trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
4.3.2003
Lê Thạch Linh
Ghi chép bên lề Talawas
 

IX. Ðọc bài Nguyễn Hoàng Văn (Hội chứng hình như, [ talawas 13/2/03 ]) mình hình như nhớ ra là nhạc sĩ Từ Huy ở thành phố Hồ Chí Minh hình như có ra một tập thơ tên là “Hình như là hình như” đâu khoảng dư mười năm trước. Bực quá, không nhớ nổi câu thơ nào trong đó để ghi ra góp vui cùng Nguyễn Hoàng Văn giễu chơi Phạm Xuân Nguyên. Ông Nguyên hình như bỡn hay hình như thật, không biết, mình chỉ thấy ông ta có vẻ khí tự phụ, đang “Từ Trần Vũ đến Thụy Khuê”, sang “Từ Thụy Khuê đến những người khác”, đáng ra theo mạch thì phải là “Từ những người khác đến tôi”, đằng này ông ta ngoặt một cái thành “Từ Trần Vũ, Thụy Khuê đến tôi”, rõ là coi những người khác như không có. Một thái độ tranh luận như thế kể cũng đáng trách, ông Văn cho đó là một “tam đoạn luận”, chứ mình nghĩ là không phải. Nhưng mình cũng lờ mờ đoán ra tại sao ông Nguyên có thái độ đó khi đọc thấy ông ta dẫn ra cái câu của ông Mắc-Kẹt: “Trong nghề văn khiêm tốn là một đức tính thừa”. Nguyễn Hoàng Văn bảo Phạm Xuân Nguyên là bị “hội chứng hình như”, nhưng đọc hết cả bài ông, đến chú thích 4 thì mình thấy hình như ông Văn cũng đã bị nhập hội chứng đó, vì cái câu ông trích để trong ngoặc kép “không đọc Mỹ học Hegel từ tiếng Ðức nhưng lại phê bình Phan Ngọc” hình như không phải của ông Nguyên viết. Mình lên lại talawas đọc lại bài Phạm Xuân Nguyên thì quả nhiên cái hình như này là chắc chắn: ông Nguyên không viết câu nào như vậy. Chẳng trách đọc bài Nguyễn Hoàng Văn mà mình bỗng nhớ tập thơ của nhạc sĩ Từ Huy. Cám ơn nhạc sĩ, hình như là hình như… Hình như Nguyễn Hoàng Văn đã bị một hội chứng. Hội chứng gì? Hội chứng… chứng. Thì đấy, ông ta đã cho ra mấy “chứng“: biện chứng nam phong, biện chứng vô thường, và bây giờ, hội chứng hình như. Trong nước một dạo chương trình tivi “Gặp nhau cuối tuần” có nhân vật bác sĩ Hoa Súng do nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm thủ vai chuyên chẩn đoán các căn bệnh kỳ khôi. Nếu bác sĩ Hoa Súng đọc hội chứng Nguyễn Hoàng Văn, chưa chừng sẽ thấy có cả chứng lành và chứng ác.


X. Ðọc bài Ðoàn Cầm Thi
(“Phê bình văn học có cần chính xác không? Từ Thụy Khuê đến Phạm Xuân Nguyên“, [ talawas 14/2/03 ]) mình thấy tác giả này ở bài này vẫn cả giận đâm ra viết quáng viết quàng, vẫn sa vào vụn vặt, tiểu tiết. Bà ta định lấy Ngân Xuyên “đập” lại Phạm Xuân Nguyên nhưng lại đọc không kỹ cái câu trích ra đó: “chị nêu nhận xét với tôi…” tức nữ dịch giả Nhật Bản Kato Sakae nói với tác giả Ngân Xuyên, ông này chỉ ghi lại vậy thôi. Viết như bà Thi ở đoạn trích dẫn này làlại sa vào suy diễn rồi. Lại như ở đoạn bà ta định chữa thơ Tố Hữu theo ý mình nữa thì rõ thật là lẩn thẩn hết nói, bà này mà làm biên tập chữa thơ người khác thì “toi” thơ. Kiểu như có một vị biên tập đã từng chữa câu thơ Xuân Quỳnh “ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn” thành “ngọn lửa nào le lói xóa cô đơn” với lý do là cho nó lạc quan, vui vẻ, không để buồn được. Lại nữa, để giải thích cho ông Nguyên tác giả Thuận là ai, bà Thi trích câu Trần Vũ “Thuận Ánh thông minh nghịch ngợm chịu nhiều ảnh hưởng của Phạm Thị Hoài trong các truyện A&B, Vô Va“. Ô hô, thế thì câu Thụy Khuê viết “nhiều người viết văn trẻ (ở trong nước và Ðông AÂu) quay lại với những thần tượng bằng xương bằng thịt của họ: Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài” có gì sai đâu nhỉ, mà Thuận lại đi thanh minh (“Nếu họ viết ít hơn, ta sẽ thấy thích viết hơn” talawas 17/2/03). Hay thực ra vấn đề cãi cọ ở đây thực chất là Trần Vũ viết thì được, còn Thụy Khuê viết thì không được. Ðến đây thì mình có thể đoán hiểu phần nào vì sao ông Nguyên lại gọi cuộc này là cuộc “bỏ bóng đá người”. Còn đoạn bà Thi giễu ông Nguyên về chuyện “Núi xanh núi vàng” thì mình thấy buồn cười cho bà ta quá. Bài Nguyễn Hoàng Sơn đánh tơi bời (đánh ẩu, đánh sai) Nguyễn Thanh Sơn (một cây bút phê bình trẻ, mới, mà bà Thi cũng rất đề cao), ông Nguyên viết bài nói lại, nhân hai cái tên này gợi cái ý chơi chữ phù hợp với được với nội dung tranh luận, nên thành ra có cái đầu đề đó. Ðây có gì là lôi đời tư cá nhân của người khác vào chuyện học thuật đâu. Việc chơi chữ khi viết bài là chuyện thường có, nhưng mình muốn lưu ý bà Thi là phải có chữ trước đã người ta mới chơi được, và chơi như thế nào là tùy vào nội dung và văn cảnh bài viết. Ông Hồ Chí Minh trong bước lưu đày trên đất Trung Quốc qua một địa điểm có tên là Túc Vinh nên mới nảy câu thơ “Túc Vinh mà để ta mang nhục, Cốt ý làm cho chậm bước mình“. Ông Chế Lan Viên thấy ở Hà Nội có cái ngõ tên Tạm Thương nên viết thành bài thơ tình: “Sương giăng mờ trên ngõ Tạm Thương, Ngõ bảy thước mà tình muôn dặm, Ngõ rất cụt mà lòng sâu thẳm, Thương một đời đâu phải tạm thương“. Giá như bây giờ có người nào viết bài cãi với Ðoàn Cầm Thi, muốn chơi chữ tên bà ta thì cũng phải xem có ứng được vào bài viết không, rồi còn phải xem chữ “Cầm” mặt chữ Hán là gì, dù thường “cầm” đi với “thi” nghĩa là cây đàn (Kiều: đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ), nhưng biết đâu “cầm” này còn mang các nghĩa khác của cái khối chữ vuông đó thì sao. Cứ lấy nghĩa Cầm Thi là “thơ đàn” đi, người đó mà viết được bài thì biết đâu sẽ đặt cho nó cái đầu đề là “Một tiếng thơ đàn lạc điệu sai cung”, hay “Thơ đàn một tiếng mình chẳng giống ta”, hay “Lên đường giữa tiếng cầm thi”. Có lẽ cái cuối là hợp đấy, vì Ðoàn Cầm Thi kết thúc bài viết mới này của bà ta bằng cách tự cho mình thay mặt cả lớp trẻ cầm bút Việt Nam mà rằng: “Các nhà văn trẻ Việt Nam cũng không cần những lời khuyên nhủ răn đe của Thụy Khuê và Phạm Xuân Nguyên“. Ông Nguyên thì chỉ khẳng định một câu cho mình: “Tôi ủng hộ mọi sự tìm tòi, đổi khác, cách tân, làm mới của người viết“. Bà Thi thì co kéo đám đông đứng về phía mình. Sao bà Thi không dám mình là mình như bà Khuê trong chuyện này nhỉ, mà phải tập hợp chiến tuyến như vậy. (Mấy chữ “tập hợp chiến tuyến” là của ông Hoài Thanh nói lại ông Hải Triều hồi những năm ba mươi thế kỷ trước khi vì mấy bài viết bàn quan niệm “văn chương là văn chương” mà ông này đổ vấy cho ông kia là đứng về giai cấp phú hào, khiến Hoài Thanh phải viết một bài gọi là “một trò vu cáo đê hèn”). Và sau khi nêu ra một loạt cái tên bà Thi dõng dạc như nữ tướng đứng trước hàng quân hiệu triệu: “Tôi tin vào những thử nghiệm của các bạn!”. Vậy thì, hỡi các nhà văn trẻ Việt Nam, mau mau xếp hàng dưới cờ Ðoàn nữ (sĩ tướng) để cho phen này bà Khuê ông Nguyên “đi đoong”. Ô hô! Ai tai!



XI. Ðọc bài Thuận
(“Nếu họ viết ít hơn, ta sẽ thấy thích viết hơn” [ talawas 18/2/03 ]) thấy tội cho một tác giả trẻ khi cứ nhất quyết không chịu ảnh hưởng của ai trong nghề văn cả. Nghe ai bảo lớp trẻ có ảnh hưởng người này người khác là nhất quyết không chịu. Khát vọng làm mới không đồng nghĩa với hư vô, chối bỏ, phủ nhận. Sáng tạo là vượt thoát cái đã có, đã được làm, đã được thừa nhận, đã có giá trị, đã thành truyền thống. Người viết không nên buồn khi bị/được ảnh hưởng của một nhà văn nào đó, dù tự giác hay không, mà chỉ đáng buồn khi không cho người đọc thấy mình đã khác, đã mới so với ảnh hưởng đó ra sao. Mình nhớ có một bài viết của Nguyên Sa nhan đề “Mười sáu Nguyễn Du“. Vào đầu bài nhà thơ kể chuyện tự dưng sao lại gắn tác giả Truyện Kiều mười sáu, chứ không phải con số khác. Thì là tự dưng thật, ông kể, buổi sáng uống cà phê một người bạn đặt bài viết cho số tạp chí kỷ niệm Nguyễn Du, ông gật đầu nhận và buột nói: tôi sẽ viết về mười sáu Nguyễn Du. Khi ngồi trước trang giấy Nguyên Sa cũng chẳng hiểu sao cắc cớ lại có con số đó, nhưng rồi ông đã tìm ra được một lý giải cho cái đầu đề này. Bây giờ ai đọc Kiều, tìm hiểu Nguyễn Du đều là phải nhìn qua trùng trùng lớp lớp những cái nhìn của bao người trước rồi. Ông Nguyễn Tiên Ðiền và cô Kiều mấy trăm năm đã được vây bọc trong sương khói của biết bao lời tụng ca, phân tích, bình giá, khảo nghiệm, người sau biết có nhìn rõ thêm được cái gì không, biết có nói được điều gì mới lạ nữa không. Nhưng mà cứ nói, mười sáu Nguyễn Du, đây là một… Lại nhớ một câu Goethe nói: “Thiên tài không phải là người không học ai, nhưng là người không ai học được”. Xuân Diệu trong một lần sang Pháp (1981) nói chuyện thơ tại Paris đã công khai kể chuyện mình vay mượn ý tứ câu chữ của các nhà thơ Pháp thế nào, làm thế, như ông nói, nhằm một là, tỏ thái độ sòng phẳng và biết ơn, có vay mượn thì phải trả, hai là, cho thấy mình vay mượn có sáng tạo, trả cái làm ra là của mình. Trong bài thơ “Yêu là chết ở trong lòng một ít” ông nói có ba sự vay mượn: 1) Câu “Yêu là chết ở trong lòng một ít” lấy từ câu của Edmon Harocour “Partir, c’est mourir un peu“, 2) Câu “Cho rất nhiều, nhưng nhận chẳng bao nhiêu” lấy từ câu của Felix D’Arvert “N’osant rien démandé, et n’ayant rien recu“, 3) cấu trúc bài thơ theo điệu rondeau (láy câu 1, 2 khổ đầu thành câu 3, 4 khổ sau) học theo Charles Dorleant. Phải chăng Xuân Diệu “mới nhất trong những nhà thơ mới” là từ những bước đi chịu ảnh hưởng và vượt thoát ảnh hưởng thế này? Về sau này, khi chê thơ tự do của Nguyễn Ðình Thi giữa rừng Việt bắc, Xuân Diệu đã không chịu được ảnh hưởng người khác và không vượt thoát được ảnh hưởng chính mình.

XII. Ðọc bài Tôn Ngũ Viên (“Cách chúng ta nhìn nhận quá khứ chính là cách chúng ta lựa chọn tương lai“, [ talawas 18/2/03 ]) thấy vừa thích vừa bực. Thích ở một quan niệm “động” về văn hóa: văn hóa phải thích ứng được với hoàn cảnh, văn hóa phải tạo ra được con người của ngày hôm nay, văn hóa phải tiềm ẩn trong nó khả năng cải biến. Bực ở thái độ người viết như muốn nói cho hả giận, cho bõ ghét những ai cứ ca ngợi văn hóa Thăng Long, cứ coi văn hóa Thăng Long là tiêu biểu của văn hóa Việt Nam. Từ đó mà giận ghét lây cả văn hóa Thăng Long. Cái thái độ đó tập trung ở đoạn này: “Có thể Hà nội vẫn là nơi số 1 đào tạo nên những nhân tài trong những lĩnh vực đó nhưng chính thành phố Sài gòn mới là nơi thu hút, rèn dũa, phát triển, và sử dụng họ. Điều kỳ lạ là bất chấp những thành quả khác hẳn nhau đó, nhiều người vẫn coi Thăng Long là một cái gì đó cao quý, mang ý nghĩa biểu tượng của văn hoá Việt, trong thời kỳ lịch sử này. Cũng có thể hiểu được những thành phần nào đang cố níu kéo sự tôn vinh văn hoá Thăng Long hiện tại. Đấy là những lực lượng của quá khứ, mà địa vị của họ lệ thuộc vào quá khứ, hoặc là những kẻ thiển cận, kiểu như anh em GS Nguyễn Huệ Chi”. Viết như thế là tác giả đã tỏ ra thiếu văn hóa Thăng Long rồi. Ðối lập văn hóa giữa hai miền, với Hà Nội và Sài gòn là hai thành phố trung tâm lại là một điều bất cập, nếu không nói là bất lợi. Trong cuộc Nam tiến của dân tộc, người Việt sông Hồng đã vươn tới Mê công, và trên bước đường chinh phục, khai phá, thích nghi với vùng đất mới, hoàn cảnh sống mới, họ đã có thêm cho mình những đức tính mới, những phẩm chất mới, những bản sắc văn hóa mới. Nhưng cái cốt lõi, cái hạt nhân văn hóa thì đúng như câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ đã trở thành tâm niệm của bất kỳ người Việt phương Nam nào: “Từ độ mang gươm đi mở cõi, Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long“. Lấy việc Hà Nội là nơi đào tạo nhân tài còn Sài Gòn mới là nơi sử dụng họ làm tiêu chí để bài bác văn hóa Thăng Long thì thật là thô thiển. Vấn đề văn hóa và phát triển là một vấn đề lớn toàn cầu, đến mức UNESCO đã có một thập niên hoạt động cho chủ đề này. Phát triển nhưng làm sao bảo tồn được văn hóa; giữ gìn văn hóa nhưng làm sao để không cản trở phát triển; bài toán đó đã và đang làm đau đầu các nhà lãnh đạo quốc gia nhiều nước, nhất là những nước đang trên con đường vượt thoát đói nghèo như Việt Nam. Nguyễn Du trải mười năm lưu lạc xa Thăng Long đến khi quay lại đã ngậm ngùi: “Thiên niên cự thất thành quan đạo, Nhất phiến tân thành một cố cung” (Ngôi nhà to nghìn năm bị phá làm thành đường lớn, một tòa thành mới xây làm biến mất cả cung điện xưa). Ðường lớn hẳn nhiên phải xây, nhưng xây thế nào để không phá mất ngôi nhà nghìn tuổi, văn hóa trong phát triển là ở đó. Vả chăng, nói đến văn hóa là nói đến sự tích hợp. Như tác giả đã tỏ đồng tình với nhà thơ Lê Ðạt, truyền thống là ga đi chứ không phải ga đến. Vậy thời nay sẽ tạo nên những giá trị mới của thời nay, để cùng với thời gian chúng sẽ thành ra truyền thống của ngày mai, tích hợp vào truyền thống của ngày qua, bổ sung thêm cho các giá trị văn hóa đã có. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong bài trả lời phỏng vấn của mình đã phát biểu về chiều sâu văn hóa Thăng Long, nêu lên cái cốt cách, tinh thần của nó để giúp con người hiện tại soi rọi quá khứ và ngẫm nghĩ tương lai. Tôn Ngũ Viên bàn thêm khía cạnh làm cho văn hóa đó thích ứng trong thời hiện tại là điều cần thiết, nhưng đừng nên nóng nảy, giận cá chém thớt, xúc phạm cá nhân.

XIII. Ðọc bài Nguyễn Hưng Quốc (“Ðổi mới như một phiêu lưu“, [ talawas 21/2/03 ]) chẳng thấy gì mới, những ý này ông ta đã nói đi nói lại nhiều lần trong các bài đăng trên Việt, và sau đó tập hợp vào một cuốn sách. Cái không mới nữa là, thêm một lần nữa, ông ta viết bài cứ thích đặt mình ở thế cách một lập thuyết gia để rao giảng, răn dạy người khác, kiểu bác vật ngạo đời. Một lý thuyết gia luôn tự tin mình thủ đắc chân lý, nên độc quyền chân lý. Cả bài ông ta thuyết giảng “đổi mới là nỗ lực tự sáng tạo nên mình” để bác lại ý người khác cho đổi mới “dám là mình”, rồi ông ta cho rằng quan niệm thế mới đưa đến sự đổi mới cách nhìn về văn học. Và ông ta thản nhiên quy kết, ai không theo quan niệm ấy của ông ta là chưa đổi mới được cách nhìn về văn học, thế tức là thành kẻ thất bại và bị biến thành kẻ ngoại cuộc trong cuộc vận động đổi mới. Kỳ hơn, từ đó ông ta cho những người khác (xin hiểu là những người quan niệm khác ông ta) nói không có điều gì nghe được. Mình đọc đến câu kết này của bài chợt thấy ứng một câu Kiều cho tác giả của nó: “một lời là một vận vào …”. Ông Quốc có chỗ trong bài phê người khác là nhảm vì tham vọng áp đặt một công thức sáng tác kỳ cục, vậy mà chính ông ta lại áp đặt quan niệm của mình một cách như đinh đóng cột vậy, nhảm không. Phiêu lưu là bất định, sao ông Quốc lại tất định, thật kỳ! Mình xin rỉ tai nhà “lập thuyết” Nguyễn Hưng Quốc một ý: nỗ lực tự sáng tạo nên mình lắm khi là nỗ lực tự sáng tạo lại mình, giũ bỏ những cái gì không phải của mình, không phải là mình, để mình được là mình đấy. Kiểu như trong Phật giáo gọi là tu đến độ thấy được bản lai diện mục của mình thì đắc đạo ấy mà. Câu ông Quốc viết “Thật ra, không cần phải đổi mới, bất cứ cái viết đích thực nào cũng đều là những nỗ lực tự sáng tạo nên mình cả” mình thấy như là diễn lại câu bà Khuê viết: “Cũ, mới đều có chỗ đứng, nếu đó là văn chương đích thực“. Nhưng chưa biết chừng, chữ “đích thực” của ông Quốc đích thực không phải là “đích thực” thường dùng, giống như “avant-gardism” là “chủ nghĩa tiền phong” nhưng “avant-garde” là “tiền vệ” ấy mà. Mình nghe nói người ở ngoài hay khó chịu với người ở trong mỗi khi bàn chuyện gì, việc gì cứ hay nói “phải, cần phải”: phải thế này, phải thế kia… không biết có đúng vậy không?

XIV. Ðọc bài Nguyễn Hoàng Tranh (“Chín nỗi buồn về một lối tranh luận và bào chữa” [talawas 23/2/03 ] ) mình được vui. Người ta buồn mà mình vui? Ðúng vậy, vì nỗi buồn của ông Tranh đọc lên chỉ gây cười, chín nỗi buồn là chín cái cười theo cấp số cộng . Ðây nhé, đoạn Lê Thạch Linh tỏ ý buồn cho mấy vị tranh cãi, có câu “Buồn cả cho ông Nguyên”. Thế mà ông Tranh trích ra đoạn ấy, cắt đi câu đó, rồi đi buồn mướn cho ông Linh vì nghĩ mình cãi cho ông Nguyên, lại còn nghi mình là ông Nguyên nữa. Ðoán mò thế thì không cười sao được. Giống như khi đứa trẻ con thấy anh mù, hay người bịt mắt quờ tay loạng quạng, lung tung, là nó cười. Cười cái mò ấy một thì đến cái mò ông Tranh về cuốn sách của Hoàng Ngọc-Tuấn ông Linh có hay không lại cười mười. Có hay không, tra ở sách hay ở mạng, Lê Thạch Linh đã lôi ra hai chữ “bien écrits” bị Hoàng Ngọc-Tuấn bỏ sót khi dịch, ông Tranh không để ông Tuấn lên tiếng, đã vội tranh lên biện hộ là may ông Tuấn có chua đầy đủ xuất xứ chứ nếu không thì Lê Thạch Linh chịu. À, thì ra đấy là “lý thuyết dịch” của Nguyễn Hoàng Tranh: cứ chua đủ xuất xứ là được quyền dịch thế nào thì dịch. Mình cười chán rồi đành chịu “võ cùn” ấy của ông ta. Nhưng mình ngờ có khi ông Tranh làm thơ, chẳng là ông ta xứng ngay ra ở đầu bài như vậy, nên ông ta có “tơ lơ mơ” cái khoản tranh luận học thuật cũng là điều dễ hiểu. Dễ hiểu như vì sao Lê Thạch Linh đã dẫn ra câu châm ngôn Pháp “có đồng đẳng mới bình đẳng” trong đoạn “bên lề” về bài của Nguyễn Hoàng Sơn nói Cao Xuân Hạo mà ông Tranh cũng không đọc được ra, để khiến vô tình ông Hoàng này lại tiếp tay ông Hoàng kia xúc phạm đến một nhà khoa học thực danh. Tuy nhiên, nếu sự “dễ hiểu” ấy cho phép mình tin ông Tranh là nhà thơ, thì cái sự không hiểu nghĩa hai chữ “cập nhật” lại khiến mình nghĩ ông ta không phải là nhà thơ. Dẫu sao, cũng cám ơn Nguyễn Hoàng Tranh đã cho mình được cười. Và khi ngớt cười, mình muốn thưa với ông Tranh một điều: cả cuộc tranh luận “tri thức – phản trí thức” năm nào do Hoàng Ngọc-Tuấn và Nguyễn Hưng Quốc xới lên trên Hợp Lưu mình đã đọc hết mọi bài, không chỉ riêng bài Phạm Xuân Nguyên đâu. Có đọc hết nên đến cuộc tranh luận lần này mình mới thấy cái văn hóa tranh luận của mấy ông ấy vẫn chỉ vậy và chỉ có vậy. Ông Tranh có nhớ cái lần trước ông Quốc “hạ đao” với cái “Thư văn hữu” của ông Thường Quán mà Hợp Lưu cho đăng ở mục “Với văn hữu và độc giả” không? Ðoạn chú thích 2 của bài viết “Cần có văn hóa tranh luận” của Nguyễn Hưng Quốc hồi đó đúng là đoạn “văn mẫu” của một lối phê bình bắt bẻ, vụn vặt. Chắc ông Quốc đã phải khổ tâm lắm khi hạ cố làm cái việc vụn vặt này. Vì nó làm vụn vặt tri thức, vụn vặt tư cách trí thức. Vì nó khiến ta cảm thấy văn hóa của ta hóa ra văn hóa vặt. Khi đọc bài Nguyễn Hoàng Tranh, mình ngờ ngợ ông này ở Úc châu, gần với nhóm Việt. Ấy là cái “khí” bài viết nó toát ra cho thấy vậy. Lại vào Tienve.org thấy có một Nguyễn Hoàng Tranh trong ban chủ trương Website này. Không biết hai ông ấy có phải là một người, hay ông này là ông kia, hay ông kia là ông này? Mà thôi, thơ ca vốn là ở giữa khoảng khả giải bất khả giải vậy. Nói vui theo cụ Tam Nguyên Yên Ðổ là ở đây “xe

 
© talawas 2026