trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
28.2.2006
Hà Minh
Đôi điều về “thơ tù” cùng Đông La
 

Ta nung nấu nghìn đêm ác mộng

Đánh chìa vàng mở lối về em…


Thơ Hoàng Hưng

Đông La xuất hiện như một ngôi sao chổi, đi vào khí quyển văn học với một vận tốc rất cao (5-6 bài trên talawas trong vòng 2 tháng), và dĩ nhiên cái đuôi lớn của nó phải va quệt vào các thiên thể khác trong nhiều lĩnh vực: thi ca, văn học, chính trị và thậm chí cả khoa học tự nhiên… chẳng thế mà Đông La liên tục được “hỏi thăm sức khỏe”. Trên talawas gần đây có ít ra hàng chục bài viết đối thoại với Đông La. Về phần mình Đông La cũng khá cứng cỏi, một mình một ngựa, dùng vũ khí “đấu tranh giai cấp” chiến đấu rất hăng bằng các “độc chiêu” như “Đối thoại với kỳ nhông“, “Công kích Lữ Phương“, tỏ ra rất thấm nhuần tư tưởng “Chống Dühring” của các cụ tổ Marx và Engels, hoặc Đả Khổng đả Mạnh của Mao “xếnh sáng”. Xét về mặt lý luận, Đông La tỏ ra tự tin và có chính kiến hơn Nguyễn Hòa, một cây bút gây cảm tưởng là viết theo đơn đặt hàng, tức “nói dzậy mà không phải dzậy”, rất giống như “tập đoàn” 70 vị Giáo sư Tiến sĩ đầu ngành đã được Bộ Chính trị đặt hàng viết bản “Dự thảo báo cáo chính trị Đại hội 10” (DTBCCTĐH10), bình cũ rượu còn cũ và nhạt hơn; cho nên nếu xét về hiệu quả kinh tế thì Ký ức Điện Biên cũng không đến nỗi tệ như thế, nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã viết mấy bài xoay quanh “hiện tượng” DTBCCTĐH 10: Nếu con số chi phí cho bản DTBCCTĐH10 đúng là 27 tỉ thì với độ dài của DTBCCTĐH10 là 22669 từ (đếm bằng word count) bản dự thảo này đã đạt kỷ về lục giá thành 1191 053đ/ từ tức là xấp xỉ 1,2 triệu VNĐ cho một từ; cứ cho là đồng tiền Việt Nam là “vỏ sò, vỏ hến” thì tiêu chí “nhất tự thiên kim” của Lã Bất Vi với bộ Lã Thị xuân thu đã bị DTBCCTĐH10 bỏ qua xa lắc.

Rất tiếc, “cầu thủ” Đông La đã bị “trọng tài” talawas phạt “thẻ đỏ”, theo tôi trọng tài đã xử hơi “nặng tay”: thực ra Đông La không phạm lỗi nặng đến nỗi bị đuổi khỏi sân, mặc dù các đường bóng “đá chân nhau” đã có biểu hiện “khí uất bốc lên đầu”, dù sao trọng tài nên xem xét lại quyết định của mình để Đông La được tiếp tục thi đấu với mầu cờ sắc áo của phe chống… “chống đối”. Nếu không, dư luận lại phân vân không biết trọng tài có “bán độ” hay không…?

Riêng tôi chỉ muốn tản mạn với Đông La trên lĩnh vực thi ca, ngâm ngợi xung quanh bài “Đọc ‘thơ tù’ của Hoàng Hưng” chứ chẳng hơi đâu mà bàn đến chủ nghĩa cộng sản. Nói chung trên bình diện nào Đông La cũng tỏ ra tự tin, sắc sảo, thông tuệ. Tuy nhiên nếu nhìn thật kỹ vào những lập luận của Đông La về thơ, ta có thể nhặt ra vài điều đáng trao đổi vì “nói dzậy mà không phải dzậy”:

Trong bài “Đọc ‘thơ tù’ của Hoàng Hưng”, Đông La đã nhanh chóng dán ngay cho thơ Hoàng Hưng cái mác “thơ tù” to tướng, khá nôm na bình dân, kể ra cũng hay hay, nhưng theo góc nhìn của Đông La, thể loại “thơ tù” thể hiện tính chất tầm thường, không mang tính văn học. Hãy xét bản chất của thể loại thi ca, văn học sáng tác trong tù, điển hình là Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) của Hồ Chí Minh, liệu Đông La có dám gọi nó là “thơ tù” của Hồ Chủ Tịch không? Nếu có, tên của cuốn Ngục trung nhật ký nên được đổi thành Nhật ký ở tù chăng? Biết đâu đây lại chẳng là “quái chiêu”, sẽ có ép-phê như Nhật ký tuổi hai mươi hay Nhật ký Đặng Thùy Trâm, bởi vì nếu chiếu theo quan niệm của Đông La:


“Dù rằng, Ác mộng quả thực là một tập thơ độc đáo, nhưng cái độc đáo ở đây đơn giản chỉ vì nó là “thơ tù” chứ hoàn toàn không phải vì bút pháp cao cường; không phải vì nó chứa đựng cái chí cao cả của một người sẵn sàng xả thân vì nghệ thuật, cái ý tứ thâm sâu của một nhà tư tưởng,… tức những phẩm chất của của một nhân vật muốn “phất cờ khởi nghĩa” như Hoàng Hưng…”

thì quả Ngục trung nhật ký cũng không khác Ác mộng là mấy về hoàn cảnh ra đời và phương pháp sáng tác? Nếu thay câu trên bằng:


“Dù rằng, Ngục trung nhật ký quả thực là một tập thơ độc đáo, nhưng cái độc đáo ở đây đơn giản chỉ vì nó là “thơ tù” chứ hoàn toàn không phải vì bút pháp cao cường; không phải vì nó chứa đựng cái chí cao cả của một người sẵn sàng xả thân vì nghệ thuật, cái ý tứ thâm sâu của một nhà tư tưởng,… tức những phẩm chất của của một nhân vật muốn “phất cờ khởi nghĩa” như Hồ Chí Minh…”

ta thấy cũng không sai.

Đông La trích lại trích dẫn thơ Hoàng Hưng “khơi khơi” như sau:


Cánh cửa sắt đen kịt

Đóng sầm sau lưng tôi

A! Địa ngục là đây

Ta bắt đầu kiếp quỷ

Những cái đầu trọc lốc

Những bộ xương đen đúa

Bốc lên mùi tử thi.

Bỗng ào ào náo loạn

Như một bể dầu sôi

Ta thấy ngay tác phong trích dẫn của Đông La khá thâm nho và định kiến. Nếu bài thơ của Hoàng Hưng được trích dẫn đầy đủ như sau:


Ta nung nấu nghìn đêm ác mộng

Đánh chìa vàng mở lối về em

Vào

Cánh cửa sắt đen kịt

Đóng sầm sau lưng tôi

Bỗng ào ào náo loạn

Như một bể dầu sôi.

Những cái đầu trọc lốc

Vươn theo từng bước đi

Những bộ xương đen đúa

Bốc lên mùi tử thi.

A! Địa ngục là đây

Ta bắt đầu kiếp quỉ

Sao dễ dàng quá nhỉ

Chỉ một bước một giây

Bước qua cánh cửa này

Kiếp người đã xa lắc.



Giật mình nghe tiếng quát:

– Cởi hết áo quần ra!

17/8/1982

đọc lên sẽ thấy khác: đặc biệt là câu cuối


Giật mình nghe tiếng quát:

– Cởi hết áo quần ra!

rất bất ngờ, súc tích, có tiếng vọng vì hầu như toàn bộ tinh hoa của bài thơ nằm ở đây, câu thơ vẽ ra một nét nhanh gọn nhưng rất sắc nét về cái gọi là cuộc sống trong trại cải tạo XHCN. Nhà phê bình Đông La đã cắt đầu chặt đuôi, loại bỏ câu cuối này một cách không thương tiếc, làm cho bài thơ trở nên rất tầm thường, mất hẳn độ hoàn chỉnh: Vậy việc Đông La cắt câu cuối đi có phải do vô tình không? Câu trả lời chắc chắn là không, và Đông La chắc hẳn là có chủ ý, chủ ý dung tục hoá, tầm thường hoá toàn bộ tác phẩm của người khác. Thông thường, khi trích dẫn người ta chỉ trích ra những câu hoặc điển hình thật hay, hoặc điển hình thật dở với dụng ý muốn khen hay chê, chứ không ai trích dẫn theo kiểu cắt đầu cắt đuôi, làm cho bài thơ trở nên què cụt rồi chê đó là bài thơ… dở như Đông La đã làm.

Phong cách trích dẫn của Đông La là “xấu che tốt khoe”, thiếu công bằng, như chính Đông La đã bộc bạch:


“Nhưng khi viết bài bảo vệ những điều mà tôi cho là “tốt” của chủ nghĩa Mác, thấy phía tư bản tuy “ghét” như vậy nhưng cũng có “những ý rất tốt về Mác”, thì tôi phải trích những ý tốt cho phù hợp, chứ không lẽ tôi lại trích những ý xấu hay sao?!”

Trần Đăng Khoa khi trích dẫn thơ Đồng Đức Bốn với dụng ý hạ thấp, đã chỉ trích độc có một câu


Ăn xong rồi biết đi đâu

Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương

để rồi vội vã đi đến kết luận là thơ Đồng Đức Bốn rỗng ruột, hời hợt, vàng mã, v.v…

Nếu ai đó trích Kiều bằng câu:



Sè sè nắm đất bên đường

Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

rồi kết luận là cụ Nguyễn viết thơ rất “dung tục”, liệu có nghe lọt tai, có đáng tin không?

Chính về cái chuyện cắt đầu cắt đuôi, kiểm duyệt và tự kiểm duyệt này mà đã có những nhà thơ như Chế Lan Viên đến cuối đời vẫn còn ân hận vì đã tự “thiến đi” những phẩm chất quý báu nhất của thơ chỉ để thơ được xuất bản:



Cái cần có trong thơ tôi đã giết đi rồi,

Giết một niềm đau, giết một tiếng cười

(“Trừ đi” – Di cảo)

Hoàng Hưng đã phải trả giá “ngàn đêm” lao lý để mà có được những vần thơ ra đời trong nỗi đau tuyệt vọng như thế, không nên và không thể dễ dàng đưa ra những nhận xét hời hợt về tác phẩm trước khi đọc nó một cách nghiêm túc. Muốn cảm thụ nó, hãy đặt mình vào hoàn cảnh của tác giả.

Với riêng tôi, những vần thơ của Hoàng Hưng có sức gợi cảm khá mãnh liệt, đó là những hình ảnh của chia lìa, tuyệt vọng, sụp đổ về mọi mặt của một kiếp nhân sinh: mất vợ mất con, mất gia đình, mất danh dự, mất tự do, mất quyền làm người, tóm lại là mất tất cả nếu anh bị đi tù không án. Chắc chắn Hoàng Hưng phải có sự động viên ghê gớm từ gia đình, đặc biệt là người vợ, để vượt qua được những ngày đen tối đó và trở về từ đáy mộ:


Nửa đêm mơ lạc mất con

Tiếng kêu thảng thốt lệ tuôn áo tù


…….

Thạch thùng tặc lưỡi trên cao

Phòng giam lạnh lẽo chìm vào cõi đêm

Nhà ta giờ đã lên đèn


Bữa cơm giờ chắc đã quen thiếu người

……

Đêm em về trắng toát thời thơ ấu

Đêm mẹ về chẳng nói lại đi

……

Tôi lại quay trở lại

Thế giới của tôi đây

Em chỉ là giấc mộng

Bên trên khối mộ dầy

Cảnh người vợ lên thăm chồng trong tù dù hoàn cảnh nào cũng gây xúc động sâu sắc. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn trong Chuyện kể năm 2000 đã có những trường đoạn rất tha thiết về cảnh vợ lên thăm nuôi chồng. Tác phẩm điện ảnh để đời Nhà ga dành cho hai người (ВОГЗАН ДЛЯ ДВОИХ) của Nga cũng là một ví dụ xuất sắc về cảnh thăm nuôi tù nhân ở Syberia. Cảnh người nghệ sĩ dương cầm xách vali đi vào trại tập trung trước con mắt bùi ngùi của người bạn gái trong phim đoạt giải Oscar Nghệ sĩ dương cầm (The Pianist) có thể gọi là cảnh sinh ly tử biệt, buồn không tả xiết:


Anh đi Phố Lu em ngủ với ai…

Một gian nhà lá một đứa con thơ…

(Lời bài hát “chế” thời chống Mỹ)



Đọc thơ Hoàng Hưng thấy thấm đượm một nỗi buồn, nỗi buồn của thân phận người Việt ly tán vì chiến tranh, thù hận, quan điểm, và đôi khi chẳng vì lý do gì cụ thể…

Buồn như cảnh liệt sĩ Thạc lên đường tòng quân (một đi không trở lại như tráng sĩ Kinh Kha, xanh cỏ hay đỏ ngực) và cũng buồn như những trang nhật ký Đặng Thùy Trâm mơ về một ngày nào đó khi đất nước yên bình, buồn như bài hát của Trịnh Công Sơn với điệp khúc khắc khoải hoài mong“khi đất nước tôi không còn chiến tranh, mọi người ra phố mời rao nụ cười”.

Buồn như nỗi buồn chiến tranh, buồn như cảnh nơi thôn trang vắng bóng trai làng, giấy báo tử rơi đầy trên mái giạ…

Buồn như cảnh người tù án cao su Phố Lu về đến cửa nhà trong đêm mưa gió thấy vợ đang ngủ cùng tình nhân trên giường, buồn như người du kích với bát cơm đạm bạc với Lưu Trọng Ninh thủ vai trong chuyển thể điện ảnh Bến không chồng của Dương Hướng.

Buồn như MC Việt Thảo viếng tìm những ngôi mộ cô đơn của Việt kiều tại Tân đảo (Nouvel Caledonie), đã rưng rưng trước những tài liệu thực dân Pháp còn lưu giữ về những người mộ phu “Chân Đăng” đầu tiên (xem DVD ca nhạc Vân Sơn với phần phóng sự của Việt Thảo) – dù sao anh chỉ là một cá nhân nhưng cũng đã làm được một việc mà nhiều cơ quan, đoàn thể, ban bộ, ngành dọc, ngành ngang của Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chưa làm được mà vẫn tuyên truyền rằng Việt kiều là “khúc ruột ngàn dặm”.

Buồn như anh vệ quốc quân vợ chết đuối trong “Màu tím hoa sim” và anh vệ quốc quân khác lại nhớ đôi mắt người Sơn Tây…

Tất cả những nỗi buồn tiểu tư sản nói trên đều không có chỗ đứng, và do vậy Đông La chỉ việc đơn giản phủ định tất cả.

*

Dường như sao chổi Đông La đang mất dần động năng khi đi vào bầu khí quyển, nó chẳng đủ sức tỏa sáng cho một bầu trời đêm quá đen tối, khi đến mặt đất nó sẽ hao mòn rồi tan biến và chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi…

© 2006 talawas

 
© talawas 2026