“
Con người sinh ra không phải là để bảo tồn những giá trị hay bản sắc, không phải là để hội nhập, mà thậm chí cũng không phải là để phát triển, mà là để sống.”
Trong bài viết rất công phu nên cũng khó theo dõi của tác giả Ngô Tự Lập, có lẽ câu trên là một trong những kết luận quan trọng nhất của tác giả. Còn câu hỏi bản sắc văn hoá là gì, vai trò của nó trong cuộc sống nhân loại ra sao, sống có bao gồm cả bảo tồn bản sắc hay không thì hầu như còn để ngỏ cho mỗi người tự giải đáp. Tôi xin góp vào cái sự bản sắc và Đông-Tây này một vài suy nghĩ.
1.
Bản sắc có lẽ là cái chúng ta đang có. Và khi cái chúng ta đang có là giống nhau, chúng ta có một bản sắc văn hoá của cộng đồng. Đó có thể là toàn bộ quá khứ, ngôn ngữ, thói quen ăn uống và sinh hoạt. Một cô gái có bố, mẹ là người Việt nhưng không biết tiếng Việt, không chung những thói quen suy nghĩ, ăn uống, sinh hoạt “Việt” thì hơi khó được gọi là Việt, ngoại trừ khi người ta quan tâm đến nguồn gốc chủng tộc. Tương tự như vậy, lấy ví dụ của anh Ngô Tự Lập: Diego Maradona là người Argentina, cho dù anh ta có chuyển quốc tịch sang bất cứ một quốc gia nào khác. Nhưng Ruud Gullit là người Hà Lan, cũng như Michael Jackson là người Mĩ, trừ khi một người nào đó ngạc nhiên về mái tóc và màu da của anh ta.
Trong quá khứ, bảo vệ bản sắc là một cái gì gần giống như bản năng của cộng đồng, bởi nó chính là bản năng của mỗi cá nhân. Bởi đó chính là một phần của Sống. Đó là bản năng lưu truyền, san sẻ thông tin, kinh nghiệm và cảm nhận cho thế hệ tiếp theo. Bản năng đó là cội nguồn của sự sống. Nó cũng có thể bắt nguồn từ nỗi lo sợ ám ảnh đã được nói ra rất hay bởi một nhà thơ phương Đông: Tiền bất kiến cổ nhân, Hậu bất kiến lai giả (Trần Tử Ngang). Cảm giác bơ vơ và ý nghĩ rằng mình sẽ “chết tất cả” có lẽ là động cơ cơ bản nhất của việc bảo vệ bản sắc.
Khi mọi thứ đã được lưu trong thư viện và đĩa vi tính; khi một người có thể tìm biết hầu như mọi thứ chỉ trong một thời gian ngắn; khi một cá nhân học được cách chung sống cùng với “kẻ khác”; khi một cá nhân ngày càng phải dịch chuyển nhiều hơn trong một không gian sống ngày càng chật hẹp hơn và có thể khỏa lấp nỗi bơ vơ Trần Tử Ngang kia bằng một tìm kiếm theo chiều ngang thì tự dưng cái bản năng bảo vệ bản sắc ấy yếu dần đi. Như một sự thoái hoá của một chức năng nào đó trong cơ thể, khi điều kiện sống thay đổi. Và con người tìm cách dùng lí trí để can thiệp, để làm chậm quá trình “thoái hoá” đó lại. Lần này xuất phát từ một nỗi sợ hãi khác: nỗi sợ hãi cho con cháu sẽ phải làm công việc của nhà khảo cổ học trong khi chúng ta có thể áp dụng công nghệ ướp xác. Trong thời hiện đại, có lẽ không phải nguy cơ càng lớn đã làm cho “vấn đề bản sắc và sự đa dạng về bản sắc lại trở nên cấp bách như thế trong xu thế toàn cầu hoá ngày nay“, bởi khó thuyết phục được rằng nguy cơ tự khẳng định trong thời toàn cầu hoá lại ngày càng cao hơn so với trong quá khứ. Chưa kể đến chuyện liệu vấn đề bản sắc đó có đã thực sự trở nên cấp bách hay không lại là một câu hỏi còn để ngỏ. Bởi nếu con người sinh ra chỉ để sống chứ không phải để bảo vệ bản sắc thì tại sao vấn đề này lại trở nên cấp bách? Có thực Sống đang bị đe doạ không hay sự cấp bách đó đang là một cái mode hoặc từ một nguyên nhân chính trị là chính? Tôi không dám chắc, nhưng nếu tin vào những giá trị phổ quát; nếu tin vào một nhân loại hoà bình hơn, yên ổn hơn, bình đẳng hơn và toàn cầu hơn, tôi không tin bảo vệ bản sắc lại là một vấn đề cấp bách!
2.
Hình như khi xem xét Đông-Tây, phần đông chúng ta vẫn đều xem xét trong lăng kính của sự hơn thua. Cái lăng kính ấy có lẽ bắt đầu bằng thất bại quân sự trong thời kì chiến tranh chinh phục thuộc địa, và sau đó là cảm giác thua kém về kinh tế, công nghệ trong thời hiện đại. Từ đó mới dẫn đến những cố gắng chứng minh rất vô bổ kiểu như Trung quốc chẳng kém gì châu Âu vì tổ tiên họ đã chế tạo ra rất nhiều thứ trước người châu Âu. Khi Trung quốc đã có thành quách cung điện nguy nga, biết chế biến bữa ăn hàng trăm món thì đa số châu Âu còn ăn lông ở lỗ. Những luận điểm kiểu này giống như Thạch Sùng so giầu vậy. Đến bao giờ danh sách trước, sau của anh nào dài hơn thì anh ấy thắng. Nếu không thể so sánh tiếp được nữa thì cũng vẫn còn có một đòn tối hậu: thì châu Âu cũng chỉ mới phát được mấy trăm năm, nếu không có mấy ông vua-bảo-vệ-bản-sắc đóng cửa giao thương thì chúng tôi lại chả bằng mấy các anh!
Còn khi không so của cải vật chất thì chúng ta so tư tưởng, tinh thần. Khổng tử chẳng kém gì Platon, còn Kinh dịch thì đã bàn về vật chất và phản vật chất, đến sự đấu tranh và tính thống nhất giữa các mặt đối lập từ mấy nghìn năm trước rồi kia. Hệ số đếm 0, 1 thì đã nhằm nhò gì. Stephen Hawking và ngành vật lí lí thuyết may lắm chỉ chứng minh được một câu của Đức Phật Thích Ca về tính chất của vật chất. Đạo của Vật lí chỉ đến thế là thôi. Tất cả toàn bộ trí khôn thiên hạ đã ở trong Kinh Dịch rồi, phương Tây chỉ khám phá lại. Có khác gì Kinh thánh đã nói: There is nothing new under the sun. Loay hoay làm gì cho khổ? Tiếc rằng phần đông những so sánh kiểu này hình như đều xuất phát từ phương Đông. Có nhiều phương Đông. Bằng hiểu biết của mình, tôi cả gan chỉ xin giới hạn phương Đông của tôi là Việt nam và có thể ngoại suy ra xa hơn một chút mà không sợ sai: đó là thế giới văn hoá Khổng giáo.
Một lăng kính khác là sự đơn giản hoá. Theo đó thì phương Tây thiên về vật chất, phương Đông thiên về tinh thần. Phương Tây nặng về lí trí, phương Đông nặng về truyền thống. Tôi chưa bàn những điều này đúng hay sai như anh Ngô Tự Lập đã bàn về ba huyền thoại Đông-Tây, tôi chỉ biết đó là một sự đơn giản hoá đến ngạc nhiên. Đã đành khi tiếp cận một thực thể phức tạp, một mô hình qui chiếu đơn giản là cần thiết, nhưng vấn đề nằm ở chỗ là khi kết hợp với thói quen văn hoá vốn có, nó có nguy cơ tiềm tàng là biến điểm bắt đầu thành điểm kết thúc.
Ví dụ như ở Việt Nam, hơn các nước khác một chỗ là chúng ta đã từng có một nền kinh tế phi thị trường nên có điều kiện hơn các nước phương Đông khác để so sánh thêm một khía cạnh nữa: đó là qui đồng phương Tây vào nền kinh tế thị trường, rất là vật chất và lắm những nguy cơ suy đồi. Nào, hãy coi kinh tế thị trường giống như một bãi rác văn minh, hãy tìm cách khai thác hết các khía cạnh tích cực của nó, rồi rửa tay gác gậy về nhà tận hưởng nền văn minh tinh thần phương Đông, hạnh phúc dài lâu. Giống như câu nói khôn ngoan ngày xưa tôi đã nghe: ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, chết lên Thiên đàng. Ước gì tôi có thể chỉ kinh tế thị trường vật chất khi kiếm tiền thôi, còn sống phi thị trường. Liệu có thể coi một văn hoá “kinh tế thị trường” hoàn toàn chẳng liên quan gì đến những giá trị tinh thần, không bao gồm cả các giá trị tinh thần cao quí, thậm chí những giá trị phổ quát? Hay như í của K. Marx: nếu tôi có một nền kinh tế giống hệt của anh, tôi sẽ có lối sống như của anh? Cẩn thận hơn thì thêm: còn phụ thuộc vào quá khứ và lịch sử của anh. Theo lí thuyết thì như vậy sẽ không thể tồn tại cái khái niệm giống hệt kia được. Ứớc gì tôi có thể nhập khẩu tư duy lí trí phương Tây về dùng như dùng tủ lạnh, xe hơi, khỏi cần thay đổi “văn minh tinh thần” phương Đông làm gì cho mệt.
Vậy thì sự khác nhau giữa Đông-Tây là như thế nào? Có khác hay không? Xin chỉ tham chiếu vào hiện tại bởi vì tương lai thì hi vọng là chỉ có một loài người trên trái đất. Loài người đó có thể là hũ tương hay đĩa sa lát trộn giấm hay đồng thời là cả hai. Nhìn vào liên hiệp châu Âu thì nghĩ là chỉ nay mai sẽ có thể phổ thông đầu phiếu đi bầu tổng thư kí Liên hiệp quốc được. Sao không nhỉ? Còn nếu nhìn chiến tranh ở Trung đông hoặc thậm chí vụ kiện cá cat-fish Việt nam sống đi chết lại theo đúng nghĩa Azit Nesin đã dùng thì chiến tranh có thể còn là chuyện thường ngày ở cấp quốc gia.
Nếu dựa vào nhận xét của tác giả Ngô Tự Lập, cả 3 huyền thoại Đông-Tây đều sai thì dường như Đông-Tây chẳng có gì khác nhau cả. Biên giới địa lí, tôn giáo, lịch sử đều đang bị xoá nhoà, chỉ còn các giá trị phổ quát mà hình như tinh thần Tự do và giá trị nhân bản là cái của phương Tây đang hấp dẫn thiên hạ. Nhưng như thế cũng gián tiếp cho rằng tinh thần Tự do và giá trị nhân bản dường như không tồn tại ở phương Đông? Và ngoài hai điểm đó ra, Đông và Tây chẳng khác gì nhau? Có phải Đông và Tây chỉ khác nhau về lối sống không? Lối sống phương Tây mà mọi người hay nói tới bao gồm những gì? Cái gì quyết định lối sống đó?
Tôi thì cho rằng Đông và Tây đang khác nhau, và cái khác nhau cơ bản và nền tảng nằm ở trong nhân sinh quan của các triết lí truyền thống của hai nền văn hoá: một bên là triết lí sống (chứ không phải tôn giáo) Thiên chúa giáo , một bên là triết lí sống Khổng-Đạo-Phật giáo. Nếu nhân sinh quan của một bên coi thế giới là những tiểu thế giới cần sự đối xử riêng biệt thì một bên coi thế giới là những phần tử độc lập nhưng bình đẳng trước Thượng đế. Không có nghĩa là bên nào hơn bên nào hoặc gần chân lí hơn bên nào, có chăng chỉ là đối với một vấn đề nào đó của thế giới hiện tại, triết lí nào tỏ ra phù hợp hơn mà thôi. Từ trên nền tảng của những triết lí này mà nảy sinh ra sự khác nhau giữa Đông và Tây. Tinh thần tự do, giá trị nhân bản và cái gì gì đi nữa thì đều có ở trong hai hệ triết lí này. Điều khác nhau giữa chúng nằm ở tương quan trong hệ qui chiếu của chính chúng mà thôi. Tự do chẳng hạn, ở phương Đông là thứ tự do một mình mình biết, một mình mình hay, sự tự do của việc thiết lập một tiểu thế giới khép kín. Còn Tự do ở phương Tây là sự tự do đối diện với Thượng đế, sự tự do sinh ra bởi sự bình đẳng trước Thượng đế và vì những sứ mạng của Thượng đế. Giá trị nhân bản ở phương Đông là giá trị nhân bản cũng trên tinh thần của những tiểu thế giới, vì vậy mà đồng thời với việc không nỡ giết một con vật vì tôn trọng một tiểu thế giới, lại vẫn có thể sát sinh rất nhiều người vì một tiểu thế giới. Giá trị nhân bản của phương Tây là giá trị nhân bản của con người nhân danh Thượng đế, vì vậy mà đồng thời với việc hi sinh mình cho những giá trị của Thượng đế, lại cũng có thể giết nhiều người hơn cũng vì sứ mạng trước Thượng đế. Điều gì đã làm tinh thần tự do và giá trị nhân bản phương Tây hấp dẫn hơn?
Có một câu hỏi lí thú là: vậy thì triết lí nào phù hợp với thời đại kinh tế thị trường, dân chủ, toàn cầu hoá và hội nhập – một quá trình không thể cưỡng lại được, chỉ có thể thay đổi để đi theo nó hoặc bị nó cuốn theo chứ không thể đứng ngoài gặt hái tinh hoa này? Tôi chỉ có thể cảm nhận chứ không biết rõ ràng. Có thể số liệu về những người chuyển đạo, những nhà thờ mới mọc và sự giao thoa giữa những nền văn hoá sẽ trả lời được một phần nào. Cũng có thể ngay cả các số liệu thống kê cũng chẳng nói được điều gì trong vấn đề này. Có thể là con người đang học được cách chắt lọc những gì tinh túy nhất để tạo ra một triết lí chung của cả Đông và Tây dựa trên những giá trị phổ quát cho một kỉ nguyên toàn cầu mới. Hoặc là trong cuộc va chạm văn hoá Đông-Tây mà rất nhiều người tin là có thực này, một bên sẽ thất bại. Bạn đứng về bên nào?
Mà có thể việc bạn đứng về bên nào hoàn toàn không quan trọng so với việc bạn muốn trở thành ai và sẽ trở thành ai – chen vai thích cánh trong một thế giới mà những biên giới trong đó ngày càng mờ nhạt đi!
© 2003 talawas
[1]Ngô Tự Lập, talawas, 07.08.2003, chuyên đề Phương Đông và Phương Tây