Liên hiệp quốc – Các chính quyền hai Đảng Cộng hoà và Dân chủ ở Mỹ trong nhiều thập niên đã khẳng định họ không can dự vào những thủ đoạn mua phiếu bẩn thỉu thường thấy trong các cuộc bầu cử những chức vụ then chốt tại Liên hiệp quốc.
Tuy nhiên, theo các nghiên cứu gần đây, những nước nghèo có chân trong Hội đồng Bảo an nhiều thế lực thường nhận đô la viện trợ Mỹ nhiều hơn một cách đáng kể, và dễ vay nợ hoặc tìm trợ cấp từ các định chế tài chính chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Hoa Kỳ và các nhóm quyền lực kinh tế khác.
Các viên chức Hoa Kỳ và vài cơ quan quốc tế đặt nghi vấn đối với kết quả tìm thấy trong các báo cáo, nhấn mạnh rằng họ trợ giúp dựa trên nhu cầu, chứ không nhằm kiếm phiếu trong Hội đồng Bảo an. Họ nói bản nghiên cứu đã không xét đến nhiều yếu tố dẫn đến việc phân bổ các món vay và ngân sách viện trợ.
Tuy vậy, các phát hiện vạch rõ Hoa Kỳ chú trọng đến việc lôi kéo ngay cả các thành viên yếu nhất trong Hội đồng Bảo an, cơ quan quốc tế duy nhất có quyền áp đặt trừng phạt kinh tế có tính cách toàn cầu và phê chuẩn tính hợp pháp của các phiêu lưu quân sự. Các phát hiện cũng đưa giả thuyết là có thể có giá cả kèm theo.
Chẳng hạn, theo nghiên cứu của hai học giả Đại học Harvard theo dõi số viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ từ 1946 đến 2001, chiếc ghế hai năm trong Hội đồng Bảo an có thể khiến viện trợ Mỹ gia tăng đột ngột 59%. Trong những lúc khủng hoảng, viện trợ Mỹ cho một số nước thành viên Hội đồng Bảo an đã tăng tới 170%. Mức viện trợ đó có khuynh hướng giảm sau khi quốc gia đó ra khỏi Hội đồng 15 nước.
Bản nghiên cứu cho thấy các cơ quan viện trợ Liên hiệp quốc như Children’s Fund, luôn do một người Mỹ cầm đầu, cũng chuyển thêm tiền cho trẻ em bất hạnh ở các nước có chân trong Hội đồng Bảo an. Bản nghiên cứu nhận thấy trong một năm quan trọng, theo định nghĩa là thời điểm báo chí tập trung loan tin, viện trợ phát triển hải ngoại cho các nước thành viên hội đồng tăng 63%.
Sinh viên bậc tiến sĩ kinh tế Ilyana Kuziemko tại Harvard và Eric Werker, phó giáo sư Harvard Business School, viết: “Trung bình một nước đang phát triển có chân trong hội đồng có thể tiên đoán sẽ nhận thêm 16 triệu đô từ Hoa Kỳ và một triệu đô từ LHQ. Trong những năm trọng yếu này, con số tăng lên 45 triệu đô từ Hoa Kỳ và 8 triệu từ LHQ”.
Kuziemko nói bản nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng “quả tang” nào cho thấy Hoa Kỳ đã dùng viện trợ để mua ảnh hưởng. Nhưng bà nói cuộc điều tra phát hiện một mô hình thống kê “rất ăn khớp với việc mua phiếu”.
Phát ngôn viên UNICEF, Geoffrey Keele, nghi ngờ kết luận của bản báo cáo. Ông nói cơ quan LHQ “tài trợ luôn dựa trên những chỉ số rất căn bản về sức khoẻ trẻ em”.
Keele đưa ra một đồ biểu cho thấy tài trợ cho một số nước trong hội đồng gia tăng trong khi các nước khác giảm. Ông nói viện trợ cho Congo – nhận đóng góp của Mỹ qua UNICEF tăng hơn gấp đôi – đã gia tăng vì hoà ước 2003 tạo nhiều điều kiện hơn cho quốc tế đến đất nước đã cần giúp đỡ một cách tuyệt vọng này.
Nhật báo The Washing Post duyệt lại “sách xanh” của Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ (USAID), trong đó có các con số về viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ, cho thấy nhiều sắc thái trong năm dẫn đến cuộc xâm lăng Iraq do Hoa Kỳ cầm đầu vào tháng Ba năm 2003, một giai đoạn hoạt động ngoại giao căng thẳng trong Hội đồng Bảo an.
Viện trợ kinh tế của Mỹ cho Angola gần gấp đôi, từ 81,6 triệu đô năm 2001 tới 160,5 triệu đô năm 2003, trước khi giảm xuống hơn 40 triệu đô năm 2004. Viện trợ cho Cameroon tăng hơn gấp ba, từ 5 triệu đô năm 2001 tới 15 triệu đô năm 2003, trước khi giảm xuống khoảng 3,5 triệu năm 2004.
Nhưng viện trợ Mỹ cho Guinea giảm xuống 10 triệu đô trong cùng thời kỳ. Bulgaria, một đồng minh thân cận của Mỹ ở Đông Âu, nhận ít hơn viện trợ kinh tế từ Mỹ nhưng được Mỹ tăng gấp đôi viện trợ quân sự năm 2003.
Phái bộ Mỹ tại Liên hiệp quốc và USAID từ chối bình luận về các phát hiện này. Tuy nhiên, các cựu viên chức Mỹ khẳng định đoàn đại biểu Mỹ đã tìm cách tránh xa việc mua phiếu.
Peter Burleigh, quyền đại sứ Mỹ tại LHQ năm 1998 và 1999, nói: “Tôi không được biết về việc Hoa Kỳ tích cực gò ép viện trợ dựa trên các vụ bầu phiếu sắp xảy ra”.
Burleigh nói các quốc gia muốn làm thành viên hội đồng thường gia tăng đóng góp viện trợ của chính họ “như một thứ đút lót” cho các nước có thể ủng hộ. Trong thập niên 1990, Iraq và Kuwait thường gia tăng trợ giúp và hứa hẹn mậu dịch trước khi có những cuộc bầu phiếu quan trọng trong Hội đồng Bảo an.
Thomas R. Pickering, đại sứ Mỹ tại LHQ hồi Chiến tranh Vịnh Ba Tư, nói: “Chúng tôi luôn cấp viện trợ vì có nhu cầu hơn là vì thực sự chúng tôi muốn cố mua chuộc ai”. Nhưng ông nói chính trị đôi khi có thể chen vào tính toán viện trợ của Mỹ, và vai trò thành viên trong Hội đồng Bảo an của nước đang được cứu xét viện trợ có thể nghiêng cán cân có lợi cho nước đó.
Pickering nhớ lại Ngoại trưởng Mỹ James A. Baker III hồi đó nói với Yemen, sau khi Yemen bỏ phiếu chống nghị quyết do Hoa Kỳ đưa ra để phê chuẩn chiến tranh 1991, rằng “đó là lá phiếu đắt giá nhất của họ, khi quả thật trợ giúp của họ biến mất”.
Sự hào phóng lan tới các định chế tài chính LHQ, chủ yếu là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nơi Mỹ thống trị. Theo nghiên cứu của một nhà chính trị học và hai học giả tại một đại học Thụy Sĩ, Romania, Zimbabwe, Ecuador và các nước khác thường ủng hộ những nghị quyết trừng phạt Iraq vì đã xâm lăng Kuwait hồi 1990 đã nhận được những món cho vay đáng kể của IMF.
Trong khi đó, Tanzania trong 15 năm và Gabon trong 18 năm sau khi độc lập không được IMF cho vay. Sự việc thay đổi sau khi hai nước tuyên bố tranh cử vào Hội đồng Bảo an trong thập niên 1970, theo một nghiên cứu của Đại học Chicago.
Vận động vào Hội đồng Bảo an năm 1974, Tanzania nhận được những món vay hơn 10 triệu đô năm 1974 và 1975. Chính quyền Đông Phi bỏ phiếu theo các thành viên thế lực nhất của IMF – Mỹ, Nhật, Anh và Pháp – trong mọi nghị quyết năm 1975.
Mối liên hệ trở nên lung lay sau khi Tanzania tỏ ra độc lập trong việc bầu phiếu năm 1976, khi họ ủng hộ các nghị quyết lên án sự gây hấn đối với Angola của đồng minh thời chiến tranh lạnh của Hoa Kỳ là Nam Phi và kêu gọi Nam Dương rút khỏi Đông Timor. Kết quả là IMF từ chối chuyển hơn 10 triệu đô vào quỹ phụ trội cho Tanzania.
Phát ngôn viên IMF, William Murry, nói “bằng chứng có tính giai thoại và suy diễn”, và các tác giả của bản báo cáo đã không xem xét kỹ các giải thích khác về món tiền vay.
Chẳng hạn, ông nói, các món vay của Tanzania phần lớn vì khủng hoảng dầu hoả sau vụ cấm vận dầu của khối Ả Rập. Ông nói IMF ủng hộ Romania dựa trên sự kiện quốc gia khối Đông Âu cũ này đang tìm sự trợ giúp của phương Tây sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas