lợi, là coi gia đình trọng hơn chủng tộc. Người Việt ở Cali bầu cho ứng cử viên gốc Việt, mặc dầu biết có ứng cử viên khác khá hơn, là coi chủng tộc trọng hơn quốc gia. Vậy, trên nấc thang giá trị, tôn giáo quan trọng hàng đầu, quốc gia hàng chót. Khu tự trị Bùi Chu Phát Diệm vào các năm 1949-1950, dưới quyền lãnh đạo của Giám mục Lê Hữu Từ và Linh mục Hoàng Quỳnh, cũng chọn tiêu đề cho các văn thư chính thức là “Thiên Chúa và Tổ Quốc”, tôn giáo trước, quốc gia sau. Ngay tại Hoa Kỳ, sau hơn hai trăm năm cố gắng tách rời tôn giáo khỏi chính quyền, ngày nay, mỗi khi tuyên thệ, tổng thống và các viên chức cao cấp vẫn đặt tay trên Thánh Kinh. Và khi khai mạc cũng như bế mạc khóa họp Quốc Hội, vẫn có mục sư đọc kinh. Quốc hội Hoa Kỳ khóa 110 mới khai mạc, có một Dân biểu đầu tiên theo Hồi giáo, khi tuyên thệ nhậm chức, đã đặt tay trên Kinh Qar’an. Khi ông Bush hô hào người Sunni và người Shiite dẹp bỏ đố kỵ tôn giáo để cùng nhau xây dựng quốc gia Iraq, là xúi ngưới ta lật ngược thang giá trị.

Như đã trình bày, Iraq là một quốc gia bất cập, do Anh quốc lập thành. Người Anh đã vẽ ra biên giới, quây ba nhóm người vốn kình chống nhau, để họ sống chung trong một khu vực, đặt tên là nước Iraq. Dưới bàn tay sắt của Saddam, họ đành chịu yên một bề. Nay Mỹ hạ Saddam, họ trả thù nhau về những bất công trong quá khứ, và sẽ chống nhau cho đến khi có một bàn tay Saddam khác. Nếu cái hình thức quốc gia được thành lập vội vã theo kiểu đồ ăn liền (fast food) đã gây ra cảnh chém giết lẫn nhau, thì cách giải quyết tốt nhất, là hãy xóa bỏ nó đi.

Xóa bằng cách: Khu người Shiite ở phía Đông, cùng tôn giáo và thân thiết với Iran, cho sát nhập vào Iran. Khu người Sunni ở phia Tây, giáp với Jordan và Saudi-Arabia, cùng tôn giáo và thân thiết với Saudi-Arabia, cho sát nhập vào nước này. Riêng người Kurds ở miền Bắc, nguyện vọng từ lâu của họ là muốn được độc lập, họ cũng tin tưởng và trung thành hợp tác với Hoa Kỳ trong những giai đoạn khó khăn nhất, họ xứng đáng được độc lập, và Hoa Kỳ có bổn phận phải dàn xếp với Thổ và Iran để bảo đảm nền độc lập của họ.

Sau khi Mỹ đã rút lui, và sau khi khu Sunni đã sát nhập vào Saudi-Arabia, cũng như khu Shiite đã nhập vào Iran, cái rắc rối của cuộc đời là Iraq bỗng nhiên biến mất. Hai nước thù địch nhau là Saudi-Arabia và Iran nằm cạnh nhau, sẽ canh chừng nhau. Mỹ khỏi bận tâm. Nếu hai nước này không chịu chung sống hòa bình, cất quân đánh nhau, càng tốt. Mỹ sẽ có cơ hội đổi võ khí lấy dầu hỏa.

Bá đạo

Nếu cảm thấy không xứng đáng theo cách giải quyết của hàng vua chúa, ông Bush vẫn còn cơ hội theo một đường lối thấp hơn, áp dụng cho hàng bá hộ, những người giàu có làm chủ khoảng trăm mẫu đất.

Theo cách này, ông Bush ra lệnh giải tán ngay lực lượng Đồng minh tại Iraq, rút hết hơn một trăm bốn mươi ngàn quân Mỹ ra khỏi các vùng của người Sunni và Shiite. Để lại chừng ba chục ngàn quân đóng tại khu vực người Kurds giúp họ bảo vệ an ninh. Còn bao nhiêu, rút về hết. Cùng lúc, đóng cửa ngay tòa đại sứ Mỹ lớn nhất thế giới ở Baghdad, cấp tốc mang hơn một ngàn nhân viên về nước.

Sau khi Mỹ rút, chiến tranh tôn giáo sẽ bùng nổ ác liệt, giữa phái Sunni và Shiite. Cuộc chiến sẽ không giới hạn trong phạm vi biên giới Iraq, mà lan rộng mau chóng. Saudi-Arabia, Ai Cập sẽ lâm trận bênh vực phe Sunni. Iran sẽ tiếp tay phái Shiite. Trong khi hai bên đánh nhau tưng bừng, Mỹ sẽ lập cầu tiếp tế và di tản. Tiếp tế võ khí và nhân mạng, võ khí “made in USA”, nhân mạng là những người Hồi giáo cuồng tín từ khắp nơi trên thế giới đổ về Iraq để giết nhau. Trong khi ấy, di tản những thành phần thượng lưu trí thức Iraq, sang Mỹ làm cu-li và bán McDonald, thay thế lớp cu-li tị nạn trước, nay đã khá giả, hoặc tới tuổi về hưu.

Nhiều người cứ chê quan toàn quyền L. Paul Bremer III bất tài, được ông Bush cử sang cai trị Iraq vào tháng 5-2003 đã làm hỏng việc. Thật ra, ông này đã làm được một kỳ công, là khiến hai phe Hồi giáo Sunni và Shiite, thay vì cùng thù Mỹ, đã thành kẻ thù không đội trời chung. Shiite thân Iran, trước đây đã gọi Mỹ là quỷ Satan. Sunni thân Saudi-Arabia, quê hương của Osama bin Laden, người đã lập ra al-Qaeda, thủ phạm vụ 11-9. Ông Bremer vừa tới Iraq đã ra lệnh diệt đảng Baath, là đảng cầm quyền của phái Sunni dưới thời lãnh tụ Saddam Hussein. Cả một giai cấp có quyền thế, chẳng những mất lãnh tụ, mất địa vị, đau nhất là mất cả việc làm, vừa đói, vùa bị đe dọa tới tính mạng. Kẻ đứng đầu ủy ban diệt trừ đảng Baath là ông Chalabi, một người thuộc phái Shiite lưu vong mới về. Phe Sunni vùng dậy chống phe Shiite là điều dễ hiểu. Cho đến khi phe Sunni phá ngôi đền vàng (Golden Mosque) linh thiêng nhất của phái Shiite ở Samara, và chính quyền trong tay Shiite treo cổ Saddam và hai bộ hạ, sự thù hận giữa Sunni và Shiite đã hết thuốc chữa. Hai bên thù nhau, Mỹ đóng vai ngư ông hưởng lợi.

Giải pháp Bá đạo có nhiều điểm lợi. Trước hết, giới cuồng tín Hồi giáo thuộc cả hai phía sẽ thanh toán nhau, Mỹ không tốn một giọt máu. Hãy nhìn lại lịch sử, vào Thế kỷ 16, 17, Công giáo La Mã cũng dữ dằn chẳng kém gì phe Hồi giáo quá khích ngày nay. Nhờ có cuộc chiến 30 năm (1618-1648) giữa Công giáo và Tin lành ở Âu châu, từ đó cả hai phe đều hiền khô. Bây giờ, nếu các phe quá khích của Hồi giáo được dịp thử sức nhau, họ sẽ tiêu diệt lẫn nhau. Với võ khí hiện đại, chẳng cần tới 30 năm như ngày xưa. Còn lại, sẽ toàn là những người ôn hòa.

Lợi điểm thứ nhì về kinh tế. Mười lăm trong mười chín thủ phạm của vụ 11-9 mang quốc tịch Saudi-Arabia, nhưng ông Bush không dám đụng tới nước này, vì số dầu dự trữ ở đây lớn nhất thế giới. Saudi-Arabia dùng cơ quan OPEC để điều chỉnh giá dầu thế giới. Khi cả nước này và Iran cùng trực tiếp đánh nhau vì Iraq, họ sẽ cần nhiều tiền, sẽ bơm dầu như điên, giúp giá dầu hạ xuống. Các nước sản xuất dầu khác, như Venezuela với ông Tổng thống Hugo Chávez chuyên móc họng Mỹ, dù không trực tiếp tham chiến, cũng phải bơm thêm dầu để giữ vững mức thu, khiến dầu càng rẻ thêm. Xe hơi sẽ bán chạy, kéo theo mọi lãnh vực. Nước Tàu, hơn một tỉ người lần đầu tiên được hưởng cái thú đi xe hơi, nhờ dầu rẻ, sẽ chỉ lo chế tạo xe và đắp đường, và nông dân tối ngày biểu tình phản đối vì bị lấy đất làm đường, thế là Mỹ đỡ phải đối phó với cường quốc mới.

Điểm lợi thứ ba về nhân lực. Nước Mỹ, từ một cựu thuộc địa của Anh, đã vọt lên ngôi vô địch thế giới vào hậu bán thế kỷ trước, nhờ liên tiếp thâu tóm được một nguồn nhân lực không nước nào có được. Đó là những nhân tài từ khắp nơi, được mang tới Mỹ trong nhiều đợt, phần lớn chỉ để làm cu-li. Sau năm 1945, là những nhân tài được góp nhặt từ Âu châu. Đầu thập niên 50, là lớp người tới sau chiến tranh Cao Ly. Đầu 60, những tinh hoa tới từ Cuba. Giữa thập niên 70, vài triệu người ưu tú nhất tới từ Việt Nam. Đầu 90 là lớp người tới từ các nước cựu cộng sản. Đã đến lúc cần một lớp cu-li ưu tú từ Trung Đông.

Xịa đạo

Nếu ông Bush không dùng được cả ba giải pháp trên, đây là giải pháp chót, do CIA chủ động. Ông Bush Bố là giám đốc CIA thời Tổng thống Ford. Đương kin Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates là giám đốc CIA thời ông Bush Bố làm tổng thống. Hy vọng ông Bush con nhờ quen thuộc nhiều với ngành Xịa, mà thành công với giải pháp này.

Xịa đạo cũng tương tự như Bá đạo. Bước đầu rút hết quân Mỹ, và đóng cửa Đại sứ quán Mỹ ở Baghdad. Để một bộ phận CIA đóng tại khu vực của người Kurds điều hành kế hoạch. Ông Bush nói đa số dân Iraq từ cả hai phía đều muốn sống yên ổn, chỉ có bọn cuồng tín quá khích là ưa chém giết. Ông Bush còn nhấn mạnh: “Bọn khủng bố và quân nổi dậy ở Iraq là những kẻ vô lương tâm, chúng sẽ bạo động và làm đổ máu vào năm tới” (Let me be clear: The terrorists and insurgents in Iraq are without conscience, and they will make the year ahead bloody and violent). Đã biết như vậy, CIA chỉ cần ra tay trước.

Kế hoạch thông thường của quân khủng bố và nổi dậy là tự làm lấy bom, cho quân cảm tử chất vào xe, hay đeo vào người, tìm tới mục tiêu, cho nổ và cùng chết với nạn nhân. Với kỹ thuật cao và nhiều tiền, CIA có thể cho chế tạo hàng loạt xe có sẵn bom, và áo jacket đủ cỡ, gắn những trái bom cực mạnh, trang bị cả loại ngòi nổ có thể điều khiển từ xa. Những cảm tử quân đem bom tới mục tiêu mà tỏ ra lúng túng vì sợ, CIA sẽ cho nổ từ xa. Qua một hệ thống phân phối bí mật, CIA cung cấp xe bom và áo bom cho quân cảm tử của cả đôi bên. Lại cung cấp cả địa chỉ các mục tiêu của đối phương cần triệt hạ. Quân khủng bố bên này sẽ tìm bên kia để thanh toán. Chẳng bao lâu, những người hiếu chiến của cả hai bên đều bị tiêu diệt.

Tất cả bốn giải pháp trên đều dựa trên căn bản tiết kiệm xương máu của Mỹ tới mức tối đa. Mặc dầu vài giải pháp hơi tốn kém về tài chánh, nhưng vẫn còn rẻ hơn nhiều so với mức tốn kém hiện nay. Đại diện đảng Dân Chủ để phản bác thông điệp liên bang của Tồng thống Bush tối 23-1, Nghị sĩ James Webb đòi hỏi một chính sách có thể rút binh sĩ Mỹ khỏi đường phố Iraq, và tìm biện pháp mang quân về nước trong thời gian ngắn (a policy that takes our soldiers off the streets of Iraq’s cities, and a formula that will in short order allow our combat forces to leave Iraq). Quốc hội mới với đa số Dân Chủ, đang ra Nghị quyết chống lại chính sách tăng quân. Ông Bush nên nhân cơ hội này rút quân về, thế là phe Dân Chủ phải chịu trách nhiệm đã bỏ chạy.

Ít lâu nữa, các thành phần quá khích của cả hai phía Sunni và Shiite đều thành thánh tử đạo và lên hết Thiên đàng. Sẽ có một tiến sĩ gốc Iraq, viết cuốn sách Khi đồng minh tháo chạy, đổ hết tội lỗi cho Quốc hội với đa số Dân chủ, và ca tụng George W. Bush đã nhân đạo, cứu được hàng triệu người Iraq đem vào Mỹ, biến vùng sa mạc trung tây nước Mỹ thành một miền trù phú. Lúc ấy Mỹ sẽ trở lại Iraq cũ trong sự đón tiếp nồng nhiệt, giữa cảnh hoa đăng và lời tung hô dành cho anh hùng chiến thắng. Các nhà quan sát tình hình thế giới lại thi nhau viết bài bình luận về đề tài “Iraq giống Việt Nam”.

© 2007 talawas

 
© talawas 2026