Libăng là một đất nước hào nhoáng và những người dân thường cũng vậy.
Như Việt Nam, nước này trước đây là thuộc địa của Pháp. Người Libăng có
gốc từ người xứ Phoenix, những thương nhân viễn dương đầu tiên của thế
giới, truyền thống bán mua từ cổ xưa đến giờ vẫn còn để lại dấu ấn sâu
đậm trong tính cách của người Libăng hiện đại, họ ưa mua bán và thích
mời mọc khách bằng cả lời nói và vẻ bề ngoài là lượt. Trước nội chiến
năm 1975, Libăng được coi là Thụy Sỹ của Trung Ðông do có đặc điểm địa
hình và kinh tế tương đối giống với nước này, kinh tế Libăng cũng dựa
trên nền tảng ngân hàng và kinh doanh tiền của các quốc gia Hồi giáo
trong nội địa. Libăng có khoảng 3 triệu dân nhưng người Libăng sống ở
nước ngoài có khoảng 25 triệu, làm ăn buôn bán đều khá thành đạt. Có lẽ
nhờ vào những nguồn vốn và kinh nghiệm của người Libăng ở nước ngoài mà
tiến trình tái thiết Libăng đã diễn ra hết sức nhanh chóng. Nội chiến
giữa các phe Hồi giáo và Thiên Chúa giáo chỉ thật sự chấm dứt vào năm
1995 thế mà chỉ bốn năm sau thành phố Beirut bị tàn phá nặng nề đã lấy
lại được vẻ phong lưu như trong những bức ảnh cũ hồi trung thế kỷ.
Bốn năm sau chiến tranh, Libăng vẫn còn bị coi là một nước thế giới thứ
ba và sào huyệt của khủng bố Hồi giáo. Libăng chính là quê hương của
nhóm Hezballah (Vinh danh Thượng đế) là một nhóm vũ trang Hồi giáo sinh
ra từ lò lửa nội chiến và nhanh chóng phát triển thành một tổ chức quân
dân chính với chân rết trong mọi mặt đời sống Libăng. Hezballah có cả
trường đại học, ngân hàng, bệnh viện riêng và có vai trò như một chính
phủ bán chính thức chuyên trách lãnh đạo thanh niên sinh viên học sinh
đấu tranh đòi Israel phải rút quân ra khỏi miền nam Libăng bị chiếm
đóng từ năm 1978. Israel đã đưa quân vào khu vực này để hạn chế hoạt
động của tổ chức giải phóng nhân dân Palestine (PLO) khi đó đóng bản
doanh ở Beirut. Beirut thời những năm 40-70 là chốn ăn chơi của mọi sắc
dân Trung Ðông, lính tráng và sĩ quan PLO hội họp ở những chốn nhảy múa
ăn uống nhiều hơn là tại doanh trại của họ. Một chi tiết lịch sử mà ít
người biết đến là vào năm 1982, đỉnh cao của cuộc chiến tại đây giữa
các phe phái nội địa và ngoại thuộc (PLO, Israel, vv.), đã có một đoàn
quân sự của Việt Nam sang Beirut với ý định trợ giúp chiến thuật chiến
tranh du kích cho PLO nhưng sau việc bất thành do kỷ luật của các nhóm
quân này quá lỏng lẻo, tình trạng thay đổi chỉ huy và phương thức chiến
đấu diễn ra từng ngày.
Tôi đã đọc tất cả những điều trên trong hơn một năm trước khi đến
Beirut. Ðất nước nhỏ bé này đối với tôi vừa thân quen vừa lạ lẫm. Nhưng
dù sao trong tư tưởng tôi cũng đã quen nghĩ về Libăng trong một tương
quan đối kháng giữa các bên phân biệt qua sắc tộc và nhánh tôn giáo.
Tôi ngồi trước màn hình máy tính trong góc khuất và tối, vừa viết thư
vừa ngắm nhìn những người Libăng trẻ tuổi xung quanh. Vẻ thanh bình làm
tôi ngạc nhiên, mùi cà phê bùi và ngậy quyện với mùi thơm nhẹ của khói
thuốc lá, mùi nước hoa, mùi nhựa còn thơm mùi dầu của những chiếc máy
vi tính mới, để quanh phòng trang trí nền nã, những cô gái trẻ ăn mặc
chải chuốt, uống rượu mùi đỏ sóng sánh trong những chiếc ly mạ vàng đế
thấp, những chàng trai tóc bóng mượt mặc veste đen, sơ mi đen, râu đen
tỉa gọn gàng, đi giầy đen, đeo khuyên tai bạc – trong ánh đèn vàng dịu
chia căn phòng thành những khoảng sáng tối bất chợt, xung quanh tôi là
vẻ nhàn nhã và đầy đủ, sự đầy đủ sung túc không phải chỉ của những
người nông dân đủ ăn hay của những tay nhà giầu thành phố mới nổi hay
chơi trội mà là sự dư thừa đã biết kiềm chế ép mình vào những khuôn khổ
thẩm mỹ giản đơn .
Viết thư cho cô bạn xong, tôi quay sang viết thư cho những người bạn
khác ở Việt Nam và ở Mỹ. Câu chào “Xin chào từ Beirut” mà tôi dùng làm
tiêu đề của tất cả các thư đêm đó là một câu nửa mang tính tuyên ngôn,
nửa là lời tuyên bố thành công và chiến thắng.
Khoảng gần nửa đêm tôi ra về. ở quầy trả tiền có một cô gái Libăng hỏi
khẽ bằng tiếng Anh “Cậu là người Nhật Bản à?” Tôi trả lời cũng thì thầm
“Không, người Việt Nam.” Mắt cô gái sáng bừng lên, rồi cô gấp gáp nói,
“cậu là người Việt Nam đầu tiên tôi gặp đấy,” rồi cô chìa tay ra, “tên
tôi là Yizmina. Tôi học ngành kinh tế chính trị ở AUB”. Tôi bắt tay cô,
tự giới thiệu mình, rồi chúng tôi trao đổi mấy câu trò chuyện. Khi biết
tôi còn ở Beirut một tuần nữa, cô hẹn sẽ gặp tôi ngày hôm sau ở quán
café internet này để dẫn tôi đi chơi.
… Những ngày sau ở Libăng có nhiều chuyện chắc tôi sẽ nhớ rất lâu.
Cùng với cô Yizmina và một nhóm bạn khác của cô, tôi đã tham gia cuộc
biểu tình đầu tiên trong đời. Chúng tôi 4 người, Yizmina, hai bạn gái
của cô là Natalie và Zainab, và tôi, cùng đi một taxi từ trong phố đến
một sân vận động, nơi rất nhiều sinh viên đã tập trung. Nhiều người
quấn băng đỏ ngang đầu, sẽ là những người lúc sau cầm biểu ngữ đi hàng
đầu tiên. Chúng tôi khoảng một ngàn người từ từ đi ra khỏi sân vận
động, vừa đi vừa hô khẩu hiệu gì đó bằng tiếng Ả rập. Không khí rất là
náo nhiệt, các bạn con gái chạy tới lui giữa các hàng người, phân phát
những hòn đá to khoảng nửa nắm tay. Tôi cũng thủ lấy ba hòn cho vào túi
áo khoác. Ði trong hàng chán rồi tôi chạy lên đi hẳn phía trước và quay
ngược lại chụp ảnh các bạn thanh niên đang gào thét.
Hai bên đường có rất nhiều cảnh sát mặc đồ dã chiến kiểu các đồng chí
cơ động nhà ta, nhưng mang súng rất dài. Không có nhiều người đi lại
trên đường này. Một lúc thì Yizmina chạy lên, đưa tôi một cái khăn rằn,
kiểu ông Arafat hay đeo, bảo tôi quàng quanh đầu vì có nhiều người ở
dưới tò mò hỏi tôi là ai, có tin tưởng được không? Chúng tôi đang kêu
gọi gì đó cho mấy người Nhật Bản nên các bạn sinh viên tưởng tôi cũng
là người Nhật Bản và sợ cảnh sát sẽ để ý đến tôi đầu tiên. Tôi quàng
khăn vào đầu chỉ còn hở mắt và cũng bắt đầu hò hét những câu khẩu hiệu
tiếng Ả rập mà tôi chẳng hiểu nghĩa là gì, thỉnh thoảng lại chêm vào
mấy từ tiếng Nhật là tên của các đồng chí Nhật Bản kia. Chúng tôi tụ
lại trước một toà nhà lớn kiểu Pháp xây bằng đá, trông từa tựa như Phủ
Chủ tịch ở Hà Nội nhưng nhỏ hơn nhiều. Ở đấy các bạn sinh viên bắt đầu
lôi chai xăng và cờ Israel ra và đốt. Sau đó các bạn cầm tay ôm vai
nhau nhảy vòng quanh lá cờ cháy, vừa nhảy vừa hát các bài hát Nga như
Kalinka và Kachiusa và nhiều bài khác chắc chắn là của Nga, bởi tôi đều
biết nhạc, nhưng lời thì các bạn toàn hát bằng tiếng Ả rập. Hát chán
các bạn công kênh một bạn khác lên, bạn này lại cầm ảnh một anh già
người Nhật vẽ theo kiểu mặt Che Guevara nhưng mắt một mí nhìn vẫn rất
rõ. Càng về sau thì các bạn càng điên lên, không chỉ công kênh một bạn,
mà bây giờ là ba bạn nữa, rồi một bạn nữa, rồi mới đến ảnh. Tiếng hò
hét thật ầm ĩ, tôi khoái điên lên. Chừng một tiếng thì có tiếng hô xếp
hàng. Chúng tôi cùng xếp hàng nhưng thực ra là chen chúc với nhau và
đối mặt với các bạn cảnh sát. Các bạn quấn băng đỏ vẫn đứng trên hàng
đầu tiên. Mấy tiếng hô to từ hàng đầu, và đá bắt đầu được ném ra nhưng
hình như cố tình ném vượt qua hàng rào cảnh sát. Ném xong thì các bạn
hàng đầu chạy ngược trở lại sang hai bên về phía sau. Tôi cũng vội vàng
giấu máy ảnh vào túi ngực rồi lôi củ đậu ra khỏi túi áo và ném rất
mạnh, cũng vượt qua đầu hàng rào cảnh sát nhưng mà chưa chạy ngay, tôi
ném hết cả ba hòn đá rồi mới đứng sang bên cho các bạn khác ném. Cảnh
sát bắt đầu ào tới, nhưng hình như chỉ doạ thôi, vì thấy mặt họ chẳng
nghiêm trọng gì lắm. Cả lũ chúng tôi bắt đầu chạy như vịt ngược lại
phía lúc trước đi đến, vừa chạy vừa hò hét ầm ầm cả tiếng Nhật tiếng
Anh tiếng Pháp, đủ thứ tiếng. Tôi không nhớ rõ lắm nhưng hình như tôi
cũng vừa lôi tay cô Zainab vừa đ. này đ. nọ bọn cảnh sát một cách rất
là thô lỗ. Lúc đấy khăn đã tuột đến cổ, tôi cũng kệ m. nó, chạy như
điên, vừa chạy vừa chửi như hàng cá. Hào hứng quá nên tôi chửi, bằng
tiếng Việt tất nhiên, lung tung, chửi từ cảnh sát cho đến người Israel,
người Libăng, Ả rập, chửi cả cô bạn tôi học cùng tôi lúc trước, chửi
yêu luôn cả mấy cô sinh viên bạn tôi chạy chậm, cả lũ mồ hôi mồ kê nhễ
nhại, thở ra đằng mồm, vừa chửi bới vừa cười sằng sặc. Thật khoái hết
chỗ nói.
Buổi tối về phố, tôi đi ăn cùng một nhóm đông các bạn, rồi chúng tôi đến một quán rượu tên là Nhà trọ bọn buôn lậu
(Smugglers’ Inn). Ở đấy các bạn uống một vòng rượu bia lẫn lộn. Tôi
không uống, chỉ ngồi nhìn, thấy có vài đôi yêu nhau mà một bên là Hồi
giáo và bên kia là Thiên Chúa giáo. Tôi thấy cảnh đấy thì xúc động lắm,
nghĩ là người Libăng không mất nhiều thời gian để hoà giải với nhau,
hoặc là họ cũng không có định kiến tôn giáo gì từ trước đó, rất khác so
với ở Ai Cập. Ở quán có một bạn gay làm bartender trông mặt xinh lắm,
rất thích trèo lên bar để múa cho các bạn khác xem, mà múa hiện đại,
rất đẹp. Tôi bá vai bá cổ với cả mấy chục người tối đấy.
Trích tùy bút “Trái đất này là của chúng mình”, đầu đề đoạn trích do Talawas đặt.