trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
13.7.2005
Đỗ Kh.
Gánh nặng Hồng Mao
 

Các chấn động của thế giới đối với mỗi người chúng ta là một dư âm trong một hoàn cảnh riêng rẽ, gắn bó hai thứ này (đại sự toàn cầu và chính mình) bằng một ký ức rất lăng nhăng. Thí dụ, lúc ông Neil Armstrong đặt chân lên cung Hằng thì tôi đang ở Châtel-Guyon uống si-rô bạc hà – nuớc suối Volvic, mới bỏ tiền vào máy hát của quán nước nên sự kiện lịch sử này tôi không nhớ lại bằng câu “Bước tiến khổng lồ của nhân loại” mà lại nhớ bằng Fats Domino (“I found my thrill / on Blueberry Hill”). Sóng thần của năm ngoái, tôi đang dẫn con tôi đi đếm những cô những bà hở vú ở trên bãi Punta Cana (Cộng Hoà Dominican, Hispaniola của Kha Luân Bố) thì một thuỷ thủ Phillipin biết mặt tôi chặn lại “Mình bị Tsunami ở Á châu”), khiến giờ thảm hoạ này không làm tôi liên tưởng đến đánh cá Nam Dương ở Bandah Aceh (hay nhũ hoa Caríb) mà đến những người lao động đường xa, nghìn trùng cách nhà ở quần đảo Visayas. Khi London kinh hoàng vào ngày Song Thất mới qua, tôi đang ngủ.

Vợ tôi gọi tôi dậy bằng điện thoại: “8 quả bom, 1 cái ở trường bay Gatwick, thành phố kể như là bế tắc [1] ”. Tôi đang ở Cali và vợ tôi đang ở Paris, nhưng đây không phải là chuyện giữa đêm về sáng bàn gẫu về thế sự mà là một thông tin thiết thực. Ngày hôm sau là ngày tôi phải lấy tàu sang London. Đầu tiên là tôi nghĩ đến chuyến bay bị huỷ, ngay sau đó lại loé lên một niềm hy vọng mới. Biết đâu, tàu sẽ có nhiều người hơi bị thận trọng bỏ chỗ, tôi sẽ không còn bị kẹt trong hàng ghế giữa với ba người như sơ đồ trên vi tính của hãng hàng không cho thấy vào lúc tôi giữ vé. Vợ tôi đi trước tôi mấy ngày với các con, bằng một đường khác nhưng cũng qua London, đã dặn tôi kỹ càng lấy Picadilly line tàu điện, xuống Greenpark một trạm trước Picadilly Circus đổi sang đường Jubilee để đến nhà ga Waterloo, nếu có hụt trạm này thì lấy Bakerloo line xuôi nam cũng được (vợ tôi trước kia có ở London, còn định lấy cả chồng khác ở đó trước khi lấy tôi nhưng tôi là kẻ trong tàu điện Singapore, Hong Kong còn được cả người Trung Hoa hỏi lối thì việc gì ở bên Anh đi tube mà phải vợ dặn bằng điện thoại liên lục địa). Nhưng giờ này thì nhốn nháo lao xao (và quấn quít vân vê tà áo) không còn biết tắc, mở chỗ nào. Tôi nói: “Thì, (tại) Hồi giáo”. Vợ tôi (từng) là người Hồi nên có cảm thấy bị xúc phạm: “Sao anh biết?”. Tôi bảo: “Chẳng lẽ lại là IRA!” khiêu khích, vợ tôi không phải là người Ái Nhĩ Lan.

Nước Anh, London, tôi không có nhiều kỷ niệm, đi qua đi lại năm mười bận, thường là vì công việc nhưng thường hơn là vì London là cổng rẻ tiền giữa Mỹ và Âu. Thành phố này tôi không có đi thăm mộ Karl Marx (tư tưởng có vĩ đại thì tử thi vẫn vậy), chỉ có một lần đi thăm nhà thơ Nguyễn Đăng Thường và lưu luyến suýt nữa thì hụt máy bay. Người Anh, tôi cũng lơ là không có ý kiến, tiếp xúc với họ thường là ở những phương xa bãi biển, dễ nhận diện nhờ họ không uống bia lạnh và người đỏ như tôm. Văn hoá Anh quốc, tiếp thu trực tiếp thì năm tôi lên mười, có đứa bạn mừng sinh nhật bằng ba quyển Dickens, thi ca thì tôi lẫn ông Keats với lại ông Yeats “The center gì đó chẳng có hold [2] ”. Nhưng hơi hướm của Đế quốc thế kỷ 19 thì tất nhiên chẳng bao giờ mặt trời lặn hết, ở khắp nơi tôi vẫn phải gặp, từ Larnaca Cyprus Địa Trung hay là cao nguyên Mã Lai Cameron đến Maldives Ấn Độ dương con sóng lặng lờ. Người Anh đầu tiên mà tôi được thấy là ông Sikh quấn khăn trên đầu bụng giắt đoản đao gác cửa Đại sứ quán tại Sài Gòn. Người chót mà tôi trao đổi với là vào năm ngoái, một ông tài hướng dẫn du lịch ở Gilbraltar, suốt cả buổi phê bình người Tây Ban Nha hàng xóm. Văn minh Anh, đối với tôi không phải là một văn minh chánh xứ mà là một văn minh thuộc địa.

Điều này, đặt chân xuống Heathrow đã thấy rõ, bà lao công phòng vệ sinh gốc Jamaica, ông Hải quan gốc rõ là Ấn Độ. Tôi đến đây vào sáng ngày mùng 9, 48 tiếng sau khi 4 quả bom nổ trong thành phố, 3 quả trong đường tàu và một quả trên xe buýt đặc trưng 2 tầng (“làm bung cả cái nóc lên cao đến 10 thước”). Máy bay chẳng có chuyến nào hoãn hết, tàu tôi từ Calgary đến chỗ nào cũng chật. Từ Canada thì phần lớn là người Canada đi hay người Anh trở về, lác đác người gốc Bán lục địa Ấn dây mơ rễ má bên này và bên kia Đại Tây dương, cô ngồi cạnh tôi gật gà là người Úc Đại Lợi. Thì mặt trời chẳng bao giờ lặn trên Đế quốc này cả, đến ngày nay đồng tiền Canada vẫn bèn bẹt mặt Nữ hoàng. Chẳng thấy ai “kinh hoàng” như các đài thông tin truyền hình từ CNN đến Fox News cố cho ta cảm tưởng, nghiêm trọng nối 50 người thiệt mạng này với 3.000 người 4 năm về trước ở New York, lôi đâu ra được những kẻ từng trải qua hai cảnh thất kinh này mà phỏng vấn. Câu “Thiệt hại to lớn nhất từ Đệ nhị Thế chiến…” được lặp đi lặp lại làm tôi nhớ đến chuyện tai nạn xe đò chở khách (năm kia?) ở thành phố ngày trước mang tên Stalingrad, cũng là “thiệt hại to lớn nhất về nhân mạng từ Đệ nhị Thế chiến” theo lối ví von giật gân này. Tôi thấy tôi quan trọng hẳn trong chuyến Air Canada 850 bập bềnh vào London dưới blizt của Al Qaeda, anh hùng không kém Jude Law (thủ vai đại thiện xạ Slava Zaitsev) trong phim Enemy at the Gate vượt sông vào Thành-phố-mang-tên-Người cuồn cuộn khói (“Hai người một khẩu súng! Người đầu tiên mang súng, người thứ nhì mang đạn! Người trước chết, người sau nhặt súng tiến lên thay!”

Ông ngồi bàn chỉ dẫn trong phi cảng cho tôi biết đường Picadilly bị cắt ở Hyde Park Corner, phải xuống đó lấy xe buýt đến Waterloo. Tôi cẩn thận, xuống đến đường hầm hỏi lại một cô chỉ dẫn khác, cô này bảo đến Hammersmith đổi District Line, đến Embankment lại đổi nữa lấy đường Northern. Tôi dò lại bản đồ, nảy ra ý chia sẻ với những người dân thành phố (“Những người lao động không phân biệt tôn giáo, màu da, tuổi tác hay bất cứ thứ gì” theo lời Đô trưởng Ken Livingston [3] ) bằng cách xuống trạm Westminster và đi bộ vượt chéo sông Thames. Hai ngày trước cả triệu người đã phải đi bộ về nhà dưới thời tiết nổi tiếng trên thế giới là bất trắc. Tôi có mang theo cái áo đi núi The North Face (Hy-vent cẩn thận) có cả túi đựng nước ở trên lưng (dùng Camelback có ống hút đưa đến tận miệng, vừa đi vừa uống mà không phải bận đến tay chân) cho nên thời tiết ở London vào tháng 7 tôi không sợ. Tay chân tôi có vướng bận hành lý kéo lê tôi vẫn anh hùng hơn là diễn viên Sylvester Stalone nếu không kể Jude Law. Ông Stalone này, một dạo trước, đã huỷ chuyến sang Pháp ra mắt phim của ông vào lúc đường tàu điện ở Paris bị khủng bố đánh bom có một trái! Đằng này, chỉ mới có 48 tiếng, chưa nguôi gạch vữa, tôi đã đường đường vào London vẫn còn đang run rẩy (theo lời đài MSNBC), hiên ngang gạt qua cả một bên lời chỉ dẫn của hai nhân viên trên (dĩ nhiên lại đều là gốc Ấn).

*

Giữa đại lộ người địa phương gọi là “Đại lộ Đài truyền hình” có đến mươi gia đình, khoảng 50 người Ấn, có thể là Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, Sri Lanka hay là đủ cả các quốc gia này lẫn lộn. Thanh niên, đứng tuổi, đàn bà, trẻ con đều có cả, tay xách nách mang. Họ ở giữa con lộ. Trên vỉa ngăn hai luồng lưu thông vào lúc này không một bóng xe, tụ tập thành một hòn đảo đang giao động vây quanh bởi nhựa đường. Một thứ thành trì sóng sánh, bảo vệ bằng mấy cái va ly đặt vòng quanh tạm bợ vì không có một ai ngồi mà tất cả đều đứng trong tư thế dáo dác. Ấn Độ thì biết rồi, ngưng 5 phút, họ đều có thể ngồi xuống chồm hổm mà ngủ chứ đừng nói là nghỉ nữa. Nhưng đây, họ đều đứng nép vào nhau, trẻ con ôm lấy chân mẹ ở phía giữa, vòng ngoài là đàn ông nhớn nhác, thập thò sau hàng rào hành lý mong manh. Mỗi lần tiếng súng lác đác trước sau phía bên phải thì hòn đảo người lại dạt một chút về phía trái, như theo thuyết chiếu nhanh của các lục địa di chuyển. Nhưng quái ác, tiếng súng lại đì đoàng phía trái khiến họ lại lao xao về hướng ngược lại. Hòn đảo này bất định, co ro nhưng không ngồi hẳn xuống, chập chờn định hướng rất phân vân.

Người đàn ông lớn tuổi, chắc lãnh đạo ốc đảo này, đánh bạo băng qua nửa con đường vắng ngắt về phía tôi, theo sau là một, hai thanh niên ngập ngừng nhìn tới canh lui. Đây không phải là London mùa hè 2005 mà là Beirut mùa hè 1982, đại quân Israel đang giằng co thành phố với kháng chiến Palestine. Tôi không hiểu đám người Ấn kiều này từ đâu ra, sao lại lạc giữa Đại lộ Đài truyền hình ở phía Tây Beirut trong khi ầm ì tứ phía, chẳng lẽ là một đoàn du lịch bị hướng dẫn viên bỏ rơi vì chiến dịch bất thần “Hòa bình ở Galilea” của Do Thái không được dự kiến trong chương trình. Nhưng tôi, người Việt da ngăm vào lúc này là kẻ gần gũi nhất với họ ở một nơi toàn bọn Ả Rập, lăm lăm tay súng. Tôi không là cứu tinh nhưng tôi là hy vọng, tôi thấy điều này trong ánh mắt đầy lo âu của người đàn ông. Câu ông ta lập cập hỏi là câu tôi không ngờ tới: “Ông có biết… Đại sứ quán Anh ở chỗ nào?”

Đại sứ quán Anh đã di tản (mẹ nó) về Đông Beirut, chắc có thông báo và mang theo những Anh kiều chính cống, để lại dưới bom đám công nhân hạng nhì này của đế triều. Với họ, tôi có thể giống người Hoa, thần dân Cảng Thơm này nọ nhưng tôi không mang sổ thông hành Đế quốc có hàng chữ “Dieu et mon droit”, tôi chẳng có gì chia sẻ và gắn bó, tôi chẳng làm gì được cho họ, văn minh thụôc địa của tôi là văn minh thuộc địa… Pháp, tôi ăn bánh mì sữa đặc chứ không phải thịt bò rất chín chấm mứt xoài. Ông Ấn Độ trở thành vô vọng, nhìn về hướng lằn ranh Đông Tây sau những căn nhà đổ nát, giờ này đang là tuyến đầu bất khả băng qua. Lời khuyên của tôi là hãy quên Nữ hoàng và đi đâu thì không biết, nhưng đừng có đứng cả đoàn giữa lộ mà lẩm nhẩm thần chú Kipling, tường và mái là những thứ che chở hữu hiệu hơn một lá cờ Union Jack vô hình.

*

Trở lại phần tôi, trở lại ngày 9.7.05, sau cùng thì cũng lấy được Eurostar [4] toàn thân trong một ngày thứ bảy bình thường, chỉ khiến 3 người Nga ngồi cạnh tôi trên tàu điện giở bản đồ ra mà da, niet vung vẩy, vì vài trạm đóng cửa. Tôi cũng cẩn thận theo dõi bọn «Ban nhạc Chechen» [5] này nhưng ngang ngửa chẳng thấy ai nhìn phụ nữ quấn khăn nghi ngại mặc dù cô trưởng xa ba trạm lại nhắc là nên đề cao cảnh giác đặt bom, và mỗi trạm nhắc là nên đề cao cảnh giác khi bước xuống (“mind the gap”, tàu cặp không sát bến, có thể hụt chân). «Phớt tỉnh Ăng-lê» hẳn là một thành ngữ có cơ sở thực tế. Hay London này, vẫn quen với thói trọng vọng người Ả Rập của những thập niên về trước, thời có cả một đoàn phụ nữ che mặt đòi cửa hàng Harrod’s mở cửa riêng sau giờ làm việc cho họ vào mua sắm và đi ra không buồn thanh toán mà nhân viên không ai nghĩ đến đòi tiền (họ chỉ xưng danh một tiếng là người Kuwait và Đại sứ quán Kuwait sau đó đã bồi hoàn đầy đủ lại cho cửa hàng). Chuyện truyền kỳ còn có du khách Ả Rập sang Anh mua xe Rolls và thuê tài xế, khi về nước để chiếc xe lại tặng anh tài, cho nên họ lưu danh cũng phải. Giờ thì, rõ chán, họ mang bom sang và để lại trên những chuyến tàu lao động bình dân, thiệt hại này Đại sứ quán Saudi lại không muốn nhận.

Thực ra có Lawrence thì cũng có (hay là mới có) Osama of Arabia. Gánh nặng tựa núi Thái của người Hồng Mao chưa kịp trả, lại còn lăng xăng mang thêm vào gánh nặng của Toà Nhà trắng [6] ! Lịch sử do những cung đình quyết định và ở đâu cũng vậy, ở đây hay là ở Kabul, Baghdad, toàn chết những người sáng dậy đi làm.

© 2005 talawas


[1]Đây là hốt hoảng không chính xác của những tin giờ đầu, nói gì vợ tôi, Tony Blair còn mất bình tĩnh.
[2]Tôi có đọc trong tập ký của một người da trắng Nam Phi (đã quên tên) đoạn kể ông trở về nước, trên đường vắng, xe bị lún sình. Đang tìm cách bẩy xe lên thì một cụ già người da đen Zulu quấn khố đi ngang, tay cầm mác đứng lại nhìn và lẩy “Things fall apart / The center will not hold”. Chuyện này tôi có kể cho nhiều nhà thơ Việt ở Mỹ, chẳng ai chịu tin là “mọi” cũng văn hoá!
[3]Ông Livingstone trách khủng bố không đánh bom quyền lực mà đánh vào bình dân, chắc là gợi ý, giỏi thì sao không đánh bom Hội nghị Thượng đỉnh!
[4]Tàu cao tốc từ Anh sang Lục địa, Pháp và Bỉ.
[5]“Ban nhạc Tzigan” là mật mã công an đặt cho tình nghi chống đối chế độ trong phim Man of Iron của Andrej Wajda (Ba Lan).
[6]Đại biểu khu vực London của Quốc hội, ông Galloway, cho đây là quả báo, tại không nghe dù tôi đã bảo. Mới đây, khi nhận ra điều trần trước Ủy ban Quốc hội Mỹ về chương trình “Dầu đổi lấy Thực phẩm”, thay vì nhận “tội” thân Iraq, ông đã mắng cả Uỷ ban cho bẽ mặt Hoa Kỳ.

 
© talawas 2026