
1. Tiểu sử Shirin Ebadi [1]
Shirin Ebadi, người Iran, luật sư và nhà hoạt động cho nhân quyền, sinh năm 1947, tốt nghiệp khoa luật Ðại học Tehran. Từ năm 1975 tới 1979, bà là nữ thẩm phán đầu tiên tại Iran và làm chánh thẩm toà án thủ đô Tehran. Sau cuộc cách mạng 1979, bà bị buộc từ nhiệm.
Hiện nay, Ebadi hành nghề luật sư, đồng thời dạy tại Ðại học Tehran. Trong lãnh vực nghiên cứu cũng như hoạt động, bà có tiếng là người cổ động các giải pháp dân chủ và hoà bình cho những vấn đề nghiêm trọng trong xã hội. Ðóng vai trò tích cực trong cuộc tranh luận công khai, bà nổi tiếng và được công chúng trong nước ngưỡng mộ vì tại toà án, bà biện hộ cho các nạn nhân cuộc tấn công của phe bảo thủ về tự do ngôn luận và tự do chính trị.
Ebadi tiêu biểu cho Hồi giáo Cải cách và tranh biện cho sự diễn giải mới luật Hồi giáo, hoà điệu với các nhân quyền chủ yếu như dân chủ, bình đẳng trước pháp luật, tự do tôn giáo và tự do ngôn luận. Riêng về tự do tôn giáo, cần ghi nhận rằng Ebadi gồm vào đó cả quyền của thành viên cộng đồng Bahai vốn là vấn đề tại Iran ngay từ lúc tôn giáo ấy mới được thành lập.
Ebadi là nhà hoạt động cho quyền của người tị nạn cũng như cho các quyền của phụ nữ và trẻ em. Bà thành lập và đứng đầu Hội Hỗ Trợ Quyền Của Trẻ Em tại Iran. Ebadi đã viết một số sách có tính hàn lâm và các bài báo đặt trọng tâm vào nhân quyền. Trong số sách của bà được dịch sang tiếng Anh có các cuốn The Rights of the Child – Quyền của đứa trẻ; A Study of Legal Aspects of Children’s Rights in Iran – Nghiên cứu các khía cạnh pháp lý quyền của trẻ em (Tehran, 1994), được xuất bản với sự giúp đỡ của Quỹ Nhi Ðồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), và History and Documentation of Human Rights in Iran – Lịch sử và chứng liệu về nhân quyền tại Iran, (New York, 2000).
Là luật sư, Ebadi can dự vào rất nhiều hồ sơ chính trị đầy tranh cãi. Bà là luật sư biện hộ cho gia đình các nhà văn và các nhà trí thức, nạn nhân của các vụ giết người hàng loạt năm 1999-2000. Bà làm việc tích cực – và hiệu quả – để phát giác những hiệu trưởng đứng đằng sau cuộc tấn công sinh viên tại Ðại học Tehran năm 1999, làm thiệt mạng mấy sinh viên. Hệ quả là bà bị bắt giam nhiều lần.
Với Hồi giáo như một điểm khởi hành, Ebadi vận động cho những giải pháp hoà bình nhằm giải quyết những vấn đề xã hội và cổ vũ sự tư duy mới mẻ các thuật ngữ Hồi giáo. Bà biểu lộ lòng can đảm lớn lao của riêng mình khi làm luật sư biện hộ cho những cá nhân và các nhóm nạn nhân của một hệ thống luật pháp và chính trị vốn được pháp chế hoá thông qua sự diễn giải phi nhân tính về Hồi giáo. Ebadi cho thấy ý nguyện và khả năng hợp tác với các đại biểu thế tục cũng như các quan điểm tôn giáo.
2.Diễn văn trao giải [2]
(của Giáo sư Ole Danbolt Mjos, Chủ tịch Ủy ban Nobel Na uy, ngày 10.12.2003)
Thưa Hoàng thượng, Quí vị Hoàng thân, Người nhận giải Nobel Hoà bình, Quí vị Thượng khách và Phu nhân,
“Ủy ban Nobel Na uy quyết định trao Giải Nobel Hoà bình năm 2003 cho Shirin Ebadi vì những nỗ lực của bà cho dân chủ và nhân quyền. Bà đặc biệt đặt trọng tâm vào cuộc vận động cho các quyền của phụ nữ và trẻ em.” Ðó là câu thứ nhất trong bản tuyên bố ngày 10.10 về Người nhận giải Nobel Hoà bình năm nay. Thưa Shirin Ebadi, tôi tin rằng lời tuyên bố ấy đã làm thay đổi cuộc sống của bà. Tên bà sẽ chiếu sáng trong lịch sử Giải Hoà bình. Chúng ta hãy hy vọng rằng giải này cũng sẽ gây hứng khởi cho chuyển biến tại Iran, quê hương yêu dấu của bà, và thêm nữa, tại nhiều phần đất thuộc thế giới phương Tây. Ở khắp nơi và mọi thời, các giá trị cơ bản như tự do, công lý và tôn trọng nhân quyền đều cần tới những nhà đấu tranh có tính cảnh giác và phê phán.
Một nhà thơ vĩ đại Ba tư, Rumi hoặc như người Iran ưa gọi là Mowlavi, sống ở thế kỷ 13. Ðâu đó trong tác phẩm “Mathnawi” có bài thơ ngắn về một kẻ bất hạnh khốn khổ bị sa vào cuộc tấn công của một con rồng hung dữ. Vào khoảnh khắc cuối cùng, có vị anh hùng nghĩa hiệp xông vào, và đây là ý kiến của Runmi:
“Có những người phò nguy như thế trên cõi đời này
lao vào cứu khổn kẻ khóc lóc
như chính Lòng Thương Xót
họ ào tới kẻ kêu la
và không ai có thể mua chuộc họ
Nếu bạn hỏi một trong những người ấy:
‘Tại sao đến quá nhanh như thế?’
Họ dù nam hoặc nữ sẽ trả lời:
‘Vì tôi nghe rằng ngươi chơ vơ.’
Saadi xứ Shiaz, một trong những nhà thơ vĩ đại của Ba tư, cũng sống ở thế kỷ 13, đã nói trong tác phẩm nổi tiếng “Golistan –Vườn Hồng” rằng, “hắn, kẻ lãnh đạm trước nỗi khổ đau của người khác, là tên phản bội cái chân chính một con người.”
Shirin Ebadi thân mến,
Bà và nhân dân Iran là tiêu biểu cho truyền thống của Saadi và Rumi. Bà là người dẫn đường vừa là kẻ xây cầu. Bà phấn đấu mang con người tới với nhau, vượt qua các nền văn hoá, chủng tộc và tôn giáo! Ðó là dấu hiệu xác nhận phẩm chất của bà!
Arne Paasche Aasen, một nhà thơ Na uy, viết vào năm 1939 một bài thơ khả ái – về sự trẻ trung tinh thần – trong đó ông nói:
Lúc này hãy thét lên hỡi thế giới:
Chúng tôi cần quả tim của bạn
tài năng phú bẩm của bạn,
tinh thần rừng rực của bạn!
Và nếu bạn được ban cho thanh xuân để sở hữu và giữ gìn
hãy dùng nó
hãy dùng trọn cả nghị lực và sự mạnh mẽ của mình
Shirin Ebadi thân mến,
Bà thanh xuân trong tinh thần. Bà sở hữu những tài năng phú bẩm lớn lao. Bà có một quả tim nồng cháy. Bà can đảm. Chúng tôi ngưỡng mộ những nỗ lực của bà. Thế giới cần bà! Xin chúc mừng với Giải Nobel Hoà bình 2003! Ủy ban Nobel Na uy tin tưởng mãnh liệt rằng Giải Hoà bình năm nay được trao đúng người, đúng thời điểm và đúng địa điểm. Khi giám đốc Viện Nobel điện thoại tới nhà của Shirin Ebadi ở Tehran để báo với bà tin mừng đó, chồng bà trả lời rằng vợ mình đang ở Paris và hẳn không dễ dàng liên lạc được vì bà ấy bỏ quên điện thoại di động ở nhà. Tuy thế tin tức bà được Giải Nobel Hoà bình lại rất lẹ làng tới với bà tại Paris và toàn thể hội nghị bùng vỡ thiện cảm. Về sau, chúng tôi nghe nói rằng bà thậm chí không biết mình đã được đề cử Giải Nobel Hòa bình. Thế rồi, phản ứng bắt đầu dào dạt tuôn tràn. Không phải mọi người đều biết tới tên bà nhưng thế giới hiểu lập tức điều mà Ủy ban này có ý nói: rằng mọi người đều có quyền hưởng các quyền cơ bản, và ngay vào lúc tại nhiều phần đất thuộc thế giới phương Tây, Hồi giáo bị người ta biến thành ma quỷ thì Ủy ban Nobel Na uy ao ước nhấn mạnh tầm quan trọng ngần nào và giá trị biết mấy của việc lưu dưỡng sự đối thoại giữa các dân tộc và các nền văn minh. Ðây là niềm ao ước được hầu hết loài người chia sẽ và đó cũng là lý do khiến các phản ứng đối với giải thưởng năm nay tích cực đến thế, dù chúng ta đều hiểu rằng có lẽ không thể hy vọng nhiều hơn nữa sự chúc mừng của chính quyền tại quê nhà Iran và tại vùng đất ấy. Và lúc này bỗng chốc bà đương nhiên trở thành một người hoàn toàn nổi tiếng khắp thế giới.
Shirin Ebadi ạ, hôm nay bà ở đây, tại Thị sảnh Oslo này, để nhận Giải Nobel Hoà bình 2003. Và chúng tôi cùng vui mừng với bà, với nhiều người trong gia đình và bằng hữu thân thiết nhất của bà cũng mặt tại đây hôm nay.
Quả thật là nỗi hân hoan lớn lao cho Ủy ban Nobel Na uy khi lần đầu tiên trong lịch sử, trao Giải Nobel Hoà bình cho một phụ nữ đến từ thế giới Hồi giáo – một phụ nữ mà thế giới có thể tự hào cũng như hết thảy mọi người đang đấu tranh cho nhân quyền trên khắp thế giới đều có thể tự hào.
Chúng tôi chân thành hy vọng nhân dân Iran sẽ cảm thấy vui mừng rằng một công dân của xứ sở mình – lần đầu tiên trong lịch sử – nhận giải Nobel Hoà bình. Chúng tôi cũng hy vọng rằng giải này gây niềm hứng khởi cho tất cả những ai đang vận động cho nhân quyền và dân chủ tại quê hương bà, trong thế giới Hồi giáo, và trên khắp các xứ sở ở phương Ðông cũng như phương Tây – khắp những nơi mà công cuộc hoạt động cho nhân quyền cần tới niềm hứng khởi và sự hỗ trợ.
Shirin Ebadi được trao Giải Nobel Hoà bình vì những nỗ lực của bà cho dân chủ và nhân quyền, cách riêng, cho cuộc chiến đấu của bà vì các quyền của phụ nữ và trẻ em. Bà rất minh bạch trong sự đối lập với nền văn hoá gia trưởng đang từ chối quyền bình đẳng của phụ nữ, những người tiêu biểu cho một nửa dân số. Nhưng các bà mẹ cũng cần nhận biết trách nhiệm của mình. Họ là người nuôi lớn các bé trai thành đàn ông, và là người nuôi dưỡng các bé gái thành phụ nữ cứng cáp. Shirin Ebadi là người thành lập Hội Hỗ Trợ Quyền Của Trẻ Em tại Iran, hiện có khoảng 5.000 hội viên. Trụ sở trung ương của Hội đặt tại Tehran và nó cung cấp tư liệu thông tin được dùng trong các trường học và điều hành một đường dây điện thoại khẩn cấp cho trẻ em. Ủy ban Nobel hy vọng rằng Giải Nobel Hòa bình được trao cho Shirin Ebadi sẽ góp phần đặt trọng tâm ngày càng tăng vào quyền của trẻ em trên khắp thế giới.
Trong một cuộc phỏng vấn, người ta hỏi Shirin Ebadi: “Bà có thông điệp nào gởi cho phụ nữ Hồi giáo không?” Bà trả lời: “Có. Hãy tiếp tục chiến đấu.” Shirin Ebadi biện luận: “Chớ tin rằng các bạn có số mệnh phải giữ vị trí thấp hơn [người nam] trong xã hội. Hãy nâng cao học vấn cho mình! Hãy làm hết sức mình và ganh đua trong mọi lãnh vực cuộc sống. Thượng đế tạo ra chúng ta làm những người bình đẳng. Bằng hành động chiến đấu cho qui chế bình đẳng, chúng ta đang làm điều Thượng đế muốn.” Về khía cạnh này, thật đáng ghi nhận rằng trên thực tế, có khoảng 60% sinh viên Ðại học Tehran là nữ. Cùng lúc ấy, chúng ta đừng quên lời khiếu nại của phụ nữ đòi hỏi phải pháp chế hoá quyền bình đẳng trước luật pháp! Trong luật pháp và trật tự, chúng ta phải hoàn toàn bình đẳng, và phụ nữ phải hưởng các quyền ấy một cách chính xác giống như đàn ông. Về vấn đề này, Shirin Ebadi đứng trụ trên tuyến đầu mặt trận và chúng ta chỉ có thể hoàn toàn ngưỡng mộ bà và những nỗ lực của bà.
Nhiều người được lợi lộc từ sự dấn thân và khả năng hoạt động của Shirin Ebadi. Bà biện hộ cho chính nghĩa của người tị nạn tại vùng đất mà họ có số lượng cao đến thế và cần sự giúp đỡ ghê gớm đến thế. Thêm nữa, bà kêu gọi sự chú ý tới các quyền của mọi công dân – cũng là quyền tự do diễn đạt của họ – không phân biệt tôn giáo, nguồn gốc sắc tộc hoặc chính kiến.
Là luật sư, thẩm phán, giáo sư thỉnh giảng, tác giả và nhà hoạt động, tiếng nói của bà ngân lên rõ ràng và đầy uy lực tại quê hương Iran, đồng thời còn vang ra ngoài biên giới quốc gia của mình. Bà đứng tiên phong với sức mạnh chuyên nghiệp cùng lòng can đảm không chút nao núng, và bất chấp mọi nguy hiểm cho sự an toàn của bản thân. Bà quả thật là một phụ nữ của nhân dân!
Cuộc vận động cho các nhân quyền cơ bản là đấu trường quan trọng nhất của bà, và không một xã hội nào có thể được gọi là văn minh nếu các quyền của phụ nữ và trẻ em không được tôn trọng. Vào các thời kỳ bạo động, bà kiên quyết giữ vững nguyên tắc bất bạo động. Ðối với bà, vấn đề cơ bản là quyền lực chính trị tối thượng của xã hội phải đặt nền tảng trên các cuộc bầu cử dân chủ. Bà nhấn mạnh rằng thông tin và đối thoại làm thành con đường tốt nhất hướng tới sự thay đổi thái độ và sự lắng dịu các xung khắc. Con đường tiến tới ấy phải chuyển động theo hướng bất bạo động và đối thoại, luật pháp và trật tự.
Người đoạt giải năm nay nhấn mạnh không biết bao nhiêu lần rằng mình là người Iran. Bà nói: “Tôi tự hào là người Iran. Tôi sẽ sống tại Iran lâu hết sức có thể được.” Ðối với Shirin Ebadi, điều đó có nghĩa sống trong sợ hãi, nhưng bà đã học cách sống với sự sợ hãi của mình và bà lạc quan về tương lai. Nhân dân nhất quyết tự cai trị mình. Ðã mãi mãi qua rồi thời điểm các quyền lực thống trị có thể hăm dọa con đường cai trị của nhân dân. Theo bà, nhà cầm quyền “sẽ nhận ra rằng, trên khắp thế giới, thời kỳ thống trị bằng sợ hãi đang tới hồi chung cuộc; thế thì tại sao Iran lại là một ngoại lệ?”
Trải qua nhiều năm, 110 cá nhân và tổ chức được trao giải Nobel Hoà bình có những dị biệt cực độ. Nhưng đa số họ đều tương đồng ở một điểm: họ đều là người lạc quan, những người lạc quan không lay chuyển nổi. Chính chủ nghĩa lạc quan ấy cho họ niềm hứng khởi mà họ cần tới trong cuộc chiến đấu. Thêm nữa, nhiều người đoạt giải tràn đầy lòng can đảm mà chắc chắn chúng ta không thể nào hiểu nổi. Dù sống trong tình huống thách đố nhất, họ vẫn tiếp tục bước – ngày nối tiếp ngày, năm kế tiếp năm.
Shrein Ebadi đã vượt qua những nguy hiểm lớn lao. Là luật sư, bà mang ra toà án những vụ mà một số người khác không dám mạo hiểm nhúng tay vào. Các ý tưởng của bà được truyền bá trong các nhóm ngày càng lan rộng hơn bao giờ hết, và tôi xin trích dẫn nhà thơ Paasche Aasen người Na uy: Bạn phải sống chân chính với tuổi trẻ mình “để cánh đồng bạn cày mọc được khi bạn xong công việc.”
Có vài tuyến chạy dọc suốt 102 năm lịch sử Giải Nobel Hoà bình. Trong mấy thập niên vừa qua, cái đa dạng nhất giữa các tuyến ấy có lẽ là sự nhấn mạnh ngày càng tăng của Ủy ban Nobel Na uy trên dân chủ và nhân quyền. Phải chăng đó chính là giải thưởng trao cho Woodrow Wilson năm 1919 hoặc Carl Von Ossietzky năm 1935, hoặc thậm chí giải năm 1951 trao cho thủ lãnh nghiệp đoàn Pháp Léon Jouhaux? Dù nhân quyền tiêu biểu cho một chiều kích trong ba lần trao giải đó, còn có những chiều kích khác can dự. Tiếp theo, giải thưởøng đầu tiên về nhân quyền, có lẽ không thể tranh cãi, rốt cuộc chính là giải trao cho Albert Lutuli ở Nam Phi năm 1960. Kể từ đó, suốt hơn bốn thập niên, nhiều giải thưởng như thế kế tiếp nhau. Có vài tên tuổi chói sáng hơn những tên tuổi khác: Martin Luther King (1964), Andrei Sakharov (1975), Hội Ân Xá Quốc Tế (1977), Lech Walesa (1983), Desmond Tutu (1984), Aung San Suu Kyi (1991) và bà ấy hôm nay chiếm chỗ đứng đặc biệt trong suy nghĩ của chúng ta, Rigoberta Mench (1992, Nelson Mandela (1993), và rồi năm nay, Shirin Ebadi. Dựa vào bối cảnh ấy mà chúng ta hiểu dễ dàng hơn những gì người đoạt giải năm nay thành tựu và những hệ quả giải thưởng ấy có thể gây ra khi nó thao tác ở mức độ tác động nhất.
Ý tưởng nhân quyền và dân chủ đang đạt được nền tảng – dù một cách chậm rãi. Việc thực thi nhân quyền bao giờ cũng là một thách đố, nó luôn luôn đặt lên vai những ai muốn sống đúng với lý tưởng của mình một đòi hỏi cao độ. Chúng tôi rất lấy làm mãn nguyện khi thấy rằng ý tưởng nhân dân tự cai trị mình thông qua các cuộc bầu cử tự do đang ngày càng thịnh hành tại nhiều phần đất trên thế giới. So với mươi mười lăm năm trước, ngày nay toàn bộ Ðông Âu, Nga và nhiều xứ khác thuộc cựu Liên bang Sô viết, nhiều quốc gia tại Ðông Á và không ít nước tại châu Mỹ La tinh cũng như vài quốc gia tại châu Phi, chấp nhận hình thức chính quyền dân chủ. Chắn hẳn Ủy ban Nobel Na uy có thể kích thích một sự triển khai mà chủ yếu vẫn có những cội rễ và những giải thích mang tính địa phương. Mỗi dân tộc phải đánh lấy trận đánh của riêng nó. Nhưng chúng tôi, những kẻ đứng ngoài nhìn vào, có thể bày tỏ thiện cảm và có sự đóng góp của mình.
Shirin Ebadi là một người Hồi giáo tỉnh táo. Bà thấy không có sự xung khắc giữa Hồi giáo và các nhân quyền cơ bản. Hồi giáo là một tôn giáo đa dạng. Vấn đề cốt tủy của người Hồi giáo ngày nay là làm thế nào thông điệp công lý được nhận biết trong thực tiễn và làm thế nào phẩm giá con người được bảo vệ. Chúng ta sẽ lắng nghe hết thảy mọi diễn giải mới mẻ và tích cực, hết thảy mọi đề xuất cải tổ. Cũng thế, ở đây, phụ nữ đóng vai trò quan trọng; nhiều phụ nữ Hồi giáo tranh cãi rằng việc diễn giải thông điệp đó không còn là độc quyền của nam giới trưởng lão nữa. Shirin Ebadi nói: “Những ai nhân danh Hồi giáo mà giết người tức là xúc phạm Hồi giáo.” Chúng ta biết rằng nhân quyền đang bị vi phạm không chỉ tại những xứ sở Hồi giáo; việc đó xảy ra dưới bất cứ chế độ nào dù mang tính tôn giáo hoặc thế tục, theo chủ nghĩa dân tộc hoặc theo chủ nghĩa Marx.
Do đó, đối với Shirin Ebadi, không phải tôn giáo là nguyên cớ và nguồn cội sâu xa của vấn đề đó. Nhưng theo quan điểm của bà, dù gì đi nữa, cũng nên tách rời nhà nước và tôn giáo, từ đó, đấu trường chính trị thành nơi rộng mở cho nhiều quan tâm và quan điểm đa dạng. Shirin Ebadi nhấn mạnh rằng cuộc đối thoại giữa các nền văn hoá dị biệt trên thế giới phải đặt nền tảng trên các giá trị có những điểm chung. Không nhất thiết có sự xung khắc cơ bản giữa Hồi giáo và Kitô giáo. Ðó là lý do bà hân hoan khi thấy Giáo Hoàng ở trong số những người đầu tiên chúc mừng bà được Giải Nobel Hoà bình.
Giải Nobel Hoà bình, trong ngắn hạn, có thể dẫn tới nhiều thù nghịch hơn hoà bình tại quê hương của một số người được giải. Nhưng việc Ủy ban Nobel công nhận dân chủ và nhân quyền dựa trên niềm tin rằng rốt cuộc áp bức chẳng thể nào bền bĩ mãi. Trong mấy thập niên vừa qua, chúng ta đã thấy các phần đất rộng lớn của thế giới đột ngột vứt bỏ ách độc tài như thế nào. Áp bức dẫn tới xung khắc. Hầu hết dân chúng sẽ không đơn thuần nhẫn nhục chịu đựng nền “hoà bình của bãi tha ma”, và một trong những phát hiện chắc chắn nhất của môn khoa học chính trị hiện đại là, một cách chính xác, các chế độ dân chủ không gây chiến với nhau.
Tôi thỉnh cầu mọi cá nhân, mọi dân tộc và mọi quốc gia của thế giới này:
Chúng ta hãy cùng nhau hoạt động cho một thế giới tốt lành hơn.
Hãy xây dựng hoà bình và ngăn ngừa chiến tranh.
Chúng ta hãy biến thế giới thành nơi sống tốt đẹp cho người trẻ lẫn người già.
Chúng ta hãy đặt trọng tâm vào phẩm giá con người và nhân quyền.
Chúng ta hãy chiến đấu chống lại nghèo khổ và bệnh tật trên thế giới.
Hãy để công lý, lòng tôn trọng, và sự hợp tác chiếm ưu thế giữa các dân tộc và các quốc gia trên thế giới.
Hãy cùng nhau làm cho giấc mơ thế giới hoà bình thành hiện thực
Là người trong đại học, tôi thách đố các đại học trên thế giới – dù dị biệt nhau nhiều – trong hành động nhấn mạnh vào nhu cầu của thế giới vì hoà bình, dân chủ, công lý xã hội và công lý kinh tế.
Người nhận giải Nobel Hoà bình, Shirin Ebadi thân mến,
Chúng tôi ngưỡng mộ những nỗ lực cho nhân quyền của bà nói chung, và cách riêng, những chiến đấu của bà cho các quyền của phụ nữ và trẻ em.
Chúng tôi ngưỡng mộ hoạt động của bà cho hoà bình mà không viện tới bạo lực.
Chúng tôi ngưỡng mộ hoạt động của bà cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo trên thế giới.
Chúng tôi hy vọng Giải Nobel Hoà bình này có thể góp phần hiện thực hoá giấc mơ của bà.
Sau cùng, cho phép tôi trở lại với nhà thơ vĩ đại Rumi, người muốn vén lộ cho thấy tất cả những gì ngăn chúng ta không nhìn thế giới đúng như nó là – và cũng là người nói với chúng ta rằng cái nhìn ấy và giấc mơ ấy dẫn tới thị lực trong sáng. Trong bài thơ có nhan đề tiếng Na uy là “Draumen som ma tolkast” – Phải diễn nghĩa giấc mơ ấy, Rumi nói:“Và cho dù chúng ta dường như đang ngủ, ở nội tâm có tiếng nói cảnh giác lèo lái giấc mơ, để cuối cùng sẽ làm chúng ta thức giấc với sự thật mình là ai.”
Nhà thơ vĩ đại người Na uy Olav H. Hauge cũng có một giấc mơ. Ông viết bài thơ tuyệt đẹp “Chính giấc mơ ấy”, mà với nó, tôi xin được kết luận diễn văn này:
Chính giấc mơ chúng ta thầm kín mang theo
sẽ xảy ra điều huyền diệu
sẽ xảy ra thôi
thời gian sẽ mở
trái tim sẽ mở
cửa sẽ mở
núi sẽ mở
suối sẽ mở
giấc mơ sẽ mở
và một sáng kia
chúng ta nhẹ lướt
vào bến cảng đâu đó mình không biết.
Xin chúc mừng, Sherin Ebadi, và chúc bà cực kỳ may mắn trong những nỗ lực tương lai.
3. Diễn văn nhận giải [3]
Shirin Ebadi
Nhân danh Ðấng Thượng đế của Sáng tạo và Minh triết
Thưa Hoàng thượng, Quí vị Hoàng thân, Quí vị Thành viên Ðáng kính của Ủy ban Nobel Na uy, Quí vị Thượng khách cùng Phu nhân,
Hôm nay, tôi cảm thấy cực kỳ vinh hạnh vì từ cuộc hội ngộ đặc biệt này, tiếng nói của tôi được tới với dân chúng trên thế giới. Tôi chào mừng tinh thần của Alfred Nobel và hoan nghênh hết thảy những người chân chính đi theo con đường của ông.
Năm nay, Giải Nobel Hoà bình được ban thưởng cho một phụ nữ từ Iran, một xứ sở Hồi giáo ở vùng đất Trung Ðông.
Rõ ràng việc tuyển chọn tôi sẽ gây niềm hứng khởi cho những tập thể phụ nữ đang phấn đấu để biến các quyền của mình thành hiện thực, không chỉ tại Iran mà còn trên khắp vùng đất ấy – các quyền mà họ bị lấy mất trong suốt quá trình lịch sử. Việc tuyển chọn này sẽ khiến phụ nữ trong Iran và cả bên ngoài xứ sở ấy tin vào chính mình. Trên khắp các xứ sở, phụ nữ lập thành một nửa dân số. Coi thường phụ nữ và ngăn cấm họ tham gia tích cực cuộc sống chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá thì trên thực tế có giá trị ngang với việc tước bỏ một nửa khả năng của toàn thể dân cư trong mọi xã hội. Nền văn hoá gia trưởng và sự phân biệt đối xử phụ nữ, cách riêng tại các xứ sở Hồi giáo, không thể tiếp diễn mãi mãi.
Thưa Quí vị Thành viên Ðáng kính của Ủy Ban Nobel Na uy!
Như quí vị nhận biết, vinh hạnh và ân sủng của giải thưởng này sẽ tác động tích cực và dường như ảnh hưởng rộng lớn lên những nỗ lực đích thực và nhân đạo của nhân dân tại Iran và khắp vùng đất ấy. Tầm bao la của ân sủng này sẽ gồm vào mọi cá nhân yêu tự do và tìm kiếm hoà bình, dù họ là nam hay nữ.
Tôi cảm tạ Ủy ban Nobel Na-uy vì đã ban cho tôi vinh hạnh này và vì ân sủng của vinh hạnh này đối với nhân dân yêu hoà bình tại xứ sở của tôi.
Hôm nay trùng với kỷ niệm lần thứ 55 ngày chấp nhận Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền; một bản tuyên ngôn bắt đầu với lời công nhận phẩm giá cố hữu cùng các quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng của mọi thành viên trong gia đình loài người, như kẻ bảo lãnh cho tự do, công lý và hoà bình. Và nó hứa hẹn một thế giới ở đó con người được hưởng quyền tự do ngôn luận, được giữ gìn và che chở khỏi sợ hãi và nghèo khổ.
Tuy thế, rủi thay, bản tường trình năm nay của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Development Programme – UNDP), cũng y như những năm trước đây, cho thấy rõ sự gia tăng cái tai họa làm loài người cách xa với thế giới lý tưởng của các tác giả bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Trong năm 2002, gần 1.2 tỉ người sống trong tình trạng nghèo khổ khủng khiếp, mỗi người chỉ kiếm được mỗi ngày chưa tới một Mỹ kim. Trên 50 xứ sở bị cuốn hút trong chiến tranh hoặc thiên tai. Cho tới nay, bệnh AIDS đã lấy sinh mạng của 22 triệu người và biến 13 triệu trẻ em thành cô nhi.
Cùng lúc ấy, trong hai năm qua, một số nhà nước vi phạm những nguyên tắc phổ quát và luật nhân quyền bằng việc dùng biến cố 11.9 và cuộc chiến chống khủng bố quốc tế là nguyên cớ. Nghị quyết 57/219 ngày 18 tháng Mười hai năm 2002 của Ðại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Nghị quyết 1456 ngày 20 tháng Giêng năm 2003 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, đã trình bày và nhấn mạnh là hết thảy các nhà nước phải bảo đảm rằng mọi phương tiện dùng để chống khủng bố phải theo đúng những ràng buộc của quốc tế công pháp, đặc biệt luật quốc tế về nhân đạo và nhân quyền. Thế nhưng những qui định hạn chế các quyền con người và các tự do căn bản, các cơ quan đặc biệt và các toà án đặc biệt, khiến cho việc xét xử công bằng gặp phải khó khăn và lắm lúc không thể thực hiện, lại đang được biện minh và tạo thế hợp pháp bằng phông màn của cuộc chiến chống khủng bố.
Ðang gia tăng mối quan tâm của những người cổ vũ cho nhân quyền khi họ nhận thấy luật quốc tế bị vi phạm không chỉ bởi những đối thủ đã bị vạch mặt, viện lý do của thuyết tương đối văn hoá, mà những nguyên tắc ấy còn bị vi phạm tại các chế độ dân chủ phương Tây, nói cách khác, tại chính các xứ sở ở trong số những kẻ điển chế từ đầu bản Hiến chương Liên Hiệp Quốc và bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Chính trong khuôn khổ đó mà suốt nhiều tháng trời, hàng trăm người bị bắt trong diễn tiến các cuộc xung khắc quân sự, và đang bị giam tại Guantanamo, mà không được hưởng các quyền qui định trong các công ước quốc tế Geneva, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước (của Liên Hiệp Quốc) về Các Quyền Dân sự và Chính trị.
Thêm nữa, vấn đề mà hàng triệu công dân trong xã hội dân sự quốc tế đang tự hỏi suốt mấy năm qua, cách riêng trong mấy tháng gần đây, và tiếp tục tục thắc mắc, là thế này: tại sao một số quyết định và nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liện Hiệp Quốc có sức mạnh cưỡng bách thi hành trong khi một số quyết định và nghị quyết khác của Hội đồng lại không có sức mạnh ấy? Tại sao suốt 35 năm qua, hàng chục nghị quyết của Liên Hiệp Quốc liên quan việc nhà nước Israel chiếm đóng lãnh thổ Palestine không được thi hành lập tức, tuy thế trong 12 năm qua, nhà nước và nhân dân Iraq chỉ bị một lần khuyến cáo của Hội đồng Bảo an, và rồi tới lần thứ hai, nhưng lại là đối tượng của tấn công, đổ bộ quân sự, phong toả kinh tế và cuối cùng, chiếm đóng quân sự, bất chấp sự chống đối của Hội đồng Bảo an.
Thưa Quí vị,
Cho phép tôi được nói đôi chút tới xứ sở, vùng đất, văn hoá và đức tin của mình.
Tôi là người Iran. Một hậu duệ của Ðại đế Cyrus. Hai ngàn năm trăm năm trước đây, vào lúc cực điểm quyền lực, chính vị hoàng đế ấy đã tuyên bố rằng “…ông sẽ không cai trị nhân dân nếu họ không muốn điều đó.” Và [ông] hứa sẽ không cưỡng bách bất cứ người nào thay đổi tôn giáo và đức tin của mình, và bảo đảm tự do cho mọi người. Hiến chương của Ðại đế Cyrus là một trong những tài liệu quan trọng nhất và nên được nghiên cứu trong lịch sử nhân quyền.
Tôi là người Hồi giáo. Trong sách Koran, Ðấng Tiên tri của Hồi giáo được chép lại lời này: “Ngươi nhất định sẽ tin vào đức tin của ngươi và ta nhất định sẽ tin vào tôn giáo của ta.” Cũng cuốn kinh thánh ấy thừa nhận sứ mệnh của mọi tiên tri là mời gọi toàn thể loài người giữ gìn công lý. Cũng thế, từ ngày Hồi giáo ra đời, văn minh và văn hoá Iran trở nên thấm nhuần và ngấm sâu chủ nghĩa nhân đạo, tôn trọng sự sống, niềm tin và đức tin của người khác, lan truyền sự khoan nhượng, sự thoả hiệp, và tránh bạo động, đổ máu và chiến tranh. Những tác giả truyền cảm hứng trong văn học Iran, cách riêng văn học Gnostic [Ngộ giáo], từ Hafiz, Mowlavi (được phương Tây biết nhiều dưới tên Rumi) và từ Attar tới Saadi, Sanaei, Naser Khosrow và Nezami, đều là những phái viên của nền văn hóa nhân đạo ấy. Thông điệp của họ biểu lộ chính nó trong bài thơ sau đây của Saadi:
“Con cái Adam là tứ chi của nhau
Ðược tạo nên từ một cốt tủy.”
“Khi thảm họa thời gian làm đau một chi thể
Các chi thể kia chẳng thể còn yên.”
Suốt hơn trăm năm nay, nhân dân Iran chiến đấu với những xung khắc triền miên giữa cổ truyền và hiện đại. Bằng viện dẫn những truyền thống cổ đại, một số người cố nhìn thế giới qua con mắt của tiền nhân và ứng xử những vấn đề và những khó khăn của thế giới hiện hành theo các giá trị của cổ nhân. Nhưng nhiều người khác trong khi tôn trọng quá khứ văn hoá và lịch sử, tôn giáo và đức tin, thì tìm cách bước tới đều nhịp với những phát triển của thế giới và để không bị bỏ lại đằng sau cổ xe văn minh, phát triển và tiến bộ. Ðặc biệt những năm gần đây, nhân dân Iran tỏ ra rằng họ thấy việc tham dự các sự vụ công cộng là quyền của mình và rằng họ muốn là chủ nhân của định mệnh mình.
Người ta nhận thấy những xung khắc ấy không chỉ diễn ra tại Iran mà còn tại nhiều nước Hồi giáo. Một số người Hồi giáo viện lý do rằng dân chủ và nhân quyền không tương hợp với lời giảng của Hồi giáo và cấu trúc truyền thống của xã hội Hồi giáo, đã biện minh cho các chính phủ chuyên chế và tiếp tục làm như thế. Trong thực tế, việc sử dụng các phương pháp gia trưởng và phụ quyền để cai trị những người dân đã nhận biết quyền của họ là việc không mấy dễ dàng. Hồi giáo là một tôn giáo mà bài giảng thứ nhất của Ðấng Tiên tri bắt đầu với lời “Hãy kể lại!” [4] Thánh kinh Koran tỏ ra tin ngòi bút đó và những gì nó viết. Bài giảng và thông điệp như thế chẳng thể nào xung khắc với nhận thức, kiến thức, minh triết, tự do ngôn luận và thuyết đa nguyên văn hoá.
Cũng thế, cảnh ngộ phân biệt đối xử tại các nước Hồi giáo, dù trong phạm vi luật dân sự hoặc trong lãnh vực tài phán văn hoá, chính trị và xã hội, đều có gốc rễ trong nền văn hoá gia trưởng và người-nam-thống-trị đang thịnh hành trong các xã hội ấy, chứ không phải trong Hồi giáo. Nền văn hoá ấy không khoan nhượng tự do và dân chủ, cũng như nó không tin vào quyền nam nữ bình đẳng và việc giải phóng phụ nữ khỏi sự thống trị của người nam (cha, chồng, anh em…), vì như thế sẽ đe dọa vị trí truyền thống và lịch sử của các nhà cầm quyền và các người canh giữ nền văn hoá ấy.
Ta phải nói tới những kẻ đang đàm luận cái ý tưởng về sự xung đột giữa các nền văn minh hoặc hạ lệnh chiến tranh hay can thiệp quân sự vào vùng đất ấy, và viện sự trì trệ xã hội, văn hoá, kinh tế và chính trị như một nước cờ để biện minh cho hành động và ý kiến của họ, rằng nếu họ xem luật quốc tế nhân quyền, gồm cả quyền các quốc gia tự quyết vận mệnh mình là có tính phổ quát, và nếu họ tin vào tính chất ưu tiên và tối thượng của nền dân chủ nghị viện trên các hệ thống chính trị khác, thì lúc ấy, họ không thể chỉ nghĩ tới an ninh và tiện nghi của mình, một cách ích kỷ và khinh mạn. Cũng thế, cuộc tìm kiếm những phương thế mới và những ý tưởng mới để các xứ sở phương Nam có khả năng hưởng nhân quyền và dân chủ trong khi duy trì sự độc lập chính trị và sự toàn vẹn lãnh thổ của các xứ sở liên hệ, phải được Liên Hiệp Quốc xem là ưu tiên tột đỉnh trong liên quan tới các phát triển tương lai và các quan hệ quốc tế.
Quyết định của Ủy ban Nobel Hoà bình trao giải thưởng năm 2003 cho tôi, người Iran đầu tiên và phụ nữ đầu tiên từ một xứ sở Hồi giáo, gây hứng khởi cho tôi và hàng triệu người Iran và người dân ở những nước Hồi giáo với niềm hy vọng rằng các cố gắng, nỗ lực và phấn đấu hướng tới sự hiện thực hoá nhân quyền và xây dựng dân chủ trong các xứ sở liên hệ của chúng tôi đang được hưởng sự ủng hộ, giúp đỡ và liên kết của xã hội dân sự quốc tế. Giải thưởng này thuộc về nhân dân Iran. Nó cũng thuộc về nhân dân các nước Hồi giáo và nhân dân phương Nam vì hành động thiết lập nhân quyền và dân chủ.
Kính thưa Quí vị,
Trong phần nhập đề diễn văn này, tôi có nói tới nhân quyền như kẻ bảo lãnh cho tự do, công lý và hoà bình. Nếu nhân quyền không được biểu thị trong luật điển chế hoặc không được các nhà nước đem ra áp dụng, như đã được diễn giải trong lời dẫn nhập của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, thì lúc ấy, loài người không còn chọn lựa nào ngoài việc tổ chức “nổi loạn chống lại bạo quyền và áp bức.” Người bị tước bỏ hoàn toàn phẩm giá, người bị tước đoạt nhân quyền, người bị kềm kẹp vì thiếu ăn, người bị tơi tả vì nạn đói, chiến tranh và bệnh tật, người bị sỉ nhục và người bị nhũng lạm thì không ở trong bất cứ vị trí và qui chế nào để thu hồi những quyền mà người nam hoặc người nữ ấy đã bị mất.
Nếu thế kỷ 21 này khao khát giải phóng chính nó khỏi vòng quay của bạo lực, hành động khủng bố và chiến tranh, và tránh sự lặp lại kinh nghiệm của thế kỷ 20 – thế kỷ lênh đênh thảm họa nhất của loài người, thì chỉ có một con đường thôi đó là sự am hiểu và đưa vào thực hành mọi quyền của hết thảy loài người, không phân biệt chủng tộc, phái tính, quốc tịch và qui chế xã hội.
Trong sự mong đợi ngày ấy,
với lòng đa tạ.
4. Shirin Ebadi và phụ nữ Iran: đội tiên phong của thay đổi [5]
Nazila Fathi
30.10.2003
Vào ngày 10.10.2003, Giải Nobel Hoà bình dành cho Shirin Ebadi đã làm bùng lên các phản ứng xúc động và chính trị dữ dội tại Iran. Nazila Fathi, một phụ nữ Iran, lượng định ý nghĩa quan trọng trong sự thành tựu ấy của một luật sư độc lập vận động cho nhân quyền.
Shirin Ebadi, luật sư nhân quyền người Iran và là người được trao Giải Nobel Hoà bình năm 2003, trở về Iran ngày 13.10. với một cuộc đón tiếp trộn lẫn mà tự nó là biểu trưng cho những chia rẽ chính trị sâu xa của xứ sở. Tại nơi người dân bình thường và các nhà hoạt động chào đón bà với hân hoan và hãnh diện, còn có mặt những người cứng rắn thân chế độ tung ra một đợt thù nghịch chưa từng có chống lại bà.
Một vạn người dân tự động tụ họp tại sân bay Tehran để nghênh đón Shirin Ebadi khi máy bay chở bà hạ cánh. Họ biến cơ hội này thành một cuộc biểu tình dân chủ, đòi hỏi phóng thích tù nhân chính trị và yêu cầu tổ chức trưng cầu dân ý về nhà nước tương lai của Iran.
Trong vạn người ấy có Shadi Sadr, 30 tuổi, luật sư và là người cổ vũ cho các quyền của phụ nữ. Anh nói rằng giải thưởng ấy sẽ giúp các phụ nữ trẻ trong công cuộc vận động của họ: “Bà ấy trở thành gương mẫu cho các phụ nữ trẻ hơn. Khi các phụ nữ thấy sự thành tựu ấy của một phụ nữ xuất xứ từ xã hội gia trưởng thì họ sẽ cảm thấy tự tin hơn để tiếp tục cuộc tranh đấu của mình.”
Thật thế, dù sự kiện được trao giải hoà bình biến Ebadi thành một biểu tượng của dân chủ và niềm tự hào của dân tộc trong nhiều giai tầng xã hội, bà là niềm hứng khởi cá biệt cho các phụ nữ trẻ hơn và có học. Năm nay, hơn 60% được chấp nhận vào đại học là nữ giới và họ đang phấn đấu cho quyền bình đẳng với nam giới.
Trong đám đông tại sân bay hôm ấy có vài thành viên của majlis (quốc hội) đến để tỏ tình đoàn kết. Alieza Alavitabar, giáo sư môn khoa học chính trị tại Ðại học Tehran, nói: “Giờ đây, giải thưởng trao cho Ebadi ấy đòi hỏi uy tín quốc tế của nó. Chúng ta kỳ vọng nó sẽ làm các quan toà khó khăn khi đối mặt với bà.”
Nhưng sự đáp ứng chan chứa tại sân bay bị đối chọi với sự lăng mạ đầy cay đắng giải thưởng ấy, phát xuất từ những vệ binh của chế độ. Biểu thị cho cơn thịnh nộ của họ là sự ép buộc giới chức đại học hủy bỏ lễ vinh danh đã được lên lịch trình sẽ diễn ra tại Ðại học Bách khoa ở Tehran.
Ðó chỉ mới bắt đầu. Ya-Lessarat, tờ báo xung kích, tuyên cho bà bản án tử hình lén lút; một thành viên quốc hội so sánh bà với Salman Rushdie, người Anh, tác giả cuốn Satanic Verses – Những vần thơ quỉ tính, kẻ mà năm 1988, nhà lãnh đạo tôn giáo quá cố của Iran là Ayatollah Khomeini đã ra fatwa (thánh lệnh) xử tử; từ thành phố tôn giáo Qom, một nhóm các tăng lữ đưa lời tuyên bố rằng mục đích của giải thưởng dành cho Ebadi ấy là để nhạo báng Hồi giáo.
Bài xã luận trong tờ Jomhuri-ye Islami rủa sả: “Viện Nobel đang tìm kiếm những lợi ích chính trị và trao giải thưởng cho kẻ cố hết sức tỏ cho người ta thấy rằng những lời giảng đầy khai sáng của Hồi giáo là tối tăm và thách thức những điều cơ bản của tôn giáo ấy.”
Một tiếng nói vô úy
Tại văn phòng khiêm tốn, sách bày từng dãy của mình, Shirin Ebadi nói với tôi: “Cái đó quả thật bất thường và đáng ngại” Tuy thế, kể từ lúc trở về từ Paris nơi bà nghe tin giải thưởng của mình lúc đang tham dự một hội nghị về điện ảnh Iran, bà vẫn tiếp tục nhận thêm vài vụ án mới, biện hộ cho những người hoạt động chính trị và thề tiếp tục cuộc đấu tranh cho nhân quyền. Bà nói: “Giải thưởng này đặt gánh nặng lên vai tôi vì ít ra tôi phải tự chứng minh với bản thân rằng mình xứng đáng với nó. Như thế, tôi sẽ không giảm bớt hoạt động của mình mà còn gia tăng thêm nữa. Tôi sẽ không bao giờ tước bỏ của mình cái vinh dự được chiến đấu cho nhân quyền.”
Trước cuộc cách mạng 1979, bà là một trong các nữ thẩm phán đầu tiên của xứ sở, nhưng Cộng hoà Hồi giáo mới mẻ xem phụ nữ là “quá ủy mị” cho một công tác như thế nên hạ tầng công tác bà xuống làm phụ tá toà án. Công cuộc vận động cho nhân quyền của bà khởi sự từ đó.
Bà bắt đầu hoạt động với trẻ em. Bà nói: “Trẻ em là nhóm dễ bị tổn thương nhất trong xã hội và các quyền của chúng bị xâm phạm một cách rộng rãi. Nhưng chúng không có ai bảo vệ chúng.” Bà là người thành lập Hội Hỗ Trợ Quyền Của Trẻ Em, nơi bà vận động chống việc đánh đập trẻ em, việc trẻ em phải lao động kiếm sống, và đòi hỏi chính phủ phải trả chi phí dạy dỗ các trẻ em đang lao động.
Trong suốt 25 năm, Ebadi tiếp tục hoạt động có nguyên tắc và chuyên nghiệp của mình trong khi không chịu để vướng mắc vào những chia rẽ chính trị của Iran. Giờ đây ở tuổi 56, bà vẫn quả quyết, nghiêm chỉnh và vô úy – và có lẽ bà vẫn là giấc mơ tệ hại nhất của giới tăng lữ cứng rắn tại Iran, những kẻ toan tính không chút xót thương nhằm kìm hãm phụ nữ và giới hạn khả năng của họ trong việc đóng đúng vai trò của mình trong xã hội.
Từ ngày trở về Iran với giải thưởng ấy, Ebadi liên tục trả lời các cuộc phỏng vấn, giải thích làm thế nào bà theo đuổi nghề nghiệp của mình. Bà nói: “Iran đã ký các công ước lớn về nhân quyền và bị ràng buộc phải thay đổi luật lệ nào ở trong nước có mâu thuẫn với các công uớc ấy. Chính nhà cầm quyền luôn luôn vi phạm nhân quyền, và tôi sẽ tiếp tục cuộc tranh đấu của mình cho tới khi họ tôn trọng nhân quyền.”
Sự can đảm của bà khiến tôi nhớ lại tháng 12.1998. Tôi đang ghé thăm bà tại văn phòng của bà ở trung tâm thành phố Tehran, và chúng tôi vừa hay tin một người đối lập khác, Mohammed Pundayeh, bị mất tích tới ngày thứ năm trong mười ngày. Những người khác tìm thấy bị đâm chết hoặc bóp cổ tới chết vài ngày sau khi bị bắt cóc. Trong số những người vừa bị thảm sát, có ba người là hội viên Hội Nhà văn, cũng như Shirin Ediba. Tên của bà xuất hiện trong danh sách đen mà một số tờ báo tuyên bố là danh sách xử tử. Bà bị bỏ tù thật sự vào năm 2000 và bị biệt giam hoàn toàn suốt ba tuần vì bà phát giác cuộn băng trong đó một cựu vệ binh cách mạng thú nhận rằng các thành viên trong nhóm của hắn đã lập kế hoạch mưu sát hai vị bộ trưởng theo khuynh hướng cải tổ. Giờ đây, khi bị hỏi có sợ ở tù hay không, bà trả lời: “Sợ là một bản năng giống như đói và chúng ta đều biết tới nó. Tôi đã học rằng chớ để sợ hãi ngăn không cho mình làm điều nên làm.”
Những kẻ cứng rắn là ai?
Iran là cõi âm u chính trị: những chính trị gia bảo thủ chống lại một xã hội tự do hơn, đối đầu với những ai vận động cho nhân quyền và dân chủ. Dù những cuộc bầu cử mới đây cho thấy phe bảo thủ chỉ được 15% sự ủng hộ của nhân dân, thế nhưng họ vẫn kiểm soát hầu hết các đòn bẩy quyền lực: thẩm phán đoàn, quân đội và bộ phận “ưng khuyển giữ nhà” của chế độ được biết tới là Hội đồng Bảo vệ có quyền phủ quyết những luật lệ mà nó cho là trái với luật Hồi giáo hoặc vi hiến. Hậu quả là những kẻ ủng hộ cải tổ của tổng thống Khatami, người cầm đầu chính trị từ năm 1997 với sự ủng hộ của đa số, không có khả năng xúc tiến nghị trình cải tổ. Thẩm phán đoàn bỏ tù rất nhiều người ủng hộ và đồng minh của tổng thống. Hội đồng Bảo vệ ngăn không cho quốc hội biểu quyết những đạo luật cho phép có tự do dân sự hơn. Hiện nay, có khoảng hai chục ký giả và sinh viên đang nằm trong tù; từ năm 1998 tới nay, hơn 100 tạp chí theo khuynh hướng cải tổ bị đóng cửa; các lực lượng bán quân sự đàn áp những cuộc biều tình thân dân chủ; các trí thức chống đối bị sát hại bởi một bè đảng độc hiểm gồm các viên chức thuộc bộ tình báo (Shirin Ebadi đã tự nguyện đại diện cho gia đình của hai nạn nhân đầu tiên: Pavaneh và Daryoush Farouhar).
Những cấm cản và áp bức ấy ảnh hưởng lên mọi người, nhưng là phụ nữ, Shirin Ebadi tiêu biểu cho sự thách thức cá biệt đối với các phần tử cứng rắn. Họ quả quyết rằng các quyền của phụ nữ không tương hợp với giáo lý và họ mong muốn duy trì quyền hành của mình bằng việc tự họ xác định các quyền ấy.
Qui chế của phụ nữ, điều kiện của tự do
Sau cuộc cách mạng 1979, chế độ Hồi giáo Iran thay thế bộ luật thế tục bằng luật Hồi giáo mà theo đó sinh mạng của phụ nữ và sự làm chứng của nữ giới bị xem là chỉ có một nửa giá trị so với của nam giới. Theo luật đó, đàn bà không có quyền li dị nhưng “đàn ông có thể li dị vợ bất cứ lúc nào hắn muốn”. Sau khi li dị, con trai thuộc về mẹ cho tới 2 tuổi còn con gái cho tới 7 tuổi. Buộc phải giữ sự tách riêng nam nữ tại những nơi công cộng và phụ nữ bị buộc phải trùm đầu và trùm áo chùng dài đuồn đuột, không hình thù.
Ebadi tranh luận rằng Hồi giáo là tôn giáo của hoà bình và bình đẳng, và sự bất bình đẳng ấy phát tích từ văn hoá chứ không phải từ tôn giáo. Thêm nữa, cần diễn giải luật Hồi giáo theo nhu cầu hiện đại. Bà nói: “Tôi chống văn hoá (gia trưởng) ấy chứ không chống Hồi giáo.”
Một trong những vụ nổi tiếng nhất mà Ebadi biện hộ là vụ Leila Fathi, một bé gái nhà quê 11 tuổi, bị ba gã hảm hiếp rồi giết chết. Toà án phán quyết rằng vì sinh mạng của Leila chỉ đáng giá một nửa sinh mạng của mỗi gã đàn ông đã giết nó nên gia đình của nó – theo cái gọi là bồi thường án tử hình mà cả ba phải chịu – trên thực tế phải trả giá máu của cả ba bằng tiền.
Cho tới hôm nay, cả ba gã ấy không bị trừng phạt vì gia đình của Leila không kiếm nổi số tiền cần thiết đó dù đã bán trọn cả sản nghiệp. Ebadi hỏi: “Gia đình của Leila bị mất con gái của mình. Lúc này họ sống không nhà không cửa vì đã bán hết mọi thứ để tìm kiếm công lý. Có phải số tiền ấy giống như là phần thưởng cho gia đình của ba gã đàn ông ấy?” Hiện luật đó vẫn không chút nào thay đổi.
Khối lượng các biến cố gần đây cho thấy người ta đã cảm thấy sự bất công ở khắp mọi tầng lớp xã hội. Vào tháng 7, một nữ phóng viên chụp hình, Zahra Kazemi, [có song tịch Iran – Canada và thường trú tại Montreal, Quebec – ghi chú cua NƯ], bị giết một cách đáng ngờ trong khi bị quản thúc. Vào tháng 8, một thiếu nữ nhận bản án tử hình vì giết gã đàn ông trước đó đã bị cho là toan hãm hiếp cô ấy; bốn phụ nữ bị án tù treo vì dịch và viết các bài báo thế tục về các quyền của phụ nữ. Các phụ nữ có khuynh hướng cải tổ trong quốc hội phải chịu thoái bộ lớn lao vào tháng 8 khi Hội đồng Bảo vệ từ khước một đạo luật cho phép Iran ký Công Ước Liên Hiệp Quốc Vềø Loại Trừ Sự Phân Biệt Ðối Xử Với Phụ Nữ.
Mọi sự vừa kể lại càng khiến Giải Nobel Hoà bình năm nay có ý nghĩa trọng đại hơn. Shadi Sadr tóm tắt cảm xúc của nhiều người như sau: “Ðiều quan trọng là chính giải thưởng này phục hồi bản sắc và lòng tự hào mà phụ nữ đã bị lấy mất. Giải Nobel Hoà bình làm chúng tôi cảm thấy được chứng minh và được bênh vực sau tất cả những đau khổ ấy của mình.” [6]
© 2003 talawas
[1]Nguồn:
www.nobel.se/peace/laureates/2003/ebadi-bi.html
[2]Nguồn:
www.nobel.se/peace/laureates/2003/presentation-speech.html
[3]Nguồn:
www.nobel.se/peace/laureates/2003/ebadi-lecture.html
[4]Trong bản “Kinh Qur’an (Ý nghĩa-Nội dung)” do Nxb Tôn giáo-Hà nội 2000, Hassan Abdul Karim dịch là “hãy nhớ lại” (34-t.16 và 51,53,54-t.19…)
[5]Nguồn:
www.opendemocracy.net/themes/article-10-1557.jsp
[6]Xem thêm “Shirin Ebadi: Nobel Hòa Bình 2003” của Scott MacLeod – Tehran, Nguyễn Ước dịch và chú thích. talawas – Ðiểm nóng – ngày 23.10.2003